Ảnh hưởng của quá trình chần và sấy phun lên hàm lượng flavonoid, và hoạt tính bắt gốc tự do DPPH của bột măng tây xanh

JST: Engineering and Technology for Sustainable Development  
Vol. 1, Issue 1, March 2021, 062-066  
Ảnh hưởng của quá trình chần và sấy phun lên hàm lượng flavonoid, và  
hoạt tính bắt gốc tự do DPPH của bột măng tây xanh  
Effects of Blanching and Drying Process on Total Flavonoid Content and DPPH Radical Scavenging  
Activity of Green Asparagus Spray-Dried Powder  
Nguyễn Quốc Duy*, Nguyễn Thị Thùy Dung, Nguyễn Thị Vân Linh  
Khoa Kỹ thuật Thực phẩm và Môi trường, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam  
Tóm tắt  
Trong nghiên cứu này, quá trình chần và sấy phun được lựa chọn để khảo sát ảnh hưởng của các thông số  
quá trình lên hàm lượng flavonoid và hoạt tính chống oxy hóa DPPH của sản phẩm. Thí nghiệm khảo sát  
quá trình chần bố trí ảnh hưởng của một nhân tố với nhiệt độ chần (70 đến 90 °C) và thời gian chần (1 đến  
5 phút). Quá trình sấy phun bố trí toàn phần 2 nhân tố gồm nhiệt độ sấy và hàm lượng chất khô với 3 mức  
khảo sát. Điều kiện chần phù hợp là ở 85 °C trong 4 phút và điều kiện sấy được chọn ở 160 °C với nồng độ  
chất khô dịch sấy phun là 10%. Bột măng tây thành phẩm có hàm lượng flavonoid và hoạt tính bắt gốc tự do  
DPPH lần lượt là 26,97 mg RE/g và 53,64 µmol TE/g.  
Từ khóa: Quá trình chần, quá trình sấy phun, măng tây xanh, flavonoid, hoạt tính bắt gốc tự do DPPH.  
Abstract  
In this study, the effects of blanching and spray drying processes on total flavonoid contents and DPPH  
radical scavenging activity of green asparagus (Asparagus officinalis L.) spray-dried powder were  
investigated. Experiments were designed using one-factor-at-a-time in the blanching process and a three-  
level factorial with two factors, including drying temperature and the dry matter concentration in spray drying.  
The results showed that suitable blanching conditions were at the temperature of 85 °C in 4 minutes and  
chosen drying conditions were at the temperature of 160°C and 10% dry matter concentration using  
maltodextrin as a carrier. Total flavonoid contents and DPPH free radical scavenging activity of asparagus  
spray-dried powder were 26.97 mg RE/g and 53.64 µmol TE/g, respectively.  
Keywords: Blanching, spray drying, green asparagus, flavonoid content, DPPH radical scavenging activity.  
1. Giới thiệu*  
Măng tây (Asparagus officinalis L.) thuộc họ  
(tăng cường chuyển hóa, xây dựng tế bào). Ngoài  
việc được sử dụng như nguồn rau xanh hàng ngày,  
măng tây còn được đánh giá rất cao về những lợi ích  
đối với sức khỏe như chống ung thư, chống oxi hóa,  
giảm lipid máu và bảo vệ gan [1]. Acid coumaric,  
acid caffeic và acid ferulic là thành phần phenolic chủ  
yếu trong thân măng tây. Khi được bảo quản ở nhiệt  
độ 4°C, hàm lượng của các hợp chất trên tăng lên  
nhanh chóng. Protodioscin, một loại saponin, có mặt  
với hàm lượng lên đến 0,01% trong thân măng tây  
[2]. Ngoài ra, rutin là thành phần flavonoid đóng vai  
trò quan trọng trong hoạt tính chống oxy hóa của thân  
măng tây [3].  
Asparagaceae là một loại rau cao cấp, có hàm lượng  
dinh dưỡng khá cao, gồm 83% nước và 17% chất  
khô; trong đó có 2,2% đạm protein, 1,2% đường  
glucid, 0,6% cellulose. Măng tây có vị ngọt, dễ ăn và  
chứa nhiều thành phần có hoạt tính sinh học như  
saponin, phenolic, flavonoid (kaempferol, quercetin  
và rutin), oligosaccharide, xơ và carotenoid. Ngoài ra  
trong măng tây còn chứa nhiều vitamin và khoáng  
như vitamin A, B1, B2, C, E, Mg, P, Ca, Fe, acid folic  
và các acid amin như asparagine, arginine, tyrosine.  
