Một số đặc điểm cấu trúc theo nhóm gỗ và cấp kính của rừng lá rộng thường xanh tại Vườn Quốc gia Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc

Lâm học  
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC THEO NHÓM GỖ VÀ CẤP KÍNH CỦA  
RỪNG LÁ RỘNG THƯỜNG XANH TẠI VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO  
TỈNH VĨNH PHÚC  
Phạm Thị Hạnh1, Nguyễn Thị Yến2, Phạm Tiến Dũng3  
1,2Trường Đại học Lâm nghiệp  
3Viện Khoa học Lâm nghiệp  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu được thực hiện tại Vườn quốc gia Tam Đảo - huyện Tam Đảo - tỉnh Vĩnh Phúc, dựa vào các tiêu  
chí phân chia rừng theo thông tư 34/2009/TT-BNN&PTNT đã phân chia rừng lá rộng thường xanh ở đây thành  
4 trạng thái rừng: rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh rất giàu, rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng  
thường xanh giàu, rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh trung bình và rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng  
thường xanh phục hồi. Tiến hành lập ô tiêu chuẩn điều tra trên các trạng thái thu được kết quả về cấu trúc theo  
nhóm gỗ và cấp kính: số lượng cây theo cấp kính có sự biến đổi rõ rệt. Đối với cấp kính nhỏ từ 6 - 15 cm, mật  
độ lớn nhất tại trạng thái rừng phục hồi và thấp nhất tại trạng thái rừng rất giàu; đối với các cấp kính lớn hơn sự  
biến đổi mật độ hoàn toàn ngược lại. Khi phân chia theo nhóm gỗ, kết quả cho thấy tổng số cây đứng tập trung  
lớn nhất ở nhóm gỗ 8 đối với rừng phục hồi và tập trung lớn nhất ở nhóm gỗ 5, 6 đối với 3 trạng thái rừng còn  
lại. Cũng tương tự như vậy với tổng tiết diện ngang và trữ lượng, trừ trạng thái rừng rất giàu có trữ lượng ở  
nhóm 3, 4 khá lớn còn lại các trạng thái khác có thể thấy các giá trị này đều rất thấp ở nhóm các nhóm gỗ 1, 2,  
3, 4. Kết quả của nghiên cứu này là một trong những cơ sở quan trọng cho việc đề xuất các phương án bảo tồn  
và phát triển rừng bền vững tại Vườn Quốc gia Tam Đảo.  
Từ khóa: Cấp kính, nhóm gỗ, rừng lá rộng thường xanh, Tam Đảo.  
Huyện Tam Đảo nằm ở phía Đông Bắc tỉnh  
Vĩnh Phúc là khu vực có diện tích rừng lớn  
nhất của Vườn Quốc gia Tam Đảo. Rừng tự  
nhiên thuộc huyện Tam Đảo có những nét rất  
đặc trưng của hệ thực vật rừng nhiệt đới ẩm.  
Diện tích kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm  
nhiệt đới nguyên sinh còn lại rất ít, đa phần đã  
bị tàn phá làm cấu trúc tổ thành loài và tầng  
thứ thay đổi rất nhiều. Quần hệ thực vật kiểu  
rừng này chủ yếu gồm nhiều tầng, tán kín rậm  
với những loài cây lá rộng thường xanh hợp  
thành. Thành phần loài tại khu vực chủ yếu là  
những cây thuộc nhóm gỗ 5, 6, 7, những loài  
thuộc nhóm gỗ quý hiếm nhóm 1, 2 còn lại rất  
ít. Mặt khác, thành phần loài cây có sự chênh  
lệch giữa các trạng thái khác nhau và giữa các  
cấp kính trong cùng một trạng thái. Do đó,  
nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc theo  
nhóm gỗ và cấp kính của rừng lá rộng thường  
xanh tại huyện Tam Đảo là cơ sở khoa học cần  
thiết để đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh  
nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi rừng.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Tam Đảo là một trong những Vườn Quốc  
gia có mức độ đa dạng sinh học cao tại Việt  
Nam. Khu vực nằm trọn trong dãy núi Tam  
Đảo với khoảng 20 đỉnh có độ cao trên 1000 m  
so với mặt nước biển tạo ra 2 sườn Đông, Tây  
rõ rệt với các kiểu khí hậu khác nhau đã tạo  
nên một vườn Quốc gia Tam Đảo đa dạng cả  
về trạng thái và loài. Theo thống kê, hệ thực  
vật tại Tam Đảo rất phong phú với trên 1400  
loài, thuộc 741 chi trong 219 họ của 6 ngành  
thực vật, phân bố trên 4 kiểu rừng chính là  
rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, á  
nhiệt đới, rừng lùn và trảng cỏ (Nguyễn Xuân  
Đặng và cộng sự, 2009). Vườn quốc gia Tam  
Đảo có tổng diện tích khoảng 36.883 ha, trải  
rộng trên 3 tỉnh: Vĩnh Phúc (Tam Đảo, Bình  
Xuyên), Thái Nguyên (Đại Từ) và Tuyên  
Quang (Sơn Dương). Trong đó, trên 40% diện  
tích rừng tập trung tại tỉnh Vĩnh Phúc. Đây  
cũng là khu vực có mức độ đa dạng loài cao  
với nhiều loài nằm trong sách đỏ.  
