Luận văn Quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường Trung học phổ thông Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Phạm Chí Thân  
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC  
CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG  
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN 7,  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC  
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Phạm Chí Thân  
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC  
CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG  
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN 7,  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Chuyên ngành : Quản lí giáo dục  
Mã số  
: 8140114  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS.TS. NGUYỄN VĂN Y  
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số liệu, minh chứng  
được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố. Các tài liệu được sử  
dụng trong luận văn này đều được trích dẫn đầy đủ chính xác và được ghi trong phần  
danh mục tài liệu tham khảo.  
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận văn của mình.  
Tác giả  
Phạm Chí Thân  
LỜI CẢM ƠN  
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Văn Y, người đã tận tình  
hướng dẫn và giúp tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này.  
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ  
Chí Minh, khoa Khoa học Giáo dục và Phòng Sau đại học đã giảng dạy và tạo điều  
kiện cho tôi hoàn thành khóa học cũng như hoàn thành luận văn này.  
Tác giả xin chân thành cảm ơn đến Ban lãnh đạo, quý thầy cô, quý phụ huynh  
và các em học sinh trường THPT Ngô Quyền, THPT Tân Phong và THPT Lê Thánh  
Tôn Quận 7 đã tạo điều kiện, giúp đỡ trong suốt quá trình khảo sát.  
Xin cảm ơn đến tất cả bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, hỗ trợ tôi  
hoàn thành luận văn này.  
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, mặc dù tác giả đã nhận được rất  
nhiều góp ý của thầy cô, đồng nghiệp nhưng cũng không tránh khỏi những thiếu sót.  
Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô, quý đồng nghiệp để luận  
văn được hoàn thiện hơn.  
Xin trân trọng cảm ơn.  
Tác giả  
Phạm Chí Thân  
MỤC LỤC  
Trang phụ bìa  
Lời cam đoan  
Lời cảm ơn  
Mục lục  
Danh mục các từ viết tắt  
Danh mục các bảng  
Danh mục biểu đồ  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Cụm từ viết đầy đủ  
Cán bộ quản lí  
Chữ viết tắt  
CBQL  
CMHS  
CSVC  
GDĐĐ  
GV  
Cha mẹ học sinh  
Cơ sở vật chất  
Giáo dục đạo đức  
Giáo viên  
GVCN  
HĐTN  
HS  
Giáo viên chủ nhiệm  
Hoạt động trải nghiệm  
Học sinh  
HT  
Hiệu trưởng  
NGLL  
PHT  
Ngoài giờ lên lớp  
Phó Hiệu trưởng  
Quản lí giáo dục  
Trung học cơ sở  
QLGD  
THCS  
THPT  
Tp.HCM  
TLTN  
Trung học phổ thông  
Thành phố Hồ Chí Minh  
Trợ lí thanh niên  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
1
MỞ ĐẦU  
1. Lí do chọn đề tài  
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI  
(Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội dung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào  
tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã đưa ra mục tiêu “Đối với giáo dục  
phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công  
dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng  
cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức,  
lối sống” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2013).  
Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ban hành Chỉ thị 42-  
CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lí tưởng cách  
mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015-2030. Trong đó khẳng  
định công tác giáo dục lí tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa luôn được Đảng,  
Nhà nước, gia đình, nhà trường và toàn xã hội quan tâm (Đảng cộng sản Việt Nam,  
2015).  
Báo cáo tổng kết năm học 2017-2018 của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố  
Hồ Chí Minh đánh giá hầu hết học sinh (HS) trên địa bàn thành phố có chuẩn mực đạo  
đức tốt, hành vi ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức của xã hội, tôn trọng, lễ  
phép với thầy, cô giáo và người lớn. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận HS có hành vi  
lệch chuẩn về đạo đức, vô lễ với giáo viên (GV), nói tục, chửi thề, bạo lực học đường  
diễn ra ở một số trường trên địa bàn thành phố. Hoạt động giáo dục đạo đức (GDĐĐ),  
lối sống cho HS còn bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế, nội dung GDĐĐ chưa thiết thực;  
công tác quản lí ở một số trường còn bất cập; công tác phối hợp giữa gia đình, nhà  
trường, xã hội trong giáo dục HS chưa chặt chẽ. Các trường trung học phổ thông  
(THPT) trên địa bàn Quận 7 cũng không đứng ngoài thực trạng đó. Ngoài tất cả những  
nguyên nhân trên, thì một nguyên nhân rất quan trọng đó là các em còn thiếu kỹ năng  
sống, chưa được quan tâm GDĐĐ, các trường chỉ quan tâm đến công tác dạy chữ mà  
chưa quan tâm nhiều đến công tác dạy người. Ngoài ra, các hoạt động GDĐĐ ở trường  
THPT chưa mang lại hiệu quả cao, chưa có sự chuyển biến rõ rệt trong nhận thức của  
 
2
GV và HS. Tất cả điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết là đòi hỏi chúng ta phải nhận thức  
đúng vai trò của giáo dục nói chung và GDĐĐ nói riêng cho HS, nhất là học sinh  
THPT.  