Các dinh dưỡng có trong măng tây đều là những  
dưỡng chất cần thiết cho con người như chất xơ (hỗ  
trợ tiêu hóa, chống táo bón), protein (xây dựng cơ thể,  
tăng sức đề kháng), glucid, các chất chống oxy hóa  
như glutathione (bảo vệ da khỏi bị ảnh hưởng khi  
phơi nắng), nhiều vitamin nhóm B như B1, B2, B6 và  
acid folic (giúp tăng cường chuyển hóa, ổn định thần  
kinh và chống thiếu máu), vitamin C (tăng đề kháng,  
bảo vệ niêm mạc), vitamin A (hỗ trợ mắt và niêm  
mạc), các chất khoáng kali, magiê, canxi, sắt, kẽm  
Măng tây xanh được đánh giá là một nguyên  
liệu có giá trị dinh dưỡng cao và hoạt tính chống oxy  
hóa cao. Tuy nhiên hạn sử dụng của nguyên liệu tươi  
khá ngắn (dưới 7 ngày trong điều kiện bảo quản lạnh  
4°C) tạo động lực sản xuất sản phẩm để tăng hạn sử  
dụng và tạo giá trị gia tăng. Trong quá trình nghiên  
cứu sơ bộ về khả năng ứng dụng và tạo sản phẩm mới  
từ măng tây, bột măng tây hòa tan từ măng tây là sản  
phẩm có tiềm năng phát triển xét về tính khả thi và  
chất lượng sản phẩm. Sự vận chuyển dễ dàng và thời  
gian bảo quản dài là hai ưu điểm nổi bật so với sản  
phẩm nước ép từ măng tây. Tuy nhiên, trong quá  
trình sản xuất, một số quá trình đặc biệt là quá trình  
ISSN 2734-9381  
https://doi.org/10.51316/jst.148.etsd.2021.1.1.13  
Received: January 04, 2020; accepted: January 04, 2021  
62  
 
JST: Engineering and Technology for Sustainable Development  
Vol. 1, Issue 1, March 2021, 062-066  
sấy có thể gây ra những biến đổi không thuận nghịch  
làm chất mang cho quá trình sấy phun. Các hoá chất  
ảnh hưởng xấu lên cấu trúc và tính chất chức năng  
của sản phẩm. Điều này đòi hỏi việc nghiên cứu sâu  
hơn về những thay đổi cấu trúc và thành phần của  
nguyên liệu giúp sản phẩm thu được có chất lượng tốt  
và góp phần nâng cao sức khỏe cho người sử dụng.  
Sản phẩm này sẽ tạo tiền đề để phát triển những sản  
phẩm bổ sung dinh dưỡng khác từ măng tây bằng  
cách phối hợp với các nguyên liệu khác như nước  
uống dinh dưỡng, trà hòa tan, trà túi lọc, bột dinh  
dưỡng, viên bổ sung chất xơ, viên bổ sung chất chống  
oxi hóa...  
thường: nước cất, HCl, methanol, ethanol,  
CO Na, AlCl đạt tiêu chuẩn phân tích.  
CH3  
2
3
Thiết bị sử dụng trong đề tài nghiên cứu bao  
gồm: thiết bị ly tâm 80-2 (Wincom Co. Ltd., Hồ  
Nam, Trung Quốc), thiết bị cô quay chân không Hei-  
VAP Value (Heidolph Instruments, Schwabach,  
Đức), thiết bị sấy phun SD-06AG (Lab Plant Ltd.,  
Keison, Chelmsford, UK).  
2.3. Quy trình thu nhận bột măng tây sấy phun  
Măng tây sau khi được lựa chọn, rửa và chần  
trong điều kiện thích hợp sẽ được xay nghiền để thu  
dịch ép măng tây. Dịch măng tây tiếp tục được ly tâm  
với tốc độ 4000 rpm trong 5 phút. Dịch thu được sẽ  
được cô đặc chân không (nhiệt độ 55 °C, áp suất bơm  
chân không 0,6 bar) lên nồng độ chất khô 10% và tiếp  
tục được phối trộn với chất mang maltodextrin lên  
nồng độ chất khô thích hợp. Dịch măng tây phối trộn  
được sấy phun trong điều kiện thích hợp để thu nhận  
bột măng tây hòa tan.  