29  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
Lâm học  
bản đồ và số liệu điều tra hiện trạng của Vườn  
Quốc gia Tam Đảo năm 2015.  
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Địa điểm nghiên cứu  
- Địa điểm nghiên cứu: 5 xã, thị trấn có  
rừng thuộc Vườn Quốc gia Tam Đảo, bao  
gồm: Đại Đình, Đạo Trù, Hồ Sơn, thị trấn Tam  
Đảo, Tam Quan. Khu vực nằm trên sườn Đông  
của dãy núi Tam Đảo, với kiểu khí hậu nhiệt  
đới mưa mùa đặc trưng.  
* Phương pháp ngoại nghiệp  
Bài báo sử dụng 40 ô tiêu chuẩn (OTC) tại 4  
trạng thái rừng lá rộng thường xanh tại khu  
vực, bao gồm: rừng rất giàu (10 OTC), rừng  
giàu (10 OTC), rừng trung bình (10 OTC) và  
rừng phục hồi (10 OTC). Các ô tiêu chuẩn  
được phân bố ngẫu nhiên tại khu vực dựa vào  
bản đồ hiện trạng rừng và phần mềm ArcGIS.  
Tọa độ cụ thể từng ô đo đếm sẽ được xuất trực  
tiếp từ bản đồ trên máy tính và chuyển vào  
máy định vị GPS, làm cơ sở cho việc xác định  
vị trí và điều tra thu thập tại thực địa. Thống kê  
phân bố số OTC theo địa điểm và trạng thái tại  
khu vực tại bảng 2.1.  
- Giới hạn nghiên cứu: Bài báo chỉ tập trung  
nghiên cứu các trạng thái rừng lá rộng thường  
xanh, bao gồm: rừng gỗ tự nhiên núi đất lá  
rộng thường xanh rất giàu, rừng giàu, rừng  
trung bình và rừng phục hồi.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
* Phương pháp kế thừa: Kế thừa số liệu điều  
tra, kiểm kê rừng năm 2015 của tỉnh Vĩnh Phúc,  
Bảng 2.1. Số OTC theo địa điểm và trạng thái tại khu vực nghiên cứu  
Trạng thái rừng  
Rừng gỗ tự  
Rừng gỗ tự  
Rừng gỗ tự  
Rừng gỗ tự  
TT  
Địa điểm  
Tổng  
nhiên núi  
nhiên núi  
nhiên núi  
nhiên núi  
đất LRTX  
đất LRTX  
đất LRTX  
đất LRTX  
rất giàu  
giàu  
7
TB  
4
phục hồi  
1
2
3
4
5
Đại Đình  
7
3
2
4
20  
13  
1
Đạo Trù  
Hồ Sơn  
3
3
0
0
0
1
TT. Tam Đảo  
Tam Quan  
Tổng  
0
0
0
1
1
0
0
3
2
5
10  
10  
10  
10  
40  
Ô tiêu chuẩn điều tra trữ lượng rừng có hình  
chữ nhật diện tích 1.000 m2, kích thước 33,3 m  
x 30 m. Trong mỗi ô tiêu chuẩn có 4 ô phụ  
kích thước 5 m x 5 m ở các góc ô tiêu chuẩn.  
Các ô tiêu chuẩn được bố trí sao cho chiều dài  
ô theo hướng đường đồng mức, chiều rộng ô  
theo hướng vuông góc với đường đồng mức.  
Trong OTC xác định một số chỉ tiêu: tên cây,  
đường kính (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn).  
Trong mỗi ô tiêu chuẩn có 4 ô phụ kích thước  
5 m x 5 m ở các góc ô tiêu chuẩn. Trong các ô  
phụ tiến hành điều tra các cây tái sinh có  
đường kính dưới 6 cm, bao gồm: tên cây, chiều  
cao vút ngọn.  