Nguyên nhân của những thực trạng trên còn xuất phát từ hoạt động quản lí giáo  
dục. Hầu hết các trường chỉ quan tâm đến hoạt động dạy học, chưa quan tâm đúng  
mức đến các hoạt động GDĐĐ, lối sống văn hóa. Các hoạt động GDĐĐ, lối sống văn  
hóa cho HS chưa đi vào chiều sâu, chưa có nhiều hình thức đa dạng, chưa nhận được  
sự hỗ trợ của cha mẹ học sinh (CMHS). Công tác triển khai, quản lí chưa thật sự được  
lãnh đạo các đơn vị quan tâm thực hiện.  
Trước thực trạng đó, ngành giáo dục đào tạo đã chỉ đạo triển khai lồng ghép  
GDĐĐ cho HS vào các môn học, các hoạt động ngoài giờ lên lớp và hoạt động trải  
nghiệm (HĐTN). Ngoài các nội dung GDĐĐ đã được lồng ghép trong các môn học  
chính khóa, nhất là bộ môn Giáo dục Công dân, các trường THPT đã có nhiều đổi mới  
nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục qua các tiết học ngoài nhà trường, học tập  
qua các chuyên đề, các HĐTN. Tuy nhiên, việc này chưa được thực hiện hiệu quả, nội  
dung, phương pháp, hình thức thực hiện và kiểm tra đánh giá chưa được quan tâm  
đúng mức. Các tiết ngoài giờ lên lớp hầu hết GV chỉ làm công tác sự vụ của lớp và chỉ  
bộ phận giáo viên chủ nhiệm (GVCN) lớp thực hiện ở lớp mình. Các HĐTN ngoài nhà  
trường chưa được tổ chức thường xuyên mà chỉ tổ chức theo từng chủ đề, chủ điểm.  
Để hoạt động GDĐĐ cho HS đạt hiệu quả cao thì không thể không kể đến vai  
trò của công tác quản lí hoạt động GDĐĐ, nó góp phần phát triển nhân cách của HS.  
Trên thực tế, công tác này ở các trường nói chung và các trường THPT Quận 7 nói  
riêng còn nhiều bất cập, đặc biệt là những yếu kém trong tổ chức hoạt động và quản lí.  
Các trường chỉ chú trọng đến việc trang bị những kiến thức chuyên môn mà chưa quan  
tâm nhiều đến các hoạt động GDĐĐ, lối sống cho HS đúng tinh thần đổi mới giáo dục.  
Với những lí do trên, tôi quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Quản lí hoạt động  
giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học phổ thông Quận 7, Thành  
phố Hồ Chí Minh” nhằm đánh giá thực trạng quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS ở các  
trường THPT và đề xuất biện pháp quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS ở các trường  
THPT Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.  
3
2. Mục đích nghiên cứu  
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và đánh giá thực trạng quản lí hoạt động GDĐĐ  
cho HS ở các trường THPT Quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất một số  
biện pháp quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS góp phần phát triển toàn diện người học.  
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu  
Khách thể: Hoạt động GDĐĐ cho HS ở các trường THPT.  
Đối tượng: Quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS ở các trường THPT Quận 7,  
Thành phố Hồ Chí Minh.  
