Luận văn Tác động của động lực phụng sự công, sự hài lòng trong công việc và sự cam kết với tổ chức đến hiệu quả công việc của viên chức tại Cơ sở xã hội Nhị Xuân

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
-----------------  
HOÀNG TRỌNG QUÝ  
TÁC ĐỘNG CỦA ĐỘNG LỰC PHỤNG SỰ CÔNG,  
SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC VÀ  
SỰCAM KẾT VỚI TỔ CHỨC ĐẾN HIỆU QUẢ  
CÔNG VIỆC CỦA VIÊN CHỨC TẠI  
CƠ SỞ XÃ HỘI NHỊ XUÂN  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2019  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
-----------------  
HOÀNG TRỌNG QUÝ  
TÁC ĐỘNG CỦA ĐỘNG LỰC PHỤNG SỰ CÔNG,  
SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC VÀ  
SỰCAM KẾT VỚI TỔ CHỨC ĐẾN HIỆU QUẢ  
CÔNG VIỆC CỦA VIÊN CHỨC TẠI  
CƠ SỞ XÃ HỘI NHỊ XUÂN  
Chuyên ngành: Quản lý công (Hệ điều hành cao cấp)  
Mã số: 8340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. ĐINH CÔNG KHẢI  
Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2019  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi cam đoan đề tài nghiên cứu: “Tác động của động lực phụng sự công,  
sự hài lòng trong công việc và sự cam kết với tổ chức đến hiệu quả công việc  
của viên chức tại Cơ sở xã hội Nhị Xuân” là công trình nghiên cứu riêng của tôi.  
Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự giúp đở và hướng  
dẫn trực tiếp của tiến sỹ Đinh Công Khải.  
Trong luận văn nguồn tài liệu dùng làm tham khảo được trích dẫn rõ ràng tên  
tác giả, tên công trình. Các kết quả và số liệu nghiên cứu trong luận văn này là do  
tôi tự thực hiện, trung thực. Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo,  
tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn.  
Học viên thực hiện  
Hoàng Trọng Quý  
 
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
TÓM TẮT - ABSTRACT  
 
PHỤ LỤC  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
 
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU  
Mục tiêu của đề tài này là tìm ra các yếu tố thuộc các bình diện tác động đến  
Động lực phụng sự công của cán bộ viên chức đang làm công tác cai nghiện ma túy  
đến Hiệu quả công việc cũng như bình diện về Sự hài lòng trong công việc và Sự  
cam kết với tổ chức đến Hiệu quả công việc của cán bộ, viên chức.  
Dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu trước đây về động lực phụng sự công,  
sự hài lòng trong công việc và sự cam kết với tổ chức đến hiệu quả công việc để  
làm cơ sở lý luận... Bài luận văn tham khảo các thang đo phù hợp với yêu cầu  
nghiên cứu; sau đó, điều chỉnh thang đo và xây dựng bảng câu hỏi thông qua  
phương pháp thảo luận nhóm với các cán bộ có chuyên môn về công tác xã hội học,  
có thâm niên công tác lâu năm và hiện đang là cán bộ lãnh đạo, quản lý của Cơ sở  
xã hội Nhị Xuân và sau đó đưa ra mô hình nghiên cứu.  
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để xây dựng phiếu khảo  
sát. Trên cơ sở lấy 120 phiếu khảo sát góp ý trong các đối tượng là viên chức đang  
công tác tại Cơ sở xã hội Nhị Xuân trực thuộc Lực lượng TNXP Thành phố Hồ Chí  
Minh, tác giả sử dụng phương pháp định lượng để thực hiện. Sau khi có được các  
phiếu khảo sát, tác giả đã sử dụng các các kiểm định như: Cronbach Alpha, EFA  
(phân tích nhân tố khám phá) để kiểm định thang đo, phân tích hồi quy để chứng  
minh các giả thuyết và phân tích những nhân tố ảnh hưởng của những biến định tính  
tới các thang đo bằng T-test và phân tích phương sai (ANOVA) để kiểm định sự  
khác biệt có ý nghĩa thống kê.  