* Phương pháp xử lý số liệu  
- Sử dụng phần mềm ArcGis 10.1 để xác  
định vị trí điều tra của các ô tiêu chuẩn trên  
thực địa, phần mềm Excel 2016 và SPSS 20.0  
để xử lý các số liệu.  
- Các chỉ tiêu trữ lượng, tổng tiết diện ngang  
được xác định theo các phương pháp truyền  
thống. Các kết quả phân tích số liệu dựa trên  
hướng dẫn xây dựng phương án Quản lý rừng  
bền vững kèm theo văn bản số 778/TCLN-  
SDR ngày 13/6/2012 của Tổng cục Lâm  
nghiệp.  
- Phương pháp phân loại các trạng thái rừng  
theo thông tư số 34/2009/TT-BNN&PTNT  
30  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
Lâm học  
tạm thời các loại gỗ sử dụng trong cả nước.  
ngày 10/6/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát  
triển nông thôn về tiêu chí xác định và phân  
loại rừng.  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, THẢO LUẬN  
3.1. Thành phần loài cây tại khu vực  
- Phân loại nhóm gỗ ở Việt Nam theo Quyết  
định số 2198/CNR-BLN ngày 26/11/1977 của  
Bộ Lâm nghiệp về ban hành bảng phân loại  
Kết quả nghiên cứu mật độ và thành phần  
loài cây tại khu vực được tổng hợp tại bảng 3.1.  
Bảng 3.1. Thành phần loài cây theo cấp kính  
6 cm < D1.3 15 cm < D1.3 30 cm < D1.3  
15 cm 30 cm 45 cm  
Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh rất giàu (TXRG)  
<
<
<
Chỉ tiêu  
Tổng  
D1.3 > 45 cm  
Mật độ (cây/ha)  
Số loài (loài/ha)  
837  
93  
331  
62  
349  
66  
114  
36  
43  
21  
Kháo, Dẻ,  
Ngát, Trâm,  
Thừng mực,  
Cứt ngựa,  
Thành ngạnh,  
Re, Thẩu tấu,  
Côm  
Kháo, Trâm,  
Dẻ, Ngát, Re,  
Cứt ngựa,  
Thừng mực,  
Lọng bàng,  
Nhọc, Sảng  
Kháo, Dẻ, Ngát, Dẻ, Kháo, Cứt Dẻ, Vàng anh,  
Thừng mực,  
Thẩu tấu, Thành  
ngạnh, Thanh  
thất, Côm,  
ngựa, Sp1,  
Thành ngạnh,  
Ngát, Re, Sung,  
Kháo, Chẹo,  
Trám, Ngát,  
Nhội, Máu  
Số loài ưu thế  
(10 loài)  
Dung giấy, Côm chó, Gội tía,  
Sung, Trâm tía  
tầng, Nhội  
Ba soi  
Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh giàu (TXG)  
Mật độ (cây/ha)  
Số loài (loài/ha)  
765  
84  
371  
66  
273  
59  
90  
33  
31  
14  
Dẻ, Kháo,  
Vàng anh,  
Trường sâng,  
Sâng, Xoan  
Kháo, Dẻ,  
Dung, Thừng  
mực, Ngát,  
Re, Côm, Cứt Côm, Cứt ngựa, Thanh thất, Re,  
ngựa, Trâm,  
Nhội  
Kháo, Dẻ,  
Thừng mực,  
Ngát, Dung, Re,  
Kháo, Dẻ, Ngát,  
Thành ngạnh,  
Dung, Trâm,  
Kháo, Dẻ, Gội,  
Côm, Dung,  
Vàng anh,  
Số loài ưu thế  
(10 loài)  
Sung, Cứt ngựa, đào, Cứt ngựa,  
Bứa, Trường  
Vàng anh, Thị  
rừng  
Ngát, Thị rừng  
Sp1, Trường  
sâng, Ngát  
sâng  
Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh Trung bình (TXB)  
Mật độ (cây/ha)  
Số loài (loài/ha)  
1105  
112  
772  
95  
281  
71  
42  
24  
10  
9
Kháo, Dẻ,  
Ngát, Sung,  
Re, Máu  
chó,Trám,  
Chẹo, Trâm  
tía, Thừng  
mực  
Gội, Dẻ, Xoan  
đào, Côm,  
Kháo, Ngát,Dẻ,  
Sung, Re, Máu  
chó, Trâm,  
Thừng mực,  
Trám, Thị rừng sâng, Vàng anh  
Kháo, Ba soi,  
Dẻ Xoan đào,  
Sung, Re, Chẹo, chó, Bồ đề, Lá  
Sồi, Trường  