Sản phẩm tạo thành cần đánh giá hiệu quả sản  
xuất và thương mại. Do đó, nhóm nghiên cứu quyết  
định tiến hành xây dựng quy trình sản xuất bằng  
những phương pháp, kỹ thuật phù hợp với điều kiện  
kỹ thuật, kinh tế, sản xuất của Việt Nam. Kỹ thuật  
tách ẩm tạo sản phẩm bột hòa tan là sấy phun (một kỹ  
thuật hiện đại, dùng sấy dung dịch tạo bột hòa tan,  
thời gian sấy rất ngắn). Để tạo ra sản phẩm bột hòa  
tan công đoạn quan trọng là phải tách chiết chất tan  
trong nước từ măng tây ra khỏi nguyên liệu và tiến  
hành sấy từ dạng dung dịch để tạo ra bột hòa tan. Để  
sấy từ dạng dịch sang dạng bột có thể sử dụng công  
nghệ sấy trống hoặc sấy phun. Sấy trống là một  
phương pháp có tính kinh tế, thực hiện đơn giản tuy  
nhiên chất lượng sản phẩm không cao, tổn thất về mặt  
dinh dưỡng và hoạt tính chống oxy hóa lớn. Công  
nghệ sấy phun tuy đắt tiền hơn nhưng hiện nay được  
áp dụng rộng rãi trong sản xuất bột sữa và công nghệ  
này đảm bảo chất lượng sản phẩm cao.  
2.4. Khảo sát ảnh hưởng của quá trình chần  
Hai thông số được khảo sát trong quá trình chần  
là nhiệt độ chần và thời gian chần. Thí nghiệm được  
bố trí theo mô hình một nhân tố. Nhiệt độ chần được  
khảo sát ở các mức 70 °C, 75 °C, 80 °C, 85 °C,  
90 °C. Thời gian chần được khảo sát ở các mức 1, 2,  
3, 4, 5 phút. Mẫu sau khi chần được phân tích hàm  
lượng flavonoid và hoạt tính bắt gốc tự do DPPH.  
2.5. Khảo sát ảnh hưởng của quá trình sấy phun  
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá  
ảnh hưởng của quá trình chần và sấy phun lên hàm  
lượng flavonoid và hoạt tính bắt gốc tự do DPPH của  
bột măng tây hòa tan.  
Hai thông số được khảo sát trong quá trình chần  
là nhiệt độ sấy phun và nồng độ chất khô của dịch  
trước khi sấy phun. Thí nghiệm được bố trí theo mô  
hình hai nhân tố. Tốc độ sấy phun được cố định ở  
500 mL/h. Những khảo sát sơ bộ để lựa chọn nhiệt độ  
sấy phun cho thấy khi cố định tốc độ sấy phun ở giá  
trị 500 mL/h, nếu nhiệt độ thấp hơn 150 °C thì bột  
thành phẩm có độ ẩm cao và dính thành thiết bị.  
Ngược lại, khi nhiệt độ sấy phun cao hơn 170 °C thì  
hiện tượng cháy khét xảy ra làm giảm chất lượng bột.  
Do đó, nhiệt độ sấy phun được khảo sát ở các mức  
150 °C, 160 °C, 170 °C. Nồng độ chất khô được khảo  
sát ở các mức 10, 15, 20%. Mẫu sau khi chần được  
phân tích hàm lượng flavonoid và hoạt tính bắt gốc tự  
do DPPH.  
2. Vật liệu và Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Vật liệu nghiên cứu  
Măng tây được thu nhận vào tháng 3/2019 tại  
Đà Lạt, Lâm Đồng. Măng tây có phần thân thẳng,  
phần ngọn không bị uốn cong, cầm vào không mềm  
mà có cảm giác giòn cứng, có màu xanh tươi, không  
bị ngả vàng, ngọn măng có màu xanh đậm hoặc tím  
nhạt là những cây măng tây tươi, đạt chất lượng.  
Tránh chọn phần ngọn măng bị vàng úa. Măng tây để  
nguyên bó, không rửa mà cắm phần gốc vào thau  
nước lạnh trong 5 phút. Không để nước dính vào  
phần ngọn vì chúng sẽ dễ bị thối khi để lâu. Quấn  
măng tây vào giấy báo hoặc khăn ẩm sạch và bọc  
ngoài bằng lớp ni lông bọc thức ăn thật kín. Sau đó  
cho vào ngăn mát tủ lạnh ở nhiệt độ 20 °C.  
2.6. Chuẩn bị dịch phân tích  
Để phân tích mẫu măng tây sau khi chần, 15 g  
măng tây được xay với 40 mL ethanol 50%. Sau khi  
lọc thu dịch, phần bã tiếp tục được trích ly lần 2 trong  
40 mL ethanol 50%. Dịch lọc của hai lần trích ly  
được trộn và định mức lên 100 mL.  
