Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng bao cao su trong kế hoạch hóa gia đình của nam giới có vợ tại xã Thượng Kiệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình năm 2013

MÔ TẢ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH SỬ DỤNG BAO CAO SU  
TRONG KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH CỦA NAM GIỚI CÓ VỢ TẠI XÃ  
THƯỢNG KIỆM, HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH NĂM 2013  
BSCKII. Phạm Ngọc Cương  
Trung tâm truyền thông GDSK Ninh Bình  
Tóm tắt nghiên cứu  
Việt Nam là một nước đông dân và dân số vẫn tiếp tục tăng nhanh vì vậy cần  
phải thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) nhằm hạn chế mức gia  
tăng trên. Có rất nhiều biện pháp KHHGĐ, tuy nhiên chủ yếu là các biện pháp dùng cho  
nữ giới như đặt dụng cụ tử cung, đình sản, uống thuốc tránh thai và cả sử dụng bao cao  
su (BCS), nhưng vai trò của nam giới trong việc sử dụng BCS còn mờ nhạt. Để đánh giá  
đúng hơn về nguyên nhân dẫn đến việc nam giới chưa thực hiện tốt vai trò của mình  
chúng tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng  
bao cao su trong kế hoạch hoá gia đình của nam giới có vợ tại xã Thượng Kiệm, huyện  
Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình năm 2013”. Kết quả cho thấy 97% đối tượng nghiên cứu  
(ĐTNC) biết đến biện pháp BCS và trong số đó có 85,5% cho rằng BCS có tác dụng  
tránh thai, chỉ 72,5% cho rằng BCS có tác dụng phòng chống lây nhiễm bệnh qua đường  
tình dục. Nguồn cung cấp thông tin chủ yếu là y tế thôn bản (YTTB) và cộng tác viên  
dân số. Có tới 94% ĐTNC đồng ý sử dụng BCS, lý do một số đối tượng không đồng ý  
sử dụng là do khác biệt về văn hóa/phong tục tập quán. Trong khi kiến thức và thái độ sử  
dụng BCS của ĐTNC cao thì thực hành của họ lại rất thấp 17,5%, lý do được đưa ra là  
do người vợ đã sử dụng các biện pháp tránh thai khác như đặt dụng cụ tử cung, uống  
thuốc… rào cản về tiếp cận với dịch vụ cung cấp BCS thì ít được nhắc đến, tuy nhiên  
nam giới vẫn rất ít khi mua BSC do họ ngại gặp người quen (67,2%) hoặc người bán  
hàng khác giới (51,4%). Đặc biệt chỉ có 14% ĐTNC có trao đổi thông tin về KHHGĐ  
nhiều hơn 3 lần trong 6 tháng, đây là một tỷ lệ rất thấp đánh giá vai trò của nam giới.  
1. Đặt vấn đề  
Dân số thế giới vượt quá con số 7 tỷ người vào năm 2011 và hàng năm vẫn tiếp  
tục tăng khoảng 77 triệu người. Với mức tăng dân số như hiện nay, Vụ Dân số của Liên  
Hợp Quốc dự báo với phương án trung bình dân số 9,3 tỷ người vào năm 2050. Đứng  
trước bối cảnh đó hầu hết các quốc gia đã đề ra chiến lược phát triển dân số một cách  
phù hợp. Hội nghị Quốc tế về Kế hoạch hoá gia đình năm 1980 (Jakarta -  
Indonesia,1981) khẳng định nam giới có quyền về sức khỏe sinh sản (SKSS) như phụ  
nữ. Các dịch vụ hiện hành chưa phản ánh được các quyền này và kiến nghị rằng những  
chương trình dành cho nam giới cần được đưa vào như một ưu tiên.  
Hiện nay có một số biện pháp tránh thai (BPTT) có sự tham gia của nam giới  
như: đình sản nam, BCS, xuất tinh ngoài và tính vòng kinh…; trong khi đó các biện  
pháp dành cho nữ giới đa dạng hơn. Để góp phần giảm sự lây lan ra cộng đồng của các  
bệnh lây truyền qua trường tình dục (STDs) trong đó có HIV/AIDS và để hạn chế các  
trường hợp có thai ngoài ý muốn thì hành vi tình dục an toàn cần được các cặp vợ chồng  
131  
quan tâm, cũng như huy động sự tham gia của nam giới trong việc thực hiện KHHGĐ,  
biện pháp sử dụng BCS cần được mở rộng đối tượng hơn nữa.  