Dẻ, Kháo, Xoan  
đào, Côm, Máu  
Số loài ưu thế  
Sồi, Kháo  
(10 loài)  
vàng, Trám,  
Côm , Dẻ tía,  
Thành ngạnh  
nến, Trường  
sâng, Sòi tía  
Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh Phục hồi (TXP)  
Mật độ (cây/ha)  
Số loài (loài/ha)  
990  
117  
801  
110  
180  
54  
9
8
0
0
Kháo, Dẻ,  
Thành ngạnh,  
Sảng, Sung,  
Thẩu tấu, Lá  
nến, Re gừng,  
Ngát, Vàng  
anh  
Dẻ, Thành  
ngạnh, Kháo,  
Sảng, Lá nến,  
Thẩu tấu, Re,  
Sung, Thừng  
mực, Vàng anh  
Kháo, Dẻ, Sung,  
Ngát, Sau sau,  
Sảng, Thẩu tấu,  
Lim xanh,  
Chẹo, Thành  
ngạnh  
Kháo, Sảng,  
Côm, Thanh  
thất, Mán đỉa,  
Bồ đề, Dẻ,  
Sung, Ngát,  
Sau sau  
Số loài ưu thế  
(10 loài)  
31  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
Lâm học  
Mật độ trung bình của 4 trạng thái nghiên  
cứu biến động trong khoảng từ 765 - 1105  
cây/ha. Trạng thái rừng trung bình có mật độ  
lớn nhất (1105 cây/ha), mật độ nhỏ nhất tại  
trạng thái rừng giàu (765 cây/ha). Nhìn chung,  
tại những trạng thái rừng giàu và rất giàu, cấu  
trúc lâm phần đạt đến độ ổn định cao nên tổng  
số cây tương đối thấp, những trạng thái rừng  
còn lại chưa đạt được cấu trúc ổn định nên có  
mật độ cao.  
trạng thái rừng giàu (84 loài/ha). Số loài cây tại  
các cấp kính có sự biến đổi tương tự như đối  
với mật độ. Trạng thái rừng phục hồi có số loài  
đạt giá trị lớn nhất tại cấp kính 6 - 15 cm (110  
loài/ha) và thấp nhất tại các cấp kính còn lại.  
Trong khi đó, trạng thái rừng rất giàu đạt giá trị  
thấp nhất tại cấp kính 6 - 15 cm (62 loài/ha) và  
lớn nhất tại các cấp kính 30 - 45 cm, > 45 cm.  
Đối với cấp kính từ 15 - 30 cm số loài đạt giá  
trị lớn nhất tại trạng thái rừng trung bình (71  
loài/ha).  
Số lượng cây theo từng cấp kính có sự biến  
đổi rõ rệt. Đối với cấp kính nhỏ từ 6 - 15 cm,  
mật độ số cây lớn nhất tại trạng thái rừng phục  
hồi (801 cây/ha), thấp nhất tại trạng thái rừng  
rất giàu (331 cây/ha). Tuy nhiên, đối với các  
cấp kính lớn hơn (15 - 30 cm, 30 - 45 cm, trên  
45 cm) sự biến đổi số cây hoàn toàn ngược lại.  
Mật độ số cây tại các cấp kính này đều đạt giá  
trị lớn nhất tại trạng thái rừng rất giàu và nhỏ  
nhất tại trạng thái rừng phục hồi. Tại trạng thái  
rừng phục hồi không có cây nào có đường kính  
đạt giá trị trên 45 cm.  
Các loài ưu thế trong các trạng thái rừng  
không có sự khác nhau rõ rệt giữa các trạng  
thái cũng như giữa các cấp kính trong cùng  
một trạng thái. Những loài chiếm tỷ lệ cao  
trong lâm phần là Kháo xanh (Cinnadenia  
paniculate), Dẻ (Castanopsis indica), Re  
(Cinnamomum parthenoxylum), Thừng mực (  
Wrightia tomentosa), Ngát (Gironniera  
subaequalis). Những cây gỗ quý hiếm thuộc  
nhóm 1, 2 như Sến mật (Madhuca pasquieri),  
Đinh (Markhmia stipulate) hiện còn lại rất ít và  
không xuất hiện trong các công thức tổ thành.  
3.2. Số cây tái sinh theo nhóm gỗ  
Tổng số loài cây tại 2 trạng thái có trữ  
lượng thấp lớn hơn so với 2 trạng thái còn lại.  