2.2. Hóa chất – Thiết bị  
Hoá chất đặc biệt: rutin, DPPH (2, 2- diphenyl-  
Để chuẩn bị dịch phân tích mẫu bột măng tây,  
2 g bột được hòa tan với 100 mL nước cất. Sau khi  
1-picrylhydrazyl),  
Trolox  
(6-hydroxy-2,5,7,8-  
tetramethylchroman-2- carboxylic acid) được mua từ  
Sigma-Aldrich. Maltodextrin DE 12 được sử dụng  
63  
JST: Engineering and Technology for Sustainable Development  
Vol. 1, Issue 1, March 2021, 062-066  
hòa tan, hỗn hợp được lọc qua giấy lọc Whatman  
No.1 để thu dịch lọc trong suốt.  
liệu bã táo sau khi ép và thu được giá trị nhiệt độ  
chần tốt nhất giúp giữ lại hàm lượng polyphenol  
trong nguyên liệu là 80 °C [6].  
2.7. Các phương pháp phân tích  
Bảng 1. Ảnh hưởng của nhiệt độ chần (°C) lên hàm  
lượng flavonoid và hoạt tính bắt gốc tự do DPPH của  
mẫu măng tây.  
Hàm lượng flavonoid được xác định bằng  
phương pháp đo màu nhôm clorua được báo cáo bởi  
Gong và công sự (2012) và sử dụng rutin như một  
hợp chất chuẩn [4]. Rút 0,5 mL dung dịch phân tích  
vào ống nghiệm, thêm 0,15 mL NaNO2, đợi 5 phút.  
Tiếp theo cho 0,3 mL AlCl3, đợi 6 phút. Sau cùng cho  
1 mL NaOH và 2 mL nước cất. Hỗn hợp được lắc đều  
và đo mật độ quang ở bước sóng 510 nm. Hàm lượng  
flavonoid trong mẫu được trình bày theo đơn vị mg  
đương lượng rutin/g mẫu (mg RE/g). Đường chuẩn  
flavonoid sử dụng chất chuẩn rutin thu được như sau:  
OD = 1,306C + 0,070 (R2 = 0.999); với OD là độ hấp  
thu của mẫu và C là nồng độ rutin (g/L).  
DPPH  
Flavonoid  
Nhiệt độ  
(°C)  
(mg RE/g)  
(µmol TE/g)  
70  
75  
80  
85  
90  
0,604 (0,021)a  
0,604 (0,003)a  
0,713 (0,040)b  
0,723 (0,035)b  
0,732 (0,035)b  
3,955 (0,077)a  
4,838 (0,813)b  
6,660 (0,267)c  
7,984 (0,362)c  
8,446 (1,532)d  
Lưu ý: Kết quả trình bày dưới dạng giá trị trung bình (sai  
số) sau 3 lần lặp, các ký hiệu chữ giống nhau thể hiện giá  
trị trung bình không khác nhau có nghĩa khi phân tích  
ANOVA (p < 0,05)  
Hoạt tính bắt gốc tự do DPPH được thực hiện  
theo Braca và cộng sự (2001) [5]. Rút 0,15 mL dung  
dịch phân tích cho vào 2,85 mL dung dịch DPPH.  
Hỗn hợp được lắc đều và để ở nhiệt độ phòng trong  
bóng tối. Đo độ hấp thu sau 30 phút ở bước sóng  
515 nm, mỗi mẫu được đo 3 lần lấy giá trị trung bình.  
Hoạt tính chống oxy hóa DPPH trong mẫu được trình  
bày theo đơn vị µmol đương lượng Trolox/g mẫu  
(µmol TE/g). Đường chuẩn DPPH sử dụng chất  
chuẩn Trolox thu được như sau: %I = 1,306C + 0,070  
(R2 = 0.999); với %I là khả năng ức chế gốc tự do  
DPPH (%I = [1 – (OD mẫu/OD mẫu đối chứng)]  
×100) và C là nồng độ Trolox (g/L).  
DPPH là một gốc tự do bền ở nhiệt độ phòng tạo  
thành màu tím trong dung dịch methanol. Sự giảm  
nồng độ DPPH được kiểm soát bằng sự giảm độ hấp  
thu của mẫu ở bước sóng 517 nm. Sự giảm này là kết  
quả của sự có mặt của các chất chống oxy hóa làm  
giảm hoặc mất màu dung dịch DPPH. Phương pháp  
DPPH là một phương pháp đơn giản và nhanh chóng  
để đánh giá hoạt tính chống oxy hóa của mẫu [7]. Kết  
quả phân tích cho thấy nhiệt độ chần cao làm tăng  
đáng kể hoạt tính chống oxi hoá DPPH của mẫu  
măng tây. Tác giả Chantaro và cộng sự (2008) cho  
rằng có một mối tương quan giữa sự tổn thất hàm  
lượng phenolic và hoạt tính chống oxy hoá của  
nguyên liệu vỏ cà rốt [8]. Nhiệt độ chần 85 °C được  
lựa chọn làm thông số thích hợp cho quá trình chần  
măng tây.  