Vấn đề được đặt ra là tại sao tỷ lệ áp dụng các BPTT ở nam giới trong đó có biện  
pháp sử dụng BCS ở nam giới có vợ lại chưa cao cho dù việc tuyên truyền vận động  
thực hiện các BPTT trong đó có biện pháp sử dụng BCS đã được thực hiện thường  
xuyên và liên tục trong nhiều năm? Phải chăng nam giới nhìn nhận việc sử dụng BCS  
trong KHHGĐ là không thích hợp? KHHGĐ là nhiệm vụ chính của phụ nữ? Hay nam  
giới có nhu cầu nhưng không được đáp ứng đầy đủ? Chính vì vậy chúng tôi tiến hành  
nghiên cứu “Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng bao cao su trong kế hoạch  
hoá gia đình của nam giới có vợ tại xã Thượng Kiệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình  
năm 2013”.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng bao cao su trong kế hoạch hoá  
gia đình của nam giới có vợ tại xã Thượng Kiệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình  
năm 2013.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Đối tượng nghiên cứu:  
-
Nam giới đã có vợ (vợ của đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ từ 15- 49 tuổi).  
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu:  
-
-
Địa điểm: xã Thượng Kiệm, huyện Kim Sơn  
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2013.  
3.3. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích.  
3.3.1. Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả cắt ngang  
Trong đó:  
N: Cỡ mẫu cần có trong nghiên cứu  
Z: Độ tin cậy của nghiên cứu, được lấy ở = 0,05 => Z(1- /2) = 1,96  
P: Tỷ lệ đối tượng có nhận thức và thực hành đúng về dụng BCS. (p = 0,5 để  
được cỡ mẫu lớn nhất)  
D: Độ sai lệch ước tính (d = 0,07)  
Thay vào công thức trên ta được n=196, làm tròn là 200  
3.3.2. Chọn mẫu: Chọn mẫu cụm kết hợp chọn mẫu hệ thống  
132  
Bước 1: Chọn xóm nghiên cứu (theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn)  
-
-
Lập danh sách các xóm của xã Thượng Kiệm.  
Trong số 11 xóm, chọn ngẫu nhiên 4 xóm (các xóm: 4, 5, Vinh Ngoại, An Cư),  
như vậy mỗi xóm sẽ phỏng vấn 50 đối tượng.  
Bước 2: Chọn hộ gia đình (theo phương pháp cổng liền cổng)  
Tại nhà CTV dân số thôn xóm, bằng kĩ thuật quay cổ chai, hướng cổ chai quay  
về phía nào thì chọn hộ gần nhất là điểm đầu tiên để tiến hành điều tra, sau đó áp dụng  
phương pháp cổng liền cổng cho đến khi đủ cỡ mẫu. Tại mỗi hộ gia đình thực hiện  
phỏng vấn 01 người.  
Bước 3: Chọn đối tượng nghiên cứu: Nếu trong hộ gia đình có nhiều đối tượng nghiên  
cứu, thống nhất chọn người có độ tuổi trẻ nhất.  
3.4. Phương pháp thu thập số liệu  
-
Thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi phỏng vấn.  
3.5. Các biến số và chỉ số dùng trong nghiên cứu  
3.5.1. Các khái niệm  
Biện pháp tránh thai hiện đại là những phương tiện, phương pháp giúp cho con người  
sử dụng tránh được thai ngoài ý muốn. BPTT hiện đại gồm:  
-
Biện pháp tránh thai tạm thời: Dụng cụ tử cung (DCTC), bao cao su, thuốc tránh  
thai (Thuốc uống, thuốc tiêm, thuốc cấy tránh thai)  
-
Biện pháp tránh thai vĩnh viễn: Đình sản nam, đình sản nữ.  
Biện pháp tránh thai tự nhiên gồm: Tính vòng kinh, xuất tinh ngoài âm đạo, đo nhiệt độ…  
Sử dụng bao cao su:  
-
-
-
ĐTNC không sử dụng BCS là những nam giới trong thời gian cách thời điểm điều  
tra 1 tháng không sử dụng BCS, cho dù trước kia đã có thời gian sử dụng BCS.  
ĐTNC đang sử dụng BCS là những nam giới trong thời gian 1 tháng gần đây có  
sử dụng BCS trong quan hệ tình dục.  
Sử dụng BCS liên tục là dùng BCS trong tất cả các lần quan hệ tình dục, kể cả  
những ngày không thể có thai.  