Tổng số loài đạt giá trị lớn nhất tại trạng thái  
rừng phục hồi (117 loài/ha), theo sau là trạng  
thái rừng trung bình (112 loài/ha), rừng rất  
giàu (93 loài/ha) và đạt giá trị thấp nhất tại  
Tỷ lệ cây tái sinh quyết định đến tổ thành  
tầng cây cao trong tương lai. Vì vậy, nghiên  
cứu về cây tái sinh có thể dự đoán được diễn  
thế trong tương lai của lâm phần. Số cây tái  
sinh theo nhóm gỗ được trình bày tại bảng 3.2:  
Bảng 3.2. Số cây tái sinh theo nhóm gỗ  
Rừng giàu Rừng TB Rừng phục hồi  
Tỷ lệ Tỷ lệ Tỷ lệ  
(cây/ha) (%) (cây/ha) (%) (cây/ha) (%) (cây/ha) (%) (cây/ha) (%)  
Rừng rất giàu  
Tỷ lệ  
Trung bình  
Tỷ lệ  
Nhóm  
N
N
N
N
N
gỗ  
1
190  
320  
3,4  
5,8  
50  
290  
30  
1,1  
6,5  
0
0,0  
1,2  
10  
170  
10  
0,3  
4,4  
63  
208  
35  
1,4  
4,6  
2
50  
3
20  
0,4  
0,7  
80  
1,9  
0,3  
0,8  
4
100  
1,8  
80  
1,8  
20  
0,5  
50  
1,3  
63  
1,4  
5
1420  
1510  
1150  
850  
25,5  
27,2  
20,7  
15,3  
100,0  
1370  
1630  
710  
300  
4460  
30,7  
36,5  
15,9  
6,7  
1430  
1680  
560  
500  
4320  
33,1  
38,9  
13,0  
11,6  
100,0  
730  
940  
780  
1140  
3830  
19,1  
24,5  
20,4  
29,8  
100,0  
1238  
1440  
800  
697  
4543  
27,2  
31,7  
17,6  
15,4  
100,0  
6
7
8
Tổng  
5560  
100,0  
32  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
Lâm học  
Mật độ cây tái sinh trung bình tại trạng thái  
rừng rất giàu đạt giá trị lớn nhất 5560 cây/ha,  
nhỏ nhất tại trạng thái rừng phục hồi 3830  
cây/ha, trung bình là 4543 cây/ha.  
phục hồi số lượng loài cây tái sinh đạt giá trị  
lớn nhất tại nhóm 8 (29,8%) là nhóm gỗ tập  
trung những cây tiên phong, ưa sáng điển hình  
của rừng phục hồi.  
Số cây tái sinh theo từng nhóm gỗ tại 3  
trạng thái rừng rất giàu, rừng giàu, rừng trung  
bình không có sự khác biệt. Tại 4 nhóm gỗ 1,  
2, 3, 4 số cây tái sinh có giá trị rất thấp và đạt  
giá trị lớn nhất tại nhóm 6 (lần lượt là 27,2%,  
36,5%, 38,9%). Sau đó số cây tái sinh giảm  
dần tại nhóm 7 và 8. Đối với trạng thái rừng  
Tại trạng thái rừng rất giàu và giàu, số cây  
tái sinh tại nhóm 1, 2 lớn hơn so với hai trạng  
thái còn lại, tuy nhiên không đáng kể.  
3.3. Mật độ cây theo nhóm gỗ và cấp kính  
Mật độ số cây theo nhóm gỗ và cấp kính  
được trình bày tại bảng 3.3 và 3.4.  
Bảng 3.3. Mật độ cây theo nhóm gỗ  
TXG TXB  
TXRG  
TXP  
Nhóm gỗ  
N
N
N
N
%
%
%
%
(cây/ha)  
(cây/ha)  
(cây/ha)  
(cây/ha)  
1
2
2
9
0,2  
1,1  
4
13  
0,5  
1,7  
6
8
0,5  
0,7  
2
28  
0,2  
2,8  
3
16  
1,9  
4
0,5  
32  
2,9  
41  
4,1  
4
12  
1,4  
14  
1,8  
14  
1,3  
6
0,6  
5
6
7
216  
238  
154  
190  
837  
25,8  
28,4  
18,4  
22,7  
100  
176  
256  
110  
188  
765  
23  
174  
347  
173  
351  
1105  
15,7  
31,4  
15,7  
31,8  
100  
229  
263  
166  
255  
990  
23,1  
26,6  
16,8  
25,8  
100  
33,5  
14,4  
24,6  
100  
8
Tổng  
Bảng 3.4. Mật độ cây theo cấp kính  
TXRG TXG  
TXB  
TXP  
Cấp kính  
N
N
N
N
%
%
%
%
(cây/ha)  
(cây/ha)  
(cây/ha)  
(cây/ha)  
6 < D1.3 < 15 cm  
331  
349  
114  
43  
39,5  
41,7  
13,6  
5,1  
371  
273  
90  
48,5  
35,7  
11,8  
4,1  
771  
282  
42  
69,8  
25,5  
3,8  
801  
180  
9
80,9  
18,2  
0,9  
0
15 < D1.3 < 30 cm  
30 < D1.3 < 45 cm  
D1.3 > 45 cm  
Tổng  
31  
10  
0,9  
0
837  
100  
765  
100  
1105  
100  
990  
100  
Qua bảng 3.3 và 3.4 nhận thấy:  
32,6%). Tại cấp kính 30 - 45 cm và trên 45 cm,  
số cây đứng đạt giá trị lớn nhất tại nhóm gỗ 5  
(33,3% và 38,7%).  