Kết quả nghiên cứu từ bài luận văn này cho chúng ta thấy tất cả các giả  
thuyết đưa ra đã được chấp nhận. Cụ thể hơn, yếu tố Động lực phụng sự tác động  
tích cực đến Sự hài lòng trong công việc; Động lực phụng sự công tác động tích cực  
đến Sự cam kết với tổ chức; Động lực phụng sự công tác động tích cực đến Hiệu  
quả công việc; Sự hài lòng trong công việc tác động đến Hiệu quả công việc; Sự  
cam kết với tổ chức tác động đến Hiệu quả công việc.  
 
Qua kết quả nghiên cứu đã cho thấy những viên chức có động lực phụng sự  
công càng cao thì sự hài lòng trong công việc càng cao, sự cam kết với tổ chức càng  
cao và hiệu quả làm việc sẽ tốt hơn. Viên chức có Sự hài lòng trong công việc và Sự  
cam kết với tổ chức càng cao cũng sẽ làm gia tăng chất lượng và hiệu quả công việc  
tốt hơn những người có Động lực phụng sự, Sự hài lòng trong công việc và Sự cam  
kết với tổ chức thấp.  
Từ khóa: Động lực phụng sự công; Sự hài lòng trong công việc; Sự cam kết  
với tổ chức; Hiệu quả công việc.  
ABSTRACT  
The objective of this study is to find the impact of public service motivation  
of officials and employees who are working on drug detoxification on job  
performance through job satisfaction and commitment to the organization. .  
Based on previous research results on the impact of public service  
motivation, job satisfaction and commitment to organization to work efficiency as a  
theoretical basis, research paper refer to scales suitable for research problems; After  
that, adjust the scale and develop a questionnaire through qualitative research  
method of group discussions with officials with expertise in sociological work,  
long-term working experience and currently working as a staff. the leadership and  
management of Nhi Xuan Social Facility and then launched the research model.  
Based on the survey of 120 surveys on the subjects who are working at the  
Nhi Xuan Social Facility under Ho Chi Minh City's Voluntary Youth Force, the  
author uses quantitative methods to implement the items. research objectives.  
Specifically, the paper performs tests such as Cronbach Alpha, EFA discovery  
factor analysis to test scales, regression analysis to prove hypotheses and analyze  
the effect of qualitative variables on scales with T-test and ANOVA analysis to test  
for significant differences.  
Research results from this study show that all research hypotheses are  
accepted. More specifically, the motivational factor for public works positively and  
statistically affects work performance through job satisfaction and commitment to  
the organization.  
From the research results, it is shown that the higher the public employees'  
motivation, the higher the job satisfaction, the higher the commitment to the  
organization and the better their performance. The higher the employee's  
satisfaction with the job and the higher the commitment to the organization, the  
better the efficiency of the work than those who are motivated to serve, job  
satisfaction and commitment to the organization. low. Since then, the author  
proposed solutions ... to improve the work efficiency of officials at Nhi Xuan Social  
Facility.  
Keywords: Public service motivation; Satisfaction at work; Commitment to  
the organization; Job performance.  
1
Chương 1  
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI  
1.1. Xác định vấn đề nghiên cứu  
Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) là một trung tâm kinh tế và văn hóa lớn  
nhất nước ta, là cửa ngỏ giao thương và hội nhập quốc tế, thu hút rất nhiều công ty,  
tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước đến hợp tác đầu tư, mở rộng thị trường, cũng  
như những người dân nhập cư từ các địa phương của đất nước đến sinh sống, tìm  
kiếm việc làm và tạo dựng cuộc sống. Cùng với những mặt mạnh của sự phát triển,  
Thành phố cũng đang đối mặt với những thách thức và diễn biến hết sức phức tạp  
của các loại tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn và tội phạm liên quan ma túy.  
Đứng trước tình hình đó, Thành phố đã quyết liệt triển khai các biện pháp  
phòng, chống tệ nạn ma túy, đẩy mạnh công tác cai nghiện phục hồi, giải quyết các  
vấn đề xã hội phát sinh nhằm kéo giảm tỷ lệ tái nghiện, hạn chế số người nghiện  
mới, bảo đảm môi trường sống được bình yên cho người dân và sự phát triển năng  
động và bền vững của thành phố, trong đó có vai trò đóng góp của các cơ sở cai  
nghiện ma túy.  