4. Giả thuyết khoa học  
Hoạt động GDĐĐ cho HS ở các trường THPT Quận 7, Thành phố Hồ Chí  
Minh trong những năm qua có nhiều cố gắng nhưng vẫn còn một số hạn chế chưa đáp  
ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Trong đó công tác quản  
lí hoạt động GDĐĐ cho HS THPT chưa thực sự mang lại hiệu quả thiết thực. Nếu  
khảo sát và đánh giá đúng thực trạng, người nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản  
lí hoạt động GDĐĐ cho HS có tính cần thiết và khả thi khoa học từ đó nâng cao chất  
lượng hoạt động GDĐĐ cho HS các trường THPT trên địa bàn Quận 7.  
5. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Hệ thống hóa cơ sở lí luận về quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS tại trường  
THPT.  
Đánh giá thực trạng quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS ở các trường THPT  
Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.  
Đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS ở các trường  
THPT Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.  
Khảo nghiệm tính cấp thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất.  
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu  
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu lí luận, thực trạng và các biện pháp  
quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS ở các trường THPT Quận 7.  
Về phạm vi khảo sát: Đề tài tiến hành khảo sát 3 trường THPT công lập trên địa  
bàn Quận 7 gồm trường THPT Lê Thánh Tôn, THPT Tân Phong, THPT Ngô Quyền.  
4
Về thời gian: Để khảo sát thực trạng, đề tài sử dụng các số liệu, dữ kiện được  
thu thập, nghiên cứu trong 3 năm học từ năm 2016 đến 2019.  
7. Phương pháp nghiên cứu  
7.1. Cơ sở phương pháp luận  
7.1.1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc  
Vận dụng quan điểm này vào đề tài nhằm nghiên cứu thực trạng quản lí hoạt  
động GDĐĐ cho HS, đánh giá kết quả GDĐĐ cho HS trong mối quan hệ với công tác  
quản lí hoạt động GDĐĐ tại trường THPT.  
Nghiên cứu quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS cần nghiên cứu cụ thể như: chủ  
thể quản lí, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức trong quản lí hoạt động  
GDĐĐ cho HS.  
Khi đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS, các biện pháp  
được nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm tạo ra sự hỗ trợ hợp lí  
giữa các biện pháp trong việc nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS.  
7.1.2. Quan điểm lịch sử - logic  
Vận dụng quan điểm lịch sử - logic vào đề tài nhằm nghiên cứu thực trạng quản  
lí hoạt động GDĐĐ cho HS bằng cách tìm hiểu, phát hiện sự việc, phát triển vào  
những khoảng thời gian, không gian và điều kiện cụ thể. Dựa vào lịch sử, các logic  
khách quan từ đó xây dựng các giả thuyết khoa học, điều này giúp cho công tác khảo  
sát thực trạng được chính xác, phù hợp với mục đích nghiên cứu đề tài.  
7.1.3. Quan điểm thực tiễn  
Vận dụng quan điểm thực tiễn vào đề tài nhằm nghiên cứu và đánh giá công tác  
quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS trong điều kiện cụ thể tại các trường THPT trên địa  
bàn Quận 7. Khi đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS phải dựa  
vào điều kiện thực tế của các trường để đưa ra biện pháp mang tính khả thi.  
7.2. Phương pháp nghiên cứu  
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận  
Sử dụng các phương pháp phân tích, phân loại, tổng hợp các vấn đề nghiên cứu  
nhằm thu thập các tài liệu liên quan đến hoạt động GDĐĐ cho HS và quản lí hoạt  
5
động GDĐĐ cho HS ở các trường THPT nhằm xây dựng cơ sở lí luận có liên quan đến  
đề tài, định hướng cho việc thiết kế công cụ nghiên cứu và quá trình điều tra thực tiễn.  
Phân tích, phân loại, xác định các khái niệm cơ bản về GDĐĐ và quản lí hoạt  
động GDĐĐ cho HS.  
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi  
Trong đề tài này tôi sử dụng 4 bộ phiếu điều tra, 3 bộ dùng cho khảo sát thực  
trạng hoạt động GDĐĐ cho HS và quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS, 1 bộ dùng để  
khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của một số biện pháp quản lí hoạt động  
GDĐĐ cho HS.  
7.2.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm  
Nghiên cứu báo cáo tổng kết về hoạt động GDĐĐ cho HS và quản lí hoạt động  
GDĐĐ cho HS từ năm học 2016-2017 đến năm học 2018-2019 của các cơ sở giáo dục  
để bổ sung, đánh giá thực trạng của vấn đề nghiên cứu và xây dựng các biện pháp  
quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS ở các trường THPT Quận 7, Tp.HCM.  