Số cây đứng tại trạng thái rừng rất giàu tập  
trung nhiều nhất tại nhóm gỗ 5, 6 ở hầu hết các  
cấp kính. Tại 3 cấp kính nhỏ hơn 45 cm số cây  
đứng tập trung nhiều nhất tại nhóm gỗ 6 (đạt  
giá trị lần lượt là 29,9c%, 26,1%, 36,0%). Đối  
với cấp kính trên 45 cm, số cây đứng tập trung  
nhiều tại nhóm gỗ 7, 8 (chiếm 25,6%).  
Số cây đứng trạng thái rừng trung bình ở  
cấp kính 6 - 15 cm, 30 - 45 cm và trên 45 cm  
tập trung nhiều nhất tại nhóm gỗ 6 (chiếm tỷ lệ  
lần lượt là 30,6%, 35,7% và 30,0%). Trong khi  
đó tại cấp kính 15 - 30 cm, số cây đứng đạt giá  
trị lớn nhất tại nhóm gỗ 8 là 36,5%.  
Số cây đứng trạng thái rừng giàu ở cấp kính  
6 - 15 cm và 15 - 30 cm tập trung nhiều nhất  
tại nhóm gỗ 6 (chiếm tỷ lệ lần lượt là 35,8% và  
Số cây đứng tại trạng thái rừng phục hồi ở  
cấp kính 6 - 15 cm đạt giá trị cao nhất tại nhóm  
33  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
Lâm học  
gỗ 6 (28,1%), ở cấp kính 15 - 30 cm, 30 - 45  
cm đạt giá trị lớn nhất tại nhóm gỗ 8 (chiếm tỷ  
lệ lần lượt là 30% và 66,7%), không có cây nào  
trong cỡ kính trên 45 cm.  
1, 2, 3, 4. Đối với cấp kính trên 45 cm, số cây  
tại các nhóm gỗ 1, 2, 3, 4 hầu như không có.  
3.4. Tiết diện ngang theo nhóm gỗ và cấp  
kính  
Nhìn chung, số cây đứng tại hầu hết các  
trạng thái và cấp kính tập trung nhiều nhất tại  
nhóm gỗ 5, 6, 7, 8 và thấp hơn tại các nhóm gỗ  
Tổng tiết diện ngang theo nhóm gỗ và cấp  
kính được trình bày cụ thể tại hình 3.1 và 3.2.  
Hình 3.1. Tổng tiết diện ngang các trạng thái rừng phân theo nhóm gỗ  
Hình 3.2. Tổng tiết diện ngang các trạng thái rừng phân theo cấp kính  
Đối với trạng thái rừng rất giàu, tổng tiết  
(9,6 m2/ha), tiếp theo là cấp kính 30 - 45 cm và  
trên 45 cm (đạt giá trị lần lượt là 9,45 m2/ha và  
7,9 m2/ha).  
diện ngang cây đứng tập trung chủ yếu tại  
nhóm gỗ 5 (27,8%), 6 (26,2%) và 8 (22,4%).  
Tổng tiết diện ngang tại các nhóm gỗ 1, 2  
chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Tổng tiết diện ngang cây  
đứng tại cấp kính 15 - 30 cm có giá trị lớn nhất  
(12,65 m2/ha), tiếp theo là cấp kính 30 - 45 cm  
và trên 45 cm (đạt giá trị lần lượt là 11,69 m2/ha  
và 10,81 m2/ha).  
Đối với trạng thái rừng trung bình, tổng tiết  
diện ngang cây đứng tập trung chủ yếu tại  
nhóm gỗ 6 (32,2%) và nhóm gỗ 8 (29%). Tổng  
tiết diện ngang số cây tại các nhóm gỗ 1, 2, 3,  
4 chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Tổng tiết diện ngang cây  
đứng tại cấp kính 15 - 30 cm, 6 - 15 cm có giá  
trị lớn (đạt giá trị lần lượt là 9,56 m2/ha và 6,29  
m2/ha). Cấp kính trên 45 cm có giá trị nhỏ nhất  
(1,98 m2/ha).  