2.8. Xử lý số liệu  
Dữ liệu thực nghiệm được phân tích bằng phần  
mềm SPSS 15 (SPSS Inc. Chicago, U.S.A) sử dụng  
những kỹ thuật thống kê cơ bản. Phân tích phương sai  
một nhân tố (one-way ANOVA) được áp dụng để xác  
định sự khác nhau giữa các chế độ xử lý mẫu và  
Tukey’s Multiple Range Test được áp dụng để xác  
định sự khác biệt có ý nghĩa giữa các giá trị trung  
bình ở mức ý nghĩa 5%. Tất cả thí nghiệm và những  
chỉ tiêu phân tích được lặp lại 3 lần.  
3.2. Ảnh hưởng của thời gian chần  
Bảng 2 trình bày sự thay đổi của hàm lượng  
flavonoid tổng và hoạt tính bắt gốc tự do DPPH của  
mẫu măng tây ở những thời gian chần khác nhau. Kết  
quả cho thấy, hàm lượng flavonoid tổng của mẫu  
măng tây được chần trong khoảng thời gian này nằm  
trong khoảng 0,622–0,667 mg RE/g. Sian và Ishak  
(1991) tiến hành khảo sát thời gian chần đu đủ ở  
70°C trong thời gian 4, 6, 8, 10, 12 phút thì kết quả là  
thời gian chần 4 phút hàm lượng anthocyanin thu  
được 39,8 μg/g chất khô là tốt nhất. Các khoảng thời  
gian còn lại có xu hướng giảm [9]. Ngoài ra, khi được  
chần trong điều kiện nhiệt độ và thời gian thích hợp,  
các hợp chất flavonoid trong măng tây cũng được cải  
thiện tính ổn định trong các quá trình xử lý nhiệt tiếp  
theo, cụ thể là quá trình sấy phun. Tuy nhiên theo tác  
giả Jaiswal và cộng sự (2012), thời gian chần trên  
6 phút không có ảnh hưởng đáng kể lên hàm lượng  
flavonoid của nguyên liệu bắp cải [10].  
3. Kết quả và bàn luận  
3.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ chần  
Sự thay đổi hàm lượng flavonoid và hoạt tính  
chống oxy hóa DPPH trong mẫu măng tây theo nhiệt  
độ chần được trình bày ở bảng 1. Khi tăng nhiệt độ  
chần từ 70°C lên 90°C và cố định thời gian chần là  
2 phút, hàm lượng flavonoid tổng không có sự thay  
đổi đáng kể trong khoảng nhiệt độ chần 70-75 °C.  
Tuy nhiên, giá trị này lại tăng và đạt cực đại khi măng  
tây được chần ở nhiệt độ 80 °C (0,713 ± 0,040 mg  
RE/g) và có xu hướng ổn định khi tiếp tục tăng nhiệt  
độ chần lên tới 90 °C. Flavonoid là một thành phần  
thuộc nhóm polyphenol, do vậy sự thay đổi hàm  
lượng flavonoid có liên quan đến sự biến đổi của  
thành phần polyphenol trong vật liệu nghiên cứu. Tác  
giả Heras-Ramírez (2012) đã tiến hành chần nguyên  
64  
JST: Engineering and Technology for Sustainable Development  
Vol. 1, Issue 1, March 2021, 062-066  
Bảng 2. Ảnh hưởng của thời gian chần (phút) lên hàm  
lượng flavonoid và hoạt tính bắt gốc tự do DPPH của  
mẫu măng tây.  
dịch trước sấy phun là hai thông số quan trọng nhất  
ảnh hưởng đáng kể lên các chỉ tiêu hóa học cũng như  
vật lý của sản phẩm bột sấy phun thu được.  
Khi tăng nhiệt độ sấy phun trong khoảng  
150 - 160 °C, hàm lượng flavonoid tổng trong hai  
mẫu có hàm lượng chất khô 10% và 15% đạt cực đại  
ở nhiệt độ 160 °C trong khi đối với mẫu có hàm  
lượng chất khô 20%, sự thay đổi hàm lượng flavonoid  
không khác biệt ý nghĩa. Ngoài ra, khi tăng hàm  
lượng maltodextrin sử dụng, hàm lượng flavonoid  
trong bột măng tây đều có xu hướng giảm đáng kể.  