Thời gian dễ có thai nhất hay thời gian nguy hiểm nhất là những ngày giữa chu kỳ  
kinh nguyệt.  
Tác dụng của bao cao su: Tránh thai, phòng tránh lây truyền các bệnh qua đường tình  
dục kể cả HIV/AIDS.  
3.5.2. Các biến số nghiên cứu  
-
Về kiến thức: thời gian dễ có thai nhất, tác dụng của bao cao su, biện pháp tránh  
thai, nguồn cung cấp thông tin về bao cao su, nguồn cung cấp bao cao su.  
133  
-
-
Về thái độ: ủng hộ các biện pháp tránh thai, ủng hộ biện pháp bao cao su.  
Về thực hành: sử dụng biện pháp tránh thai, sử dụng bao cao su thường xuyên,  
trao đổi với vợ về KHHGĐ từ 3 lần trở lên/6 tháng.  
3.6. Hạn chế của nghiên cứu  
Việc tiếp cận đối tượng khó khăn, dễ bị từ chối tham gia do đó tính đại diện  
không cao.  
Vì khó khăn về nguồn lực và thời gian nên chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu ở  
04 xóm, nên kết quả nghiên cứu chỉ đại diện cho xã Thượng Kiệm, chưa mang tính đại  
diện cho huyện Kim Sơn và các vùng khác trong huyện.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Một số thông tin cơ bản về đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu trẻ tuổi nhất là 22 tuổi, nhiều tuổi nhất là 57 tuổi. Đối  
tượng thuộc nhóm tuổi 40 - 49 là chủ yếu (chiếm 42,5%), nhóm tuổi từ 50 tuổi trở lên  
chiếm tỷ lệ thấp nhất (12,5%).  
Về dân tộc và tôn giáo của ĐTNC, 100% đối tượng là người kinh, 34% không  
theo tôn giáo nào, trong 66% theo tôn giáo thì phật giáo chiếm số đông với 42,5%, công  
giáo chiếm 23,5%.  
Trình độ học vấn của ĐTNC chiếm tỷ lệ cao nhất chủ yếu là THCS (47%), trình  
độ cao đẳng và đại học trở lên rất ít (6,5%), trong đó tỷ lệ đối tượng có trình độ tiểu học  
vẫn còn khá cao (14%).  
Nghề nghiệp chủ yếu của ĐTNC là làm ruộng chiếm tỷ lệ 61.5%, 15% đối tượng  
làm dịch vụ và buôn bán nhỏ, 6,5% là cán bộ viên chức. Số đối tượng làm nghề tự do,  
không ổn định chiếm tỷ lệ khá cao (17%).  
Bảng 1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi người vợ và số con hiện có  
Biến số  
Chỉ số  
20 tuổi  
Tần số (n= 200)  
Tỷ lệ %  
02  
1,0  
Tuổi của  
người vợ  
20 – 29 tuổi  
30 – 39 tuổi  
40 – 49 tuổi  
Chưa có con  
Có 1 con  
23  
105  
70  
11,5  
52,5  
35,0  
0
0
41  
20,5  
61,0  
18,5  
Số con  
hiện có  
Có 2 con  
122  
37  
Có 3 con trở lên  
Tuổi vợ của ĐTNC chủ yếu ở nhóm tuổi 30 - 39 chiếm tỷ lệ 52,5%. Không có  
ĐTNC nào có vợ dưới 19 tuổi. Tỷ lệ đối tượng có 2 con là chủ yếu (61%), tỷ lệ đối  
tượng có con thứ 3 trở lên khá cao (18,5%)  
134  
4.2. Kiến thức, thái độ, thực hành về kế hoạch hóa gia đình và bao cao su  
4.2.1. Kiến thức về KHHGĐ và bao cao su  
97,0%  
86,5%  
1
0.8  
63,5%  
0.6  
0.4  
21,0%  
6,0%  
0.2  
0
BCS  
Thuốc TT  
DCTC  
Đình sản  
Khác  
Biểu đồ 1: Hiểu biết các biện pháp tránh thai  
Phần lớn đối tượng ĐTNC được phỏng vấn đều biết đến biện pháp tránh thai là  
sử dụng BCS (97%) và dụng cụ tránh thai (DCTC) (86,5%). Đặc biệt có tới 85% đối  
tượng biết ít nhất 2 BPTT hiện đại.  
Khi nói đến tác dụng của BCS, thì có tới 85,5% biết được dùng để tránh thai và  
có tới 62% nhắc đến phòng lây nhiễm HIV/AIDS, tránh lây nhiễm các bệnh lây qua  
đường tình dục (72.5%).  