Cai nghiện ma túy bắt buộc là một trong nhiều hình thức cai nghiện được áp  
dụng tùy theo đặc điểm người nghiện để đạt được hiệu quả, bao gồm: cắt cơn, chăm  
sóc sức khỏe, giáo dục thay đổi hành vi nhân cách, dạy văn hóa - dạy nghề, tạo việc  
làm, tham gia lao động trị liệu,... Đây là cả một quy trình chặt chẽ, đồng bộ, khoa  
học và đầy tính giáo dục, nhân văn. Nhiệm vụ đó chưa bao giờ được xem là dễ  
dàng, đơn giản, mang lại kết quả tức thì và không phải ai cũng có thể tham gia thực  
hiện được. Xét về mặt khoa học và thực tiễn cho thấy đây là công việc hết sức phức  
tạp, khó khăn, lâu dài và cả tính chất nguy hiểm. Việc này, cần có một đội ngũ cán  
bộ làm công tác cai nghiện ma túy có chuyên môn nghiệp vụ về tâm lý xã hội, đặc  
biệt là kỹ năng tư vấn, ổn định tâm lý cho người cai nghiện ma túy và phải có tâm  
huyết mới có thể làm được.  
   
2
Theo số liệu của Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội, năm 2018, cả nước có  
222.852 người nghiện có hồ sơ quản lý, tăng hơn 14.000 người so với năm 2017.  
Ngoài nghiện heroin, số người sử dụng ma túy tổng hợp dạng Amphetamine (ATS),  
cỏ Mỹ “XLR-11” tăng nhanh, đặc biệt ở các tỉnh, thành phố phía Nam như: Thành  
phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu,... làm ảnh hưởng nghiêm trọng  
đến trật tự an toàn xã hội. Cả nước có 132 cơ sở cai nghiện ma túy, trong đó Thành  
phố Hồ Chí Minh có 16 cơ sở, hiện đang quản lý, điều trị hơn 11.000 người nghiện  
ma túy, với đội ngũ viên chức làm công tác giáo dục, quản lý gần 3.000 người,  
trong đó đa phần có trình độ nghiệp vụ chuyên môn thấp, thiếu kinh nghiệm quản lý  
các đối tượng cai nghiện ma túy, chưa được đào tạo chuyên môn về tâm lý, xã hội,  
lại luôn thường trực đối phó với đủ mọi bất trắc có thể xảy ra, kể cả bị phơi nhiễm  
HIV (Báo cáo của Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma  
túy, mại dâm, 2018)… Cụ thể, thời gian vừa qua các cơ sở cai nghiện ma túy trên  
địa bàn cả nước nói chung và các tỉnh thành phía Nam nói riêng đã xảy ra liên tiếp  
nhiều vụ việc học viên cai nghiện ma túy bạo động, đập phá tài sản và trốn trường  
tập thể như: Đồng Nai, Vũng Tàu, Long An, Tây Ninh, Bến Tre, Tiền Giang… làm  
mất an ninh trật tự trên địa bàn, gây hoang mang cho dư luận xã hội.  