DPPH  
Thời gian  
(phút)  
Flavonoid  
(mg RE/g)  
(µmol TE/g)  
1
2
3
4
5
0,600 (0,022)a  
0,622 (0,024)ab  
0,653 (0,027)b  
0,655 (0,011)b  
0,667 (0,030)b  
7,077 (0,122)a  
8,520 (0,689)b  
10,393 (0,288)c  
8,644 (0,429)b  
6,803 (0,266)a  
Bảng 4. Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun (°C) và  
hàm lượng chất khô của dịch trước sấy phun (%) lên  
hoạt tính bắt gốc tự do DPPH (µmol TE/g) của bột  
măng tây.  
Lưu ý: Kết quả trình bày dưới dạng giá trị trung bình (sai  
số) sau 3 lần lặp, các ký hiệu chữ giống nhau thể hiện giá  
trị trung bình không khác nhau có nghĩa khi phân tích  
ANOVA (p < 0,05)  
Hàm lượng chất khô (%)  
T
Hoạt tính bắt gốc tự do DPPH có xu hướng tăng  
đáng kể khi tăng thời gian chần, đạt cực đại tại thời  
gian chần 3 phút (10,393 ± 0,288 µmol TE/g) và giảm  
đáng kể khi tiếp tục kéo dài thời gian chần. Theo tác  
giả Jaiswal và cộng sự (2012), ở nhiệt độ chần trong  
khoảng 80 °C – 90 °C, hoạt tính bắt gốc tự do DPPH  
giảm 60% - 65% khi thời gian chần vượt quá 6 phút.  
[10]. Tuy nhiên, tốc độ giảm hoạt tính lại giảm dần  
khi thời gian chần tăng lên và cuối cùng không thay  
đổi. Thời gian chần 4 phút được lựa chọn làm thông  
số thích hợp cho quá trình chần măng tây.  
(°C)  
10  
15  
20  
51,468  
45,736  
21,938  
150  
160  
170  
(0,806)ab  
(0,370)c  
(0,391)e  
53,637  
49,815  
21,170  
(1,526)a  
(0,174)bd  
(0,140)e  
52,958  
47,922  
4,232  
(1,914)ab  
(1,666)cd  
(0,157)f  
Lưu ý: Kết quả trình bày dưới dạng giá trị trung bình (sai  
số) sau 3 lần lặp, các ký hiệu chữ giống nhau thể hiện giá  
trị trung bình không khác nhau có nghĩa khi phân tích  
ANOVA (p < 0,05)  
Bảng 3. Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun (°C) và  
hàm lượng chất khô của dịch trước sấy phun (%) lên  
hàm lượng flavonoid (mg RE/g) của bột măng tây.  
Sự tăng hàm lượng flavonoid khi tăng nhiệt độ  
o
sấy phun trong khoảng 150 - 160 C có thể là do sự  
Hàm lượng chất khô (%)  
trùng hợp và tổng hợp các hợp chất polyphenol mới  
góp phần làm tăng hàm lượng các hợp chất này trong  
kết quả phân tích [12]. Hàm lượng flavonoid tổng của  
bột măng tây giảm khi tăng nồng độ maltodextrin  
trong dịch măng tây trước khi sấy phun có thể là do  
hiệu ứng về nồng độ của maltodextrin. Do  
maltodextrin là chất mang trơ nên việc sử dụng với  
hàm lượng cao dẫn đến sự gia tăng hàm lượng  
maltodextrin trong sản phẩm làm giảm hàm lượng các  
hợp chất khác. Kết quả tương tự cũng được đề cập  
trong nghiên cứu của tác giả Mishra và cộng sự  
(2014) [13]. Trong nghiên cứu này, khi tăng nồng độ  
maltodextrin từ 5% lên 9%, hàm lượng polyphenol  
tổng trong bột trái amla (Emblica officinalis) giảm  
đáng kể.  