7.2.4. Phương pháp thống kê toán học  
Sử dụng phần mềm SPSS để xử lí số liệu từ các cuộc điều tra, phân tích số liệu  
từ các mẫu phiếu điều tra thu được, tìm ra mối quan hệ giữa các vấn đề nghiên cứu.  
8. Dự thảo cấu trúc luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phục lục, nội  
dung luận văn gồm có 3 chương:  
Chương 1. Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh  
trường THPT  
Chương 2. Thực trạng quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các  
trường THPT Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh  
Chương 3. Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các  
trường THPT Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh  
6
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO  
ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG  
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề  
1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài  
Ở phương Đông từ thời cổ đại, Khổng Tử đã nhận thức được vai trò quan trọng  
cảu đạo đức đối với sự phát triển của xã hội và của từng con người. Trong học thuyết  
Nho gia Người đã nhấn mạnh tất cả mọi vấn đề đều lấy đạo đức làm chuẩn (Đoàn  
Quang Thọ, 2010).  
Ở phương Tây, thời cổ đại cũng xuất hiện nhiều quan điểm, nhiều học thuyết  
lớn về đạo đức. Nhà triết học Socrat đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn  
nhau. Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở  
thành có đạo đức (Đoàn Quang Thọ, 2010).  
Aristoste cho rằng không phải hy vọng vào thượng đế áp đặt để có người công  
dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất, phát triển những  
quyền lợi chính trị, khoa học mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ  
đạo đức (Đoàn Quang Thọ, 2010).  
Theo John Locke thì GDĐĐ được xem là một vấn đề quan trọng nhất “chủ yếu  
là xây dựng đạo đức và một thế cân bằng trong tâm tính”, nếu đạo đức, tâm tính được  
xây dựng tốt và có chiều hướng phát triển tốt thì mọi việc đều trôi chảy (Thái Duy  
Tuyên, 2007).  
Pétxtalôđi một trong những nhà giáo dục tiêu biểu của thế kỷ XIX đã đánh giá  
rất cao vai trò của GDĐĐ. Ông cho rằng nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục là giáo dục  
đạo đức cho trẻ em dựa trên cơ sở chung nhất là tình yêu về con người. Tình yêu ấy  
bắt nguồn từ gia đình, trước hết là đối với cha mẹ, anh chị rồi đến bạn bè và mọi người  
trong xã hội (Hà Nhật Thăng và Đào Thanh Âm, 1998).  
Học thuyết giáo dục của C.Mác và P.Ăngghen đề ra nguyên tắc cơ bản để giáo  
dục những con người phát triển toàn diện trong xã hội đó là sự kết hợp một cách hợp lí  
giữa giáo dục đạo đức, thể dục, trí dục và lao động sản xuất (Hà Nhật Thăng và Đào  
Thanh Âm, 1998).  
     
7
Từ những quan điểm về đạo đức của các nhà tư tưởng trên thế giới cho thấy  
việc GDĐĐ và quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS là hết sức cần thiết. Như vậy có thể  
thấy cả phương Đông và phương Tây đều rất chú trọng, đề cao vấn đề đạo đức và qua  
GDĐĐ hình thành và phát triển nhân cách con người.  
1.1.2. Nghiên cứu ở trong nước  
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một di sản vô cùng quý báu trên  
nhiều mặt, nhiều lĩnh vực. Đặc biệt là vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cách mạng.  
Người coi đạo đức của con người như gốc của cây, như nguồn của sông. Người nói  
rằng con người cần đạo đức, cách mạng cần đạo đức, rất cần đạo đức. Người luôn  
nhấn mạnh vai trò quan trọng và tích cực của đạo đức trong đời sống xã hội. Hồ Chí  
Minh chỉ rõ “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn  
thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” (Đinh Xuân Dũng, 2006).  
Triết lí giáo dục Việt Nam thời phong kiến luôn coi đạo đức là giá trị hàng đầu,  
sống theo lí tưởng nhân nghĩa, yêu thương con người (Thái Duy Tuyên, 2007).  