Bảng 2: Nguồn cung cấp thông tin về bao cao su mà đối tượng biết  
Nguồn cung cấp thông tin  
Số lượng  
105  
Tỷ lệ %  
52,5  
Bạn bè  
Vợ/người thân  
87  
43,5  
CB Y tế/CTVDS  
192  
96,0  
Thông tin đại chúng (ti vi, đài, báo …)  
Nói chuyện/toạ đàm …  
161  
80,5  
95  
42,5  
Nguồn thông tin về bao cao su đến với đối tượng chủ yếu là qua CBYT, CTV dân số  
(96%) và qua các phương tiện thông tin đại chúng (80,5%). Vai trò của gia đình, bạn bè  
cũng như hiệu quả của các buổi sinh hoạt chuyên đề, lồng ghép … chưa cao (<50%).  
135  
Bảng 3: Biết về nguồn cung cấp bao cao su  
Nguồn cung cấp BCS  
Số lượng  
28  
Tỷ lệ %  
14,0  
23,5  
66,0  
79,5  
6,5  
Phòng khám tư  
Đội CSSKS huyện  
Trạm Y tế xã  
47  
112  
159  
13  
Hiệu thuốc  
Cửa hàng tạp hoá  
Cán bộ Y tế thôn/CTV dân số  
182  
91,0  
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy: Nguồn cung cấp BCS được  
ĐTNC biết đến nhiều nhất là CBYT thôn và CTV dân số (91%), sau đó đến các hiệu  
thuốc (79,5%), được biết đến ít nhất là cửa hàng tạp hoá (6,5%).  
4.2.2. Thái độ đối với việc sử dụng bao cao su và các biện pháp tránh thai  
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 94% ĐTNC cho rằng cần phải sử  
dụng biện pháp KHHGĐ và có tới 78,5% đồng ý sự dụng BCS.  
Trong số những người không đồng ý sử dụng BCS thì lý do mà họ đưa ra nhiều  
nhất là BCS không phù hợp với văn hoá/tôn giáo Việt Nam (100%). Các lý do khác cũng  
được họ nhắc đến như tạo điều kiện cho mại dâm phát triển (53,5%) và tạo điều kiện  
thuận lợi cho vị thành niên QHTD bừa bãi (87,7%).  
4.2.3. Thực hành sử dụng BCS  
5,0%  
BCS  
17,5%  
Thuốc TT  
DCTC  
Đình sản  
23,5%  
54,0%  
Biểu đồ 2: BPTT hiện đại đối tượng (hoặc vợ) đối tượng đang sử dụng  
Trong các BPTT hiện đại đang được đối tượng sử dụng thì biện pháp đặt dụng cụ  
tử cung được các cặp vợ chồng lựa chọn nhiều nhất chiếm tỷ lệ cao nhất (54%), biện pháp  
sử dụng BCS chiếm tỷ lệ không cao (17,5%). Đình sản là biện pháp ít được lựa chọn sử  
dụng nhất với tỷ lệ là 5% và đặc biệt là không có trường hợp đình sản nam (0%).  
Lý do chính đối tượng không sử dụng BCS là vợ đã dùng một biện pháp tránh  
thai khác (53,5%); giảm khoái cảm (32%); không thật an toàn (29%) dùng rất bất tiện  
(20,5%). Các lý do về phía nhà cung cấp dịch vụ hầu như không được các đối tượng  
quan tâm, không thấy phiền hà đáng kể.  
136  
Bảng 4: Tình hình sử dụng BCS  
Tình hình sử dụng BCS Tần số (n=35)  
Tỷ lệ %  
45,7  
Đối tượng thường Đối tượng nghiên cứu  
16  
19  
0
đi mua BCS  
Vợ  
54,3  
0
Bạn tình  
Phòng khám tư  
Đội CSSKSS huyện  
0
0
0
0
Trạm Y tế xã  
8
22,9  
60,0  
0
Địa điểm mua  
BCS  
Hiệu thuốc  
21  
0
Cửa hàng tạp hoá  
CB y tế thôn/CTV.DS  
Không biết ở đâu bán BCS  
Giá bán đắt  
13  
0
37,1  
0
Khó khăn khi đi  
0
0
mua BCS  
Ngại gặp người bán hàng khác  
giới  
18  
51,4  
Ngại gặp người quen  
Không gặp khó khăn  
23  
05  
5
67,2  
14,3  
14,3  
40,0  
45,7  
34,3  
65,7  
0
Tình trạng tư vấn Được tư vấn /hướng dẫn kỹ  
trước khi sử dụng  
Hướng dẫn không đầy đủ  
BCS  
14  
16  
12  
23  
0
Không hướng dẫn  
Thời điểm sử Tất cả các lần quan hệ tình dục  
dụng BCS.  