Nhiệt  
độ (°C)  
10  
15  
20  
21,880  
23,593  
11,767  
150  
(0,253)a  
(0,166)d  
(0,153)e  
26,974  
23,273  
11,480  
160  
(0,194)b  
(0,162)d  
(0,167)e  
24,573  
21,558  
11,360  
170  
(0,436)c  
(0,181)a  
(0,098)e  
Lưu ý: Kết quả trình bày dưới dạng giá trị trung bình (sai  
số) sau 3 lần lặp, các ký hiệu chữ giống nhau thể hiện giá  
trị trung bình không khác nhau có nghĩa khi phân tích  
ANOVA (p < 0,05)  
3.4. Ảnh hưởng của quá trình sấy phun  
Quá trình sấy phun được sử dụng phổ biến để vi  
bao các thành phần mẫn cảm với sự phân hủy bởi các  
tác nhân bên ngoài. Trong số các polymer được sử  
dụng làm chất mang, maltodextrin là một trong những  
chất mang quan trọng và được sử dụng phổ biến nhất  
vì nó tạo thành dung dịch có độ nhớt thấp ở nồng độ  
sử dụng cao – một đặc tính rất quan trọng trong quá  
trình sấy phun. Ngoài ra, maltodextrin còn có ưu  
điểm giá thành rẻ và có vị dễ chịu [11]. Trong quá  
trình sấy phun, nhiệt độ sấy phun và hàm lượng chất  
khô hay nói cách khác là hàm lượng maltodextrin của  
Sự có mặt của các hợp chất sinh học trong  
nguyên liệu đem lại khả năng chống oxy hóa cho sản  
phẩm bột măng tây, cụ thể là khả năng bắt gốc tự do.  
Như vậy, mẫu có hàm lượng flavonoid cao có hoạt  
tính chống oxy hóa cao [14]. Nhiệt độ sấy phun và  
hàm lượng maltodextrin trong dịch trước sấy phun  
ảnh hưởng đáng kể lên hoạt tính bắt gốc tự do DPPH  
của bột măng tây. Kết quả tương tự được trình bày  
trong nghiên cứu về bột gấc sấy phun của tác giả  
Tuyen và cộng sự (2010) [15]. Kết quả này có thể  
được giải thích bởi sự tiếp xúc với nhiệt độ cao tác  
65  
JST: Engineering and Technology for Sustainable Development  
Vol. 1, Issue 1, March 2021, 062-066  
components from defatted marigold (Tagetes erecta  
L.) residue using response surface methodology, Food  
Bioprod. Process., vol. 90, no. 1, pp. 9–16, 2012.  
động bất lợi lên cấu trúc của các hợp chất hóa học có  
hoạt tính sinh học làm phá hủy hoặc biến đổi chúng  
thành các dạng khác có hoạt tính chống oxy hóa thấp  
hơn. Hàm lượng flavonoid không bao gồm tất cả các  
chất chống oxy hóa có trong nguyên liệu [16]. Do đó,  
xu hướng thay đổi của hoạt tính chống oxy hóa DPPH  
không hoàn toàn tuân theo chiều hướng thay đổi của  
hàm lượng flavonoid. Ngoài ra, do maltodextrin  
không có hoạt tính chống oxy hóa nên việc tăng hàm  
lượng maltodextrin trong dịch trích trước khi sấy  
phun dẫn đến kết quả làm khả năng bắt gốc tự do của  
sản phẩm. Kết quả này tương tự nghiên cứu của tác  
giả Mishra và cộng sự (2014) khi tác giả khảo sát quá  
trình sấy phun bột trái amla (Emblica officinalis)  
[13]. Dựa trên những số liệu thu được, nhiệt độ sấy  
phun 160 °C và hàm lượng chất khô 10% được chọn  
là những thông số phù hợp cho quá trình sấy phun  
dịch măng tây. Bột măng tây thành phẩm có hàm  
lượng flavonoid và hoạt tính bắt gốc tự do DPPH lần  
lượt là 26,97 mg RE/g và 53,64 µmol TE/g. Ngoài ra,  
độ ẩm của bột thành phẩm là 6,93%.  
[5] A. Braca, N. De Tommasi, L. Di Bari, C. Pizza, M.  
Politi, and I. Morelli, Antioxidant principles from  
Bauhinia tarapotensis, J. Nat. Prod., vol. 64, no. 7, pp.  
892–895, 2001.  
[6] M. E. Heras-Ramírez et al., Effect of blanching and  
drying temperature on polyphenolic compound  
stability and antioxidant capacity of apple pomace,  
Food Bioprocess Technol., vol. 5, no. 6, pp. 2201–  
2210, 2012.  
[7] C. G. da Silva et al., Evaluation of antioxidant  
activity of Brazilian plants, Pharmacol. Res., vol. 52,  
no. 3, pp. 229–233, 2005.  
[8] P. Chantaro, S. Devahastin, and N. Chiewchan,  
Production of antioxidant high dietary fiber powder  
from carrot peels, LWT - Food Sci. Technol., 2008.  
[9] N. K. Sian and S. Ishak, Carotenoid and anthocyanin  
contents of papaya and pineapple: Influence of  
blanching and predrying treatments, Food Chem., vol.  