Để xảy ra các vụ việc trên ngoài các nguyên nhân khách quan như: cơ sở vật  
chất đã hư hỏng, xuống cấp do thời gian dài sử dụng, trang thiết bị phục vụ cho hoạt  
động cai nghiện còn thiếu thốn; điều kiện ăn ở, sinh hoạt cho người nghiện không  
đảm bảo cho hoạt động quản lý giáo dục người cai nghiện cũng như nhu cầu văn  
hóa, giải trí của người cai nghiện (Báo cáo của Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội,  
2017)...; những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh đưa người nghiện đi cai bắt  
buộc còn nhiều bất cập và khó thực hiện. Theo ông Lê Đức Hiền, Phó Cục trưởng  
Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho  
biết: “Nhiều quy định của Luật Phòng chống ma túy và các luật có liên quan chưa  
cụ thể, không rõ ràng, nhiều nội dung phải luật định thì lại được quy định ở văn bản  
dưới luật, dẫn đến không phù hợp về thể thức, thẩm quyền nên hiệu lực pháp luật  
không cao. Nhiều quy định dưới luật không có tính ổn định, sửa nhiều lần, quy định  
3
tản mát, khó hiểu, khó áp dụng. Nhiều quy định không thống nhất, thiếu đồng bộ  
giữa pháp luật về phòng, chống ma túy và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính  
(XLVPHC), gây ra lúng túng trong tổ chức thực hiện, cùng một nội dung nhưng  
mỗi địa phương thực hiện theo một cách khác nhau, thậm chí có địa phương không  
biết phải làm như thế nào; nhiều quy định chưa phân định rõ trách nhiệm, thẩm  
quyền, dẫn đến có hiện tượng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan chức  
năng, nhất là ở địa phương ...”. Nguyên nhân chủ quan là do các cơ sở chỉ đặt nhiệm  
vụ quản lý lên hàng đầu và đội ngũ nhân viên tại các cơ sở cai nghiện đa số chưa có  
động lực phụng sự công, có nghiệp vụ chuyên môn tương đối thấp, chưa an tâm  
công tác, còn thiếu nhiệt huyết trong thực hiện nhiệm vụ, chưa thực sự cảm thông  
với hoàn cảnh người nghiện, chưa có sự giúp đỡ tận tâm, nhiệt thành đối với người  
nghiện từ đó không nắm bắt được diễn biến tâm lý, tư tưởng người nghiện một cách  
kịp thời để giải tỏa những bức xúc, băn khoăn, vướng mắc của họ trong quá trình  
cai nghiện tại các cơ sở (Báo cáo của Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội, 2017).  
Theo thống kê của Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội năm 2017, đa phần viên  
chức đang làm việc có nghiệp vụ chuyên môn thấp. Bằng cấp chuyên môn nghiệp  
vụ có liên quan đến các ngành nghề về tâm lý học, xã hội học, công tác xã hội …  
còn hạn chế; kinh nghiệm thực tiễn quản lý người nghiện còn ít, cán bộ chuyên môn  
về y tế, giáo dục, tư vấn chiếm tỷ lệ thấp so với tổng số cán bộ và chưa được huấn  
luyện bài bản, thường xuyên. Các hoạt động chuyên môn theo quy trình cai nghiện  
tại nhiều cơ sở nghèo nàn, chưa được coi trọng đúng mức hoặc làm theo lối mòn cũ,  
ít hiệu quả. Thái độ cán bộ đối với học viên có khi quá thân thiện “vì nghĩ họ hoàn  
toàn là người bệnh”, có nơi vẫn nghiêm khắc theo xử lý hành chính. Theo các  
chuyên gia quốc tế, mỗi người cai nghiện được lập một kế hoạch cai nghiện riêng  
khi mới được chuyển đến các cơ sở cai nghiện với sự hỗ trợ của bác sĩ, cán bộ tâm  
lý, giáo dục … nhưng ta chưa làm được, chưa thể hiện được động lực phụng sự  
hoặc chưa thật sự hài lòng trong công việc; vào làm việc trong cơ sở cai nghiện do  
chưa tìm được việc làm theo nguyện vọng và nếu có nơi làm việc tốt hơn sẵn sàng  
bỏ việc; chưa thật sự hài lòng với khoản thu nhập, chưa an tâm với môi trường công  
4
tác, cũng như điều kiện làm việc và vẫn còn có tư tưởng “Đứng núi này, trông núi  
nọ”; chưa thật sự chia sẻ với điều kiện, hoàn cảnh của người nghiện; ngại gần gũi,  
có khoảng cách với người nghiện, chỉ làm cho hết việc mà chưa thể hiện rõ vai trò  
phụng sự tổ chức, chưa hài lòng với môi trường làm việc của Cơ sở từ đó chưa gắn  
bám với đơn vị làm cho hiệu quả công việc không cao, do đó để họ hoàn thành  
nhiệm vụ và mang lại hiệu quả trong công việc luôn là một câu hỏi lớn.  