Chỉ sử dụng khi có thể có thai  
Chỉ sử dụng với bạn tình  
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Trong số 35 người sử dụng BCS thì cả vợ và chồng  
đều có thể đi mua BCS, tuy nhiên người vợ thường mua nhiều hơn (54,3% và 45,7%).  
Địa điểm mua và nhận bao cao su chủ yếu là ở các hiệu thuốc (60%) và YTTB/CTV dân  
số (37,1%). Gặp người bán hàng khác giới và gặp người quen khi đi mua BCS là trở  
ngại lớn nhất đối với người đi mua BCS (51,4 và 67,2%). Phần lớn ĐTNC cho rằng  
chưa được tư vấn/hướng dẫn (45,7%) hoặc tư vấn/hướng dẫn chưa đầy đủ (40%) về BCS  
trước khi mua. Số đối tượng được hướng dẫn kỹ rất ít (chỉ có 14,3% đối tượng). Mục  
đích tránh thai là chủ yếu 65,7% và tần suất sử dụng thường xuyên chỉ là 34,3% .  
Nội dung được các cặp vợ chồng trao đổi nhiều nhất là các BPTT (67,5%), nội  
dung được quan tâm nhiều tiếp theo là quan hệ tình dục trong cuộc sống vợ chồng  
(31,5%). Tần xuất trao đổi thông tin về kế hoạch hoá gia đình nhiều hơn 3 lần trong 6  
tháng gần đây của đối tượng nghiên cứu chỉ là 14%. Có đến 32% ĐTNC không trao đổi  
những thông tin này với vợ.  
137  
5. Bàn luận  
5.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu  
Kết quả nghiên cứu 200 đối tượng nam giới đã có vợ (vợ của các đối tượng đều  
trong độ tuổi sinh đẻ) cho thấy 42,5% ĐTNC trong độ tuổi 40 đến 49, độ tuổi 30 - 39  
chiếm 31%. Đây là độ tuổi lao động và tuổi hoạt động tình dục mạnh mẽ. Nghề nghiệp  
chính của người dân nơi đây là nông dân (61,5%) và buôn bán (15%). Trong các ĐTNC  
gần 50% đối tượng có trình độ THCS, 32,5% có trình độ THPT, trình độ học vấn từ cao  
đẳng trở lên rất thấp 6,5%; đặc biệt, có tới 14% đối tượng mới có trình độ tiểu học.  
100% đối tượng là dân tộc Kinh (100%), 42,5% theo đạo Phật, 23,5% theo Công giáo.  
Kết quả này phù hợp với những thông tin về đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội tại xã  
Thượng Kiệm. Điều này chứng tỏ rằng cách chọn mẫu của chúng tôi có tính đại diện.  
Đối tượng nghiên cứu ở độ tuổi từ 40 đến 49 là chủ yếu, nên người vợ ở độ tuổi  
từ 30 đến 39 tuổi chiếm tỷ lệ cao (53,5%). Đây là độ tuổi sinh sản tốt và là đối tượng của  
các Dự án Truyền thông giáo dục thay đổi hành vi thuộc Chương trình Dân số - Kế  
hoạch hoá gia đình. Do độ tuổi các cặp vợ chồng đều trên 30 nên có đến 61% đã có đủ 2  
con. Điều đáng nói là tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên khá cao, tới 18,5%. Đặc biệt có tới 11  
người có trên 3 con (5,5%).  
5.2. Kiến thức, thái độ, thực hành về biện pháp bao cao su  
5.2.1. Kiến thức về kế hoạch hoá gia đình và bao cao su  
Hiểu biết về các biện pháp tránh thai rất cao, 97% ĐTNC biết đến biện pháp bao  
cao su và 86,5% đối tượng biết đến vòng tránh thai. Đây là hai biện pháp được tuyên  
truyền nhiều nhất trên các phương tiện thông tin đại chúng và cộng tác viên dân số. Nhất  
là vòng tránh thai đã được sử dụng từ những năm đầu của chương trình sinh đẻ có kế  
hoạch (1961). Các biện pháp khác khác như dùng thuốc tránh thai, đình sản được đối  
tượng biết đến với tỷ lệ thấp hơn. Một số biện pháp như mũ cổ tử cung và màng ngăn  
âm đạo … không có hoặc rất ít đối tượng biết vì đây là các biện pháp không phổ biến ở  
Việt Nam hiện nay.  