39, no. 2, pp. 175–185, 1991.  
4. Kết luận  
[10] A. K. Jaiswal, S. Gupta, and N. Abu-Ghannam,  
Kinetic evaluation of colour, texture, polyphenols and  
antioxidant capacity of Irish York cabbage after  
blanching treatment, Food Chem., vol. 131, no. 1, pp.  
63–72, 2012.  
Kết quả thu được cho thấy khi chần măng tây ở  
điều kiện nhiệt độ chần 85 °C và thời gian chần 4  
phút, măng tây tươi lưu giữ được hàm lượng các hợp  
chất quan trọng như flavonoid và hoạt tính chống oxy  
hóa của chúng. Điều kiện sấy phun bao gồm hai  
thông số công nghệ là nhiệt độ sấy phun và hàm  
lượng chất khô (hay nói cách khác là hàm lượng  
maltodextrin sử dụng) được khảo sát với mục tiêu thu  
được bột măng tây có hàm lượng flavonoid và hoạt  
tính bắt gốc tự do DPPH cao nhất. Điều kiện sấy  
phun thỏa mãn những mục tiêu trên là nhiệt độ sấy  
phun 160 °C và nồng độ chất khô của dịch trước sấy  
phun là 10%.  
[11] G. A. Rocha, M. A. Trindade, F. M. Netto, and C. S.  
Fávaro-Trindade, Microcapsules of  
a
casein  
hydrolysate: production, characterization, and  
application in protein bars, Food Sci. Technol. Int.,  
vol. 15, no. 4, pp. 407–413, 2009.  
[12] R. Santiago-Adame et al., Spray drying-  
microencapsulation  
of  
cinnamon  
infusions  
(Cinnamomum zeylanicum) with maltodextrin, LWT-  
Food Sci. Technol., vol. 64, no. 2, pp. 571–577, 2015.  
Lời cảm ơn  
[13] P. Mishra, S. Mishra, and C. L. Mahanta, Effect of  
maltodextrin concentration and inlet temperature  
during spray drying on physicochemical and  
antioxidant properties of amla (Emblica officinalis)  
juice powder, Food Bioprod. Process., vol. 92, no. 3,  
pp. 252–258, 2014.  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển  
khoa học và công nghệ NTTU trong đề tài mã số  
2018.01.83  
Tài liệu tham khảo  
[14] L. Medina-Torres et al., Microencapsulation by spray  
drying of laurel infusions (Litsea glaucescens) with  
maltodextrin, Ind. Crops Prod., vol. 90, pp. 1–8,  
2016.  
[1] W. Zhang, W. Wu, Q. Wang, Y. Chen, and G. Yue,  
The Juice of Asparagus By‐Product Exerts  
Hypoglycemic Activity in Streptozotocin‐Induced  
Diabetic Rats, J. Food Biochem., vol. 38, no. 5, pp.  
509–517, 2014.  
[15] C. K. Tuyen, M. H. Nguyen, and P. D. Roach, Effects  
of spray drying conditions on the physicochemical  
and antioxidant properties of the Gac (Momordica  
cochinchinensis) fruit aril powder, J. Food Eng., vol.  
98, no. 3, pp. 385–392, 2010.  
[2] P. Bhattacharjee and R. S. Singhal, Asparagus,  
Broccoli, and Cauliflower: Production, Quality, and  
Processing, in Handbook of Vegetables and  
Vegetable Processing, 2011.  
[16] A. Djeridane, M. Yousfi, B. Nadjemi, D.  
Boutassouna, P. Stocker, and N. Vidal, Antioxidant  
activity of some Algerian medicinal plants extracts  
containing phenolic compounds, Food Chem., vol.  
97, no. 4, pp. 654–660, 2006.  
[3] T. Tsushida, M. Suzuki, and M. Kurogi, Evaluation of  
antioxidant activity of vegetable extracts and  
determination of some active compounds, Nippon  
Shokuhin Kogyo Gakkaishi, vol. 41, no. 9, pp. 611–  
618, 1994.  
[4] Y. Gong, Z. Hou, Y. Gao, Y. Xue, X. Liu, and G. Liu,  
Optimization of extraction parameters of bioactive  
66  
JST: Engineering and Technology for Sustainable Development  
Vol. 1, Issue 1, March 2021, 062-066  
67  
pdf 6 trang yennguyen 15560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của quá trình chần và sấy phun lên hàm lượng flavonoid, và hoạt tính bắt gốc tự do DPPH của bột măng tây xanh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_qua_trinh_chan_va_say_phun_len_ham_luong_flavo.pdf