Kế thừa các quan điểm, tư tưởng về đạo đức và giáo dục đạo đức của Chủ tịch  
Hồ Chí Minh. Trong những năm gần đây Đảng ta đã cụ thể hóa những nội dung, quan  
điểm đó thành những Chỉ thị, Nghị quyết. Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) xác  
định: “Giáo dục, đào tạo phải hướng cân đối giữa “dạy người”, dạy chữ, dạy nghề,  
trong đó “dạy người” là mục tiêu cao nhất” (Đảng cộng sản Việt Nam, 1997).  
Đặc biệt Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 03-CT/TW ngày 14 tháng 5 năm  
2011 phát động cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương, đạo đức Hồ Chí Minh,  
trong đó nêu rõ những nội dung chủ yếu cần thực hiện là “Coi trọng giáo dục đạo đức,  
lối sống cho thế hệ trẻ. Cấp ủy, chính quyền, mặt trận và đoàn thể các cấp có biện pháp  
cụ thể để tổ chức, chỉ đạo thực hiện tốt việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ  
theo tấm gương đạo đức Bác Hồ” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2011).  
Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khóa XI, yêu cầu thực hiện  
nhiệm vụ và giải pháp “Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo dức, lối sống, tri thức pháp  
luật và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống  
và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa  
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2013).  
 
8
Ngoài ra còn có rất nhiều các đề tài nghiên cứu về quản lí hoạt động GDĐĐ cho  
HS ở cấp trung học cơ sở (THCS) và THPT của các nhà nghiên cứu, nhà quản lí giáo  
dục.  
Đề tài “Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho  
học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân” của tác giả Phạm Tất Dong đã  
đi sâu vào nghiên cứu cơ sở tâm lí học của hoạt động giáo dục lao động, giáo dục  
hướng nghiệp, gắn kết các hoạt động này với hoạt động GDĐĐ nhằm đạt được mục  
tiêu GDĐĐ nghề nghiệp và lí tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ; đã mang lại nhiều nội  
dung mới về GDĐĐ, chính trị tư tưởng trong các trường từ tiểu học đến đại học những  
năm đầu thập niên 90.  
Luận án tiến sĩ “Quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở  
thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục” của tác giả Nguyễn Thị Thi (2017)  
đã nghiên cứu lí luận, thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lí GDĐĐ cho HS  
trường THCS thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục.  
Luận án tiến sĩ “Giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở tại  
Thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới giáo dục hiện nay” của tác giả Đỗ  
Tuyết Bảo (2001) đã đề cập đến vai trò GDĐĐ với sự hình thành và phát triển nhân  
cách thế hệ trẻ, tác động đổi mới của xã hội với GDĐĐ cho HS trường THCS tại  
Thành phố Hồ Chí Minh.  
Luận văn thạc sĩ “Quản lí hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung  
học cơ sở Quang Húc, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay” của  
tác giả Đỗ Thị Việt Hà (2017).  
Luận văn thạc sĩ “Quản lí hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung  
học phổ thông Hùng Vương Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi  
mới giáo dục hiện nay” của tác giả Nguyễn Vân Yên (2015) đã khái quát cơ sở lí luận,  
nêu lên được thực trạng quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS ở trường THPT Hùng  
Vương Quận 5 và đề xuất các biện pháp quản lí đáp ứng theo yêu cầu đổi mới giáo dục  
phổ thông hiện nay.  
Luận văn thạc sĩ “Quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường  
trung học cơ sở tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long” của tác giả Võ Hồng Lĩnh  
9
(2018) đã đánh giá được thực trạng đạo đức, hoạt động GDĐĐ cho HS và đề xuất các  
biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS trường THCS tại  
thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.  
Các nghiên cứu trên đã chỉ ra thực trạng đạo đức HS, thực trạng GDĐĐ và  
quản lí hoạt động này ở nhiều cấp học khác nhau, ở nhiều địa phương khác nhau và đã  
đề ra những biện pháp quản lí hoạt động GDĐĐ mang tính hiệu quả, khả thi ở từng  
cấp học và địa phương đó. Tuy nhiên, tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh chưa có đề  
tài nào nghiên cứu về quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS THPT. Để kế thừa và phát  
triển các nội dung của các tác giả đi trước đã nghiên cứu, đề tài “Quản lí hoạt động  
giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học phổ thông Quận 7, Thành phố  
Hồ Chí Minh” với mong muốn cùng với lí luận và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao  
chất lượng GDĐĐ cho HS ở các trường THPT trên địa bàn Quận 7 Thành phố Hồ Chí  
Minh trong giai đoạn hiện nay.  