Trước đây khi chưa xuất hiện dịch HIV/AIDS, BCS chỉ biết đến như một biện  
pháp để tránh thai. Điều đó giải thích cho việc ĐTNC biết đến tác dụng tránh thai của  
BCS là cao nhất 85,5%. Ngoài tác dụng tránh thai, tác dụng tránh lây nhiễm các bệnh  
qua đường tình dục cũng được biết đến rất cao chiếm tỷ lệ 72,5%, phòng lây nhiễm  
HIV/AIDS 62%. Đặc biết kết quả của chúng tôi còn cho thấy 60% đối tượng trả lợi đầy  
đủ tác dụng của BCS.  
Nguồn cung cấp thông tin được biết đến nhiều nhất là YTTB và CTV dân số  
(96%). Điều này cho thấy vai trò của mạng lưới CTV dân số và chủ trương đúng đắn của  
Nhà nước về công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình, một sự đầu tư mang lại hiệu quả  
rất tốt. Thông tin đại chúng cũng đóng vai trò quan trọng trong cung cấp thông tin về  
138  
BCS với trên 80% ĐTNC biết thông tin về bao cao su theo kênh này. Tỷ lệ đối tượng  
nghiên cứu biết ít nhất một nguồn cung cấp thông tin về BCS đạt trên 90%.  
Nguồn cung cấp BCS chủ yếu là YTTB và CTV dân số, (91%) ĐTNC biết đến  
nguồn cung cấp này chứng tỏ vai trò và sự hoạt động tích cực của họ đối với cộng đồng.  
Tuy nhiên điều này cũng cho ta biết người dân (người chồng) không chủ động trong việc  
tìm kiếm BCS vì nguồn cung cấp BCS từ CTV dân số chủ yếu là được cấp phát miễn phí  
và theo từng đợt nên có thể sẽ không sẵn có khi cần dùng. Mặt khác, 80% đối tượng trả lời  
hiệu thuốc cũng là nơi cung cấp BCS điều này rất tốt vì nó thể hiện tính chủ động của họ.  
5.2.2. Thái độ với việc sử dụng bao cao su và các biện pháp tránh thai  
Nhìn chung ĐTNC đều có thái độ tích cực ủng hộ đối với các biện pháp tránh thai  
nói chung và BCS nói riêng, với 94% ĐTNC đồng ý và hoàn toàn đồng ý với sử dụng các  
biện pháp tránh thai trong kế hoạch hoá gia đình và 78,5% với việc sử dụng BCS.  
Đối với các đối tượng không ủng hộ sử dụng BCS với lý do cho rằng như vậy sẽ  
không phù hợp với tôn giáo và văn hoá tại địa phương (100%), điều này rất sẽ là một  
cản trở lớn trong việc thực hành sử dụng BCS của họ, do đó cần phải tích cực truyền  
thông cho những đối tượng này biết vai trò và lợi ích của việc dử sụng BCS để vượt qua  
được rào cản văn hóa. Các lý do khác cũng được họ nhắc đến như tạo điều kiện cho mại  
dâm phát triển (53,5%) và tạo điều kiện thuận lợi cho vị thành niên quan hệ tình dục bừa  
bãi (87,7%).  
Thái độ ủng hộ đối với các BPTT ở nghiên cứu này (98,4%) theo chúng tôi kết  
quả này là phù hợp với đối tượng nghiên cứu tại địa bàn Ninh Bình.  
5.2.3. Thực hành sử dụng bao cao su  
Tỷ lệ sử dụng BCS là 17,5% trong số đối tượng sử dụng các biện pháp tránh thai  
hiện đại. Tỷ lệ sử dụng BCS trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với tỷ lệ chung  
của toàn quốc, nhưng lại cao hơn nhiều địa phương khác như Vĩnh Phúc, Thái Bình và  
Hoà Bình, điều này có thể lý giải do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu tập  
trung ở người chồng chứ không phải toàn bộ nam giới trên địa bàn, đặc biệt sẽ bỏ sót  
một nhóm thanh niên chưa xây dựng gia đình. Các biện pháp tránh thai khác cũng được  
áp dụng nhiều như uống thuốc, đặt dụng cụ tử cung nhưng chủ yếu do nữ giới thực hiện.  