Đối với trạng thái rừng giàu, tổng tiết diện  
ngang cây đứng tập trung chủ yếu tại nhóm gỗ  
5 (31,4%) và nhóm gỗ 6 (29,9%). Tổng tiết  
diện ngang tại các nhóm gỗ 1, 2, 3, 4 chiếm tỷ  
lệ rất nhỏ (dưới 1%). Tổng tiết diện ngang cây  
đứng tại cấp kính 15 - 30 cm có giá trị lớn nhất  
Đối với trạng thái rừng phục hồi, tổng tiết  
diện ngang cây đứng tập trung chủ yếu tại  
nhóm gỗ 8 (6,23 m2/ha). Tổng tiết diện ngang  
34  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
Lâm học  
số cây tại các nhóm gỗ 1, 2 chiếm tỷ lệ rất nhỏ.  
Tổng tiết diện ngang cây đứng tại cấp kính 6 –  
15 cm có giá trị lớn nhất (6,23 m2/ha). Các cấp  
kính trên 30 cm có giá trị tổng tiết diện ngang  
không đáng kể.  
3.5. Trữ lượng theo nhóm gỗ và cấp kính  
Trữ lượng các trạng thái phân theo nhóm gỗ  
và cấp kính được thể hiện tại hình 3.3 và 3.4.  
Hình 3.3. Trữ lượng các trạng thái rừng phân theo nhóm gỗ  
Hình 3.4. Trữ lượng các trạng thái rừng phân theo cấp kính  
Đối với trạng thái rừng rất giàu, tổng trữ  
lượng gỗ đạt giá trị lớn nhất tại nhóm gỗ 6  
(50,8 m3/ha). Trữ lượng tại các nhóm gỗ 1, 2  
đạt giá trị rất nhỏ (dưới 1 m3/ha). Cấp kính từ 15  
- 30 cm có trữ lượng cao nhất (68,1 m3/ha), cấp  
kính trên 45 cm đạt giá trị thấp nhất (20,4 m3/ha).  
Đối với trạng thái rừng phục hồi, tổng trữ  
lượng gỗ đạt giá trị lớn nhất tại nhóm 8 (21,8  
m3/ha) và nhóm 5 (17,3 m3/ha). Trữ lượng tại các  
nhóm gỗ 1, 2, 3, 4 đạt giá trị rất thấp (dưới 1  
m3/ha). Cấp kính từ 15 - 30 cm có trữ lượng cao  
nhất (38,1 m3/ha), cấp kính trên 45 cm đạt giá trị  
thấp nhất (0 m3/ha).  
lượng gỗ đạt giá trị lớn nhất tại nhóm 5 (87,6  
m3/ha) và nhóm 6 (76,6 m3/ha). Trữ lượng tại  
các nhóm gỗ 3, 4 đạt giá trị khá lớn lần lượt là  
11,2 m3/ha và 12,2 m3/ha. Trữ lượng tại các  
cấp kính có giá trị tăng dần. Cấp kính từ 6 - 15  
cm có giá trị thấp nhất (15,53 m3/ha), cấp kính  
trên 45 cm đạt giá trị lớn nhất (117,9 m3/ha).  
Đối với trạng thái rừng giàu, tổng trữ lượng  
gỗ đạt giá trị lớn nhất tại nhóm 5 (93,8 m3/ha) và  
nhóm 6 (85,3 m3/ha). Trữ lượng tại các nhóm gỗ  
2, 3 đạt giá trị rất nhỏ (dưới 1 m3/ha). Cấp kính  
từ 6 - 15 cm có giá trị thấp nhất (16,9 m3/ha),  
cấp kính từ 30 - 45 cm đạt giá trị lớn nhất (88,2  
m3/ha).  
IV. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu về cấu trúc rừng theo nhóm gỗ  
và cấp kính của rừng lá rộng thường xanh tại  
Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc thu  
Đối với trạng thái rừng trung bình, tổng trữ  
35  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
Lâm học  
được kết quả như sau: Mật độ trung bình của 4  
trạng thái nghiên cứu biến động trong khoảng  
từ 765 - 1105 cây/ha. Trạng thái rừng trung  
bình có mật độ lớn nhất (1105 cây/ha), mật độ  
nhỏ nhất tại trạng thái rừng giàu (765 cây/ha).  