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài  
1.2.1. Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh  
Đạo đức  
Theo sách giáo khoa Giáo dục Công dân lớp 10 thì: “Đạo đức là hệ thống các  
quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình  
cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, của xã hội” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006).  
Theo quan điểm của đạo đức học Mác-Lênin “Đạo đức là một hiện tượng xã hội  
phản ánh các quan hệ xã hội hiện thực, hình thành từ trong cuộc sống. Đạo đức là  
phạm trù thuộc về đời sống tinh thần. Trong triết học, đạo đức được coi là một hình  
thái ý thức xã hội” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006).  
Theo tác giả Trần Hậu Kiểm: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt,  
bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội. Nó  
ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu xã hội. Nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành  
vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ xã hội  
trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội” (Trần Hậu  
Kiểm và Đoàn Đức Hiếu, 2004).  
   
10  
Đạo đức bao gồm bởi các thành tố: ý thức đạo đức, tình cảm, niềm tin đạo đức  
và hành vi đạo đức. Các thành tố này có quan hệ biện chứng với nhau.  
Ý thức đạo đức: là toàn bộ những quan niệm về đạo đức và những chuẩn mực,  
quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với  
nhau. Là sự thể hiện thái độ nhận thức, hiểu biết về các chuẩn mực đạo đức, hành vi  
phù hợp với các chuẩn mực, quy tắc của xã hội đã được qui định trước. Thông qua ý  
thức đạo đức con người tự điều chỉnh hành vi của mình (Nguyễn Văn Tuyên, 2011).  
Tình cảm, niềm tin đạo đức: là hình thái biểu hiện cơ bản của ý thức đạo đức, là  
yếu tố quan trọng, là động lực thúc đẩy cá nhân, thể hiện những ý thức đạo đức qua  
những hành vi của mình (Nguyễn Văn Tuyên, 2011).  
Hành vi đạo đức: là một hành động tự giác thể hiện bằng hành động cụ thể có  
tác động tích cực đến xã hội, mọi người xung quanh và bản thân mình. Nếu không có  
hành vi đạo đức thì ý thức đạo đức sẽ chỉ mang ý nghĩa trừu tượng, xa rời thực tiễn.  
Hành vi đạo đức phải mang tính tự giác, nếu không có tính tự giác, hành vi đó sẽ mất  
đi tính đạo đức. Các hành vi đạo đức phải phù hợp với những lợi ích chân chính của  
con người, phù hợp với các yêu cầu của xã hội. Các hành vi đạo đức được thực hiện  
thường ngày sẽ trở thành thói quen đạo đức (Nguyễn Văn Tuyên, 2011).  
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu khái quát khái niệm đạo đức bao  
gồm ba thành tố cơ bản là quy tắc, hành vi và chuẩn mực. Trong đó quy tắc là những  
quy định mọi người phải tuân theo trong một hoạt động chung nào đó. Hành vi là  
những phản ứng, cách cư xử, biểu hiện ra bên ngoài của con người trong một hoàn  
cảnh nhất định. Chuẩn mực là cái được công nhận đúng theo quy định hoặc theo thói  
quen trong xã hội. Từ đó cho thấy đạo đức theo nghĩa hẹp là những hệ thống các giá  
trị, nguyên tắc quy định những chuẩn mực của con người. Theo nghĩa rộng, đạo đức  
liên quan đến các vấn đề chính trị, pháp luật, lối sống.  
Như vậy, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc,  
chuẩn mực xã hội. Dựa vào các nguyên tắc, quy định, chuẩn mực của xã hội nhằm  
định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành vi của con người cho phù hợp với các chuẩn  
mực của xã hội, hướng con người đi tới cái thiện, cái tốt, cái đúng, gạt bỏ cái ác, cái  
xấu, cái sai.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 121 trang yennguyen 13700 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường Trung học phổ thông Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_quan_li_hoat_dong_giao_duc_dao_duc_cho_hoc_sinh_o_c.pdf