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nam giới có hiểu biết tốt, có thái độ tích cực  
với các BPTT và cả biện pháp BCS nhưng chưa thực sự chia sẻ trách nhiệm thực hiện  
KHHGĐ.  
Tìm hiểu lý do các đối tượng không sử dụng BCS cho thấy lý do vợ đã dùng một  
biện pháp khác là 53,5%. Giảm khoái cảm, không thực sự an toàn và sử dụng bất tiện  
cũng là những lý do khiến các cặp vợ chồng không chấp nhận dùng mặc dù họ biết rất rõ  
những tác dụng của bao cao su. Các lý do về phía người cung cấp không được các đối  
tượng nghiên cứu đề cập đến như những khó khăn đáng kể. Chỉ có hơn 6% đối tượng  
phàn nàn về khoảng cách đi mua bao cao su xa, không thuận tiện. Như vậy lý do không  
139  
sử dụng BCS hầu hết thuộc chủ quan ĐTNC. Các lý do về phía người cung cấp không  
phải là vấn đề chính khiến đối tượng không sử dụng.  
Trong số 35 nam giới đang sử dụng BCS thì có 54,3% trả lời người hay đi mua  
BCS là người vợ, nhưng cũng có đến 45,7% đối tượng chia sẻ nhiệm vụ này với vợ.  
Điều đó cho thấy rằng người vợ vẫn là nhân tố quan trọng nhất trong trách nhiệm thực  
hiện KHHGĐ. Hiệu thuốc và cán bộ Y tế/Dân số thôn là hai địa điểm được ĐTNC đến  
mua hoặc nhận BCS nhất. Điều đó cũng phù hợp với hiểu biết của đối tượng về nguồn  
cung cấp BCS.  
Trong những khó khăn của người đi mua BCS được các đối tượng đề cập nhiều  
nhất là tâm lý e ngại khi gặp người quen và gặp người bán hàng khác giới. Điều đó cho  
thấy đó cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tới việc tiếp cận và sử dụng  
BCS trong công tác KHHGĐ, Cần phải đẩy mạnh tăng cường công tác truyền thông để  
cho người dân xoá bỏ được rào cản tâm lý và coi đó như là một việc làm bình thường.  
Đồng thời cũng cần tăng cường công tác tiếp thị BCS với nhiều hình thức đa dạng,  
phong phú đến với những đối tượng sử dụng. Trong số những người sử dụng BCS thì  
hầu hết họ cho rằng đã được tư vấn về BCS và được hướng dẫn kỹ cách sử dụng. Chứng  
tỏ những người cung cấp BCS đã quan tâm đến khách hàng và hiệu quả của BCS. Có  
trên một nửa số đối tượng dùng BCS trong tất cả các lần sinh hoạt tình dục như vậy vừa  
có thể tránh thai và tránh được các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Gần một nửa số  
đối tượng chỉ quan tâm đến mục đích tránh thai. Họ chỉ sử dụng bao cao su trong những  
ngày dễ có thai. Vấn đề sử dụng BCS với bạn tình không được các đối tượng trả lời.  
Điều đó không có nghĩa là nam giới ở đây không có trường hợp nào có quan hệ tình dục  
ngoài hôn nhân. Như đã đề cập ở phần hạn chế của nghiên cứu những câu hỏi tế nhị,  
nhạy cảm có thể các đối tượng trả lời không trung thực, nên không thể khẳng định được  
về vấn đề này.  
Phần lớn các đối tượng đều có sự trao đổi thông tin với vợ về các lĩnh vực  
KHHGĐ. Số lần trao đổi thông tin về KHHGĐ giữa hai vợ chồng trong 6 tháng gần  
đây trên 3 lần rất thấp (14%), phần lớn là chỉ từ 1-2 lần (54%). Điều đó thể hiện sự  
chưa thường xuyên và chưa thực sự quan tâm chia sẻ thông tin một cách tích cực của  
người chồng đối với người vợ. Vai trò của nam giới trong địa bàn nghiên cứu mới  
chỉ dùng lại ở mức hiểu biết và trao đổi thông tin KHHGĐ với vợ mà chưa sẵn sàng  
chấp nhận chia sẻ trách nhiệm thực hiện tránh thai với vợ. Vì vậy, tỷ lệ sử dụng các  
biện pháp tránh thai dành cho nam giới trong địa bàn không cao: Tỷ lệ sử dụng BCS  
là 17,5%, đình sản nam 0%.  