Như chúng ta đã biết Động lực phụng sự công (Public Service Motivation -  
PSM) trong đội ngũ nhân viên là một trong những yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt  
động của tổ chức và như vậy, nếu mọi viên chức ý thức được bản thân mình là một  
trong những nhân tố góp sức xây dựng tổ chức thì họ sẽ tận tâm hơn với công việc  
của bản thân, hài lòng với công việc (job satisfaction - JS), có một sự cam kết với tổ  
chức (organizational commitment - OC) tốt hơn qua đó hiệu quả trong công việc  
(job performance - JP) sẽ tốt hơn. Lực lượng TNXP Thành phố có 07 đơn vị trực  
thuộc thực hiện các nhiệm vụ xã hội và công ích, trong đó có 04 đơn vị trực thuộc  
thực hiện nhiệm vụ quản lý người cai nghiện ma túy. Các đơn vị này có đội ngũ  
viên chức thường xuyên gần 1.000 người; quy mô quản lý thường xuyên gần 7.000  
người cai nghiện ma túy.  
Cơ sở xã hội Nhị Xuân được thành lập theo Quyết định số 5900/QĐ-UBND  
ngày 03 tháng 12 năm 2014 của Ủy ban nhân dân TP.HCM về thành lập Cơ sở xã  
hội Nhị Xuân trực thuộc Lực lượng TNXP Thành phố, là cơ sở điều trị nghiện đa  
chức năng (điều trị nghiện ma túy tự nguyện và bắt buộc): “Có chức năng tiếp nhận  
người nghiện ma túy do các cơ quan, tổ chức, gia đình người nghiện giới thiệu đến  
hoặc bản thân người nghiện ma túy tự nguyện đến điều trị; tiếp nhận và điều trị cho  
người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định trong thời gian lập hồ sơ để Tòa  
án nhân dân xem xét, quyết định đưa vào cơ sở điều trị nghiện bắt buộc; cắt cơn,  
giải độc, tư vấn tâm lý, phục hồi, chăm sóc sức khỏe cho người nghiện ma túy; lồng  
ghép điều trị Methadone, liên thông xét nghiệm, điều trị ARV cho bệnh nhân nhiễm  
HIV/AIDS; rà soát, phân loại, xác minh nơi cư trú để chuyển gửi điều trị theo quy  
định”.  
5
Cơ sở có địa bàn trú đóng tại xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn; cách  
Thành phố Hồ Chí Minh gần 30km và có quy mô tiếp nhận, quản lý hơn 2.500  
người cai nghiện ma túy. Hiện nay Cơ sở xã hội Nhị Xuân đang quản lý trên 1.700  
người cai nghiện ma túy bắt buộc (trong đó, với 60% người sử dụng ma túy tổng  
hợp; 91% người không có nơi cư trú ổn định, sống lang thang và trên 65% có tiền  
án, tiền sự); hơn 500 học viên cai nghiện ma túy diện tự nguyện có đóng phí, với  
bộ máy viên chức là 236 người.  
Với môi trường làm việc đặc thù, hết sức khó khăn, phức tạp (nơi làm việc  
hẻo lánh, tiếp xúc thường xuyên với người cai nghiện ma túy, nguy cơ cao bị mắc  
các bệnh truyền nhiễm, không an toàn ...) việc chăm lo các chế độ chính sách để  
nhân viên có thể gắn bó lâu dài với đơn vị là vấn đề được lãnh đạo Cơ sở xã hội Nhị  
Xuân luôn quan tâm. Thế nhưng trong thời gian từ năm 2016 đến nay, theo báo cáo  
thường niên của Cơ sở xã hội Nhị Xuân, việc tuyển dụng nhân sự tại đơn vị gặp rất  
nhiều khó khăn và khi tuyển được nhân sự vào làm việc thì việc gắn bó của các viên  
chức mới với đơn vị lại rất thấp, chính tình hình này đã ảnh hưởng chưa tốt đến việc  
thực hiện nhiệm vụ tại Cơ sở quản lý người nghiện ma túy. Những vấn đề này đang  
được lãnh đạo Lực lượng TNXP Thành phố và lãnh đạo Cơ sở xã hội Nhị Xuân  
quan tâm để giải quyết. Trong các báo cáo thường niên của Cơ sở xã hội Nhị Xuân  
có nêu các nguyên nhân ảnh hưởng đến hạn chế như: đặc điểm công việc hết sức  
đặc thù, nguy hiểm; chưa có giải pháp thích hợp để hỗ trợ nhân viên mới; còn hạn  