Đối với cấp kính nhỏ từ 6 - 15 cm, mật độ số  
cây lớn nhất tại trạng thái rừng phục hồi (801  
cây/ha), thấp nhất tại trạng thái rừng rất giàu  
(331 cây/ha). Đối với các cấp kính lớn hơn (15  
- 30 cm, 30 - 45 cm, trên 45 cm) sự biến đổi số  
cây hoàn toàn ngược lại. Số loài cây tại các cấp  
kính có sự biến đổi tương tự như đối với mật  
độ. Ở cả 4 trạng thái rừng tổng số cây đều tập  
trung nhiều nhất ở gỗ nhóm 6 và chiếm tỷ lệ  
rất thấp ở các nhóm 1, 2, 3, 4.  
gỗ 8 (6,23m2/ha).  
Tổng trữ lượng gỗ của trạng thái rừng rất  
giàu đạt giá trị lớn nhất tại nhóm gỗ 5 (87,6  
m3/ha), 6 (76,6 m3/ha), trạng thái rừng giàu có  
phân bố tương tự với nhóm 5 (93,8 m3/ha), 6  
(85,3 m3/ha). Đối với trạng thái rừng trung  
bình, tổng trữ lượng gỗ đạt giá trị lớn nhất tại  
nhóm gỗ 6 (50,8 m3/ha. Đối với trạng thái rừng  
phục hồi, tổng trữ lượng gỗ đạt giá trị lớn nhất  
tại nhóm gỗ 8 (21,8 m3/ha), 5 (17,3 m3/ha).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Xuân Đặng, Nguyễn Cử, Hà Văn Tuế, Hà  
Quý Quỳnh (2009). Báo cáo kết quả xây dựng chương  
trình giám sát và đánh giá đa dạng sinh học cho Vườn  
quốc gia Tam Đảo.  
2. Tổng cục Lâm nghiệp (2012). Hướng dẫn xây  
dựng phương án quản lý rừng bền vững kèm theo công  
văn số 778/TCLN-SDR ngày 13/6/2012.  
Tổng tiết diện ngang của trạng thái rừng rất  
giàu tập trung chủ yếu ở các nhóm gỗ 5  
(27,8%), 6 (26,2%), 8 (22,4%), đối với trạng  
thái rừng giàu là nhóm gỗ 5 (31,4%), 6  
(29,9%), rừng trung bình tại nhóm gỗ 6  
(32,2%), 8 (29%), và rừng phục hồi tại nhóm  
3. Thông tư số 34/2009/TT-BNN&PTNT ngày 10  
tháng 6 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn về tiêu chí xác định và phân loại rừng.  
4. Quyết định số 2198/CNR-BLN ngày 26/11/1977  
của Bộ Lâm nghiệp về ban hành bảng phân loại tạm thời  
các loại gỗ sử dụng trong cả nước.  
STUDY ON SOME STRUCTURAL CHARACTERISTICS BY TIMBER  
CLASS AND DIAMETER CLASS OF EVERGREEN BROADLEAF  
FORESTS IN TAM DAO NATIONAL PARK, VINH PHUC PROVINCE  
Pham Thi Hanh1, Nguyen Thi Yen2, Pham Tien Dung3  
1,2Vietnam National University of Forestry  
3Vietnam Academy of Forestry Science  
SUMMARY  
The study was conducted in Tam Dao National Park, Tam Dao district, Vinh Phuc province. According to  
Circular 34 issued by Ministry of Agriculture & Rural Development in 2009, evergreen broadleaf forests were  
divided to 4 statuses: very rich forests, rich forests, medium forests and regenerated forests. Using 40 sample  
plots of different forest statuses, this study analyzes some structural characterisics (composition and density) of  
the forests by timber class and diameter classes. The density of trees by diameter classes varies among the  
forest statuses. The highest density is in the regenerated forest and the lowest in the rich forest status in  
diameter class from 6 - 15 cm. The density of higher diameter classes is reversing. The results show that the  
total number of trees is the highest in timber class 8 at the regenerated forests. However, this figure is the  
higest in timber class 5 and 6 at the other forest statuses. Similarly, the very rich forests have high volumes  
in timber class 3 and 4. And those other status are lowly in timber class 1; 2; 3 and 4. The results of this study  
are one of the important foundations for predicting the succession of forest structures in Tam Dao National Park.  
Keywords: Diameter class, evergreen broadleaf forest, structural characteristics, Tam Dao national  
park, timber class.  
Ngày nhận bài  
: 29/8/2017  
: 03/10/2017  
: 10/10/2017  
Ngày phản biện  
Ngày quyết định đăng  
36  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
pdf 8 trang yennguyen 13400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số đặc điểm cấu trúc theo nhóm gỗ và cấp kính của rừng lá rộng thường xanh tại Vườn Quốc gia Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_dac_diem_cau_truc_theo_nhom_go_va_cap_kinh_cua_rung_l.pdf