6. Kết luận  
Kiến thức về KHHGĐ và bao cao su:  
-
-
Trên 80% đối tượng biết ít nhất 2 biện pháp tránh thai.  
85,5% đối tượng nghiên cứu biết tác dụng tránh thai của bao cao su.  
140  
-
-
Cán bộ y tế/dân số và phương tiện thông tin đại chúng là hai nguồn cung cấp  
thông tin được đối tượng biết đến nhiều nhất tương ứng là 96% và 80,5%.  
Cán bộ y tế/dân số và hiệu thuốc là hai nguồn cung cấp bao cao su được đối  
tượng biết đến nhiều nhất tương ứng với 91% và 79,5%.  
Thái độ đối với KHHGĐ nói chung và BCS nói riêng ở địa bàn nghiên cứu khá tốt:  
-
Tỷ lệ đối tượng đồng ý với kế hoạch hoá gia đình là 94% và đồng ý với sử dụng  
bao cao su là 78,5%.  
Thực hành:  
-
-
-
Tỷ lệ sử dụng BCS ở địa bàn nghiên cứu không cao 17,5%. Lý do không sử dụng  
BCS chủ yếu là người vợ đã dùng một BPTT khác 53,5%.  
Vai trò nam giới trong KHHGĐ chỉ dừng ở việc trao đổi thông tin về KHHGĐ  
với vợ.  
Việc chia sẻ trách nhiệm với người vợ trong KHHGĐ còn thấp (45,7% đi mua  
BCS), (14% trao đổi thông tin trên 3 lần trong 6 tháng),  
7. Kiến nghị  
-
-
-
Đối với y tế huyện/xã: Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục cho các đối  
tượng người chồng để nâng cao nhận thức, hiểu biết về các BPTT đặc biệt là biện  
pháp BCS trên các phương tiện thông tin đại chúng và các buổi họp thôn, tư vấn tại  
trạm y tế, cung cấp tài liệu…  
Đẩy mạnh công tác tiếp thị các BPTT nhất là BCS với nhiều loại hình cung ứng đảm  
bảo thuận tiện cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng như: Cung cấp tại trạm y tế, các  
hiệu thuốc. Cán bộ Y tế và Cộng tác viên Dân số tại các xã, thị trấn có thể tổ chức  
cung cấp BCS trực tiếp tại nhà cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng.  
Ở những địa bàn có tỷ lệ sử dụng bao cao su thấp, ngành y tế và cán bộ dân số  
cần tổ chức các buổi thảo luận nhóm về chủ đề KHHGĐ, trách nhiệm thực hiện  
các BPTT, vai trò nam giới trong KHHGĐ  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Báo cáo Tổng kết công tác DS- KHHGD Huyện Kim Sơn (2008-2012).  
2. Báo cáo Tổng kết của Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Ninh Bình (2009-2012).  
3. Ban chỉ đạo Tổng điều tra Dân số và nhà ở Trung ương (2000), "Tổng điều tra Dân  
số và nhà ở Việt Nam 1999", Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội  
4. Bộ Y tế - Dự án đào tạo (03/SIDA) (1993), ''Xác định cỡ mẫu trong các nghiên cứu  
đo lường sức khoẻ'', Hà Nội .  
5. Nguyễn Đức Hậu, Đàm Khải Hoàn và cộng sự (2001), ''Thực trạng tình hình sử dụng  
bao cao su tránh thai ở tỉnh Thái Nguyên năm 2001''.  
141  
6. Trần Thị Phương Mai và cộng sự (2001), ''Vai trò của nam giới trong thực hiện  
KHHGĐ tại Thái Bình và Hoà Bình'', Báo cáo đề tài nghiên cứu cấp bộ, Bộ Y tế -  
Vụ BVSKBMTE/KHHGĐ, Hà Nội.  
7. Uỷ ban quốc gia Dân số - KHHGĐ (2002), ''Chiến lược tiếp thị xã hội các phương  
tiện tránh thai và phòng chống HIV/AIDS giai đoạn 2002 - 2005'', Hà Nội.  
8. Uỷ ban quốc gia Dân số - KHHGĐ ''Chiến lược Dân số Việt Nam năm 2001 - 2010'',  
Hà Nội, 2002  
142  
pdf 12 trang yennguyen 11720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng bao cao su trong kế hoạch hóa gia đình của nam giới có vợ tại xã Thượng Kiệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình năm 2013", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmo_ta_kien_thuc_thai_do_va_thuc_hanh_su_dung_bao_cao_su_tron.pdf