chế trong việc đảm bảo sự công bằng; việc khen thưởng và công nhận thành quả  
làm việc của nhân viên vẫn còn hình thức, chưa tạo được động cơ phấn đấu, động  
lực phụng sự tổ chức của nhân viên chưa thể hiện một cách cụ thể và rõ nét... Tuy  
nhiên, việc tìm ra các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại này vẫn còn hết sức  
lúng túng và chưa đạt được hiệu quả, đồng thời cho đến hôm nay, trong Lực lượng  
TNXP Thành phố chưa có một nghiên cứu chính thức nào được thực hiện để đánh  
giá các nhân tố tác động đến sự gắn bó của nhân viên hay nói cách khác là xác định  
các mức độ sẵn lòng dành hết công sức để phụng sự cho tổ chức. Xuất phát từ tình  
hình thực tế nêu trên, là một cán bộ đã và đang công tác trong lĩnh vực cai nghiện  
6
ma túy nhận thức được ý nghĩa vô cùng quan trọng của động lực phụng sự, hiệu quả  
công việc của cán bộ, viên chức trong các đơn vị có tính đặc thù như cơ sở cai  
nghiện, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Tác động của động lực phụng sự công, sự hài  
lòng trong công việc và sự cam kết với tổ chức đến hiệu quả công việc của viên  
chức tại Cơ sở xã hội Nhị Xuân” để làm nội dung luận văn thạc sỹ. Việc nghiên  
cứu này vừa mang ý nghĩa lý luận, cũng như trong thực tiễn góp phần đề xuất các  
chính sách xây dựng tổ chức hoạt động hiệu quả hơn.  
Thuyết động lực phụng sự công cho rằng động lực phụng sự là sự tích cực  
liên quan đến việc hành vi và thái độ (Perry và Hondeghem, 2008; Perry và Wise,  
1990). Động cơ của động lực phụng sự công là nguồn gốc của hành vi và hành động  
để đạt được kết quả tốt vì lợi ích công cộng. Những người ủng hộ lý thuyết Động  
lực phụng sự công cho rằng các cá nhân hài lòng hơn với việc làm khu vực công  
cộng của họ và cam kết với các tổ chức áp đặt vai trò đó với họ (Pandey và Stazyk,  
2008; Perry và Wise, 1990). Người dân ngày càng yêu cầu chất lượng các dịch vụ  
công cao trong giao dịch hằng ngày của họ với tổ chức công (L.T. Tuan, 2017). Vì  
vậy, khẳng định động lực phụng sự công là một khuynh hướng cá nhân, quan trọng  
hơn nữa là giải thích được thái độ làm việc của viên chức (Castaing, 2006; Kim,  
2011). Tại các quốc gia đã có khá nhiều công trình nghiên cứu được công bố nói về  
lĩnh vực nêu trên cụ thể như: Công trình của Sangmook Kim, (2012), đã cho chúng  
ta thấy được động lực phụng sự công có tác dụng mạnh mẽ đến sự hài lòng trong  
công việc và sự cam kết với tồ chức của đội ngũ viên chức ở Hàn Quốc. Nghiên cứu  
trên đã cung cấp nhiều tư liệu quý về cơ sở lý luận, kiến thức về quản lý, kinh  
nghiệm thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước trên nhiều góc độ. Tuy nhiên,  
theo tôi được biết cho đến thời điểm này có ít những công trình nghiên cứu đối với  
những tác động của động lực phụng sự công và sự hài lòng trong công việc, sự cam  
kết với tổ chức đến hiệu quả công việc của cán bộ, nhân viên tại các cơ sở cai  
nghiện ma túy và đặc biệt là các cơ sở cai nghiện có địa bàn trú đóng tại những nơi  
vùng sâu, vùng xa. Vì vậy, đây là đề tài có ý nghĩa thiết thực được tiếp tục nghiên  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 119 trang yennguyen 17240 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Tác động của động lực phụng sự công, sự hài lòng trong công việc và sự cam kết với tổ chức đến hiệu quả công việc của viên chức tại Cơ sở xã hội Nhị Xuân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_tac_dong_cua_dong_luc_phung_su_cong_su_hai_long_tro.pdf