Luận văn Phân tích hành vi của người dân trong hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VÕ MINH SỬ
PHÂN TÍCH HÀNH VI CỦA NGƯỜI DÂN
TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT KHU VỰC NÔNG THÔN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VÕ MINH SỬ
PHÂN TÍCH HÀNH VI CỦA NGƯỜI DÂN
TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT KHU VỰC NÔNG THÔN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành : Quản lý công
Mã số
: 8340403
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRẦN TIẾN KHAI
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2019
“LỜI CAM ĐOAN”
Tôi“xin cam đoan đề tài nghiên cứu: “Phân tích hành vi của người dân trong
hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời,
tỉnh Cà Mau” là nghiên cứu do tôi tự thực hiện, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của
PGS.TS. Trần Tiến Khai.”
Các“tham khảo trong luận văn được trích dẫn rõ tên tác giả, tên công trình.
Các số liệu do tôi thu thập thực tế trên địa bàn nghiên cứu, có tính trung thực và độ
chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi.”
Tôi“xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.”
“Học viên thực hiện”
Võ Minh Sử
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC BẢNG
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
RESEARCH SUMMARY
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Tiếng Việt
CTR
CTRSH
TN&MT
NN&PTNT
MTĐT
Chất thải rắn
Chất thải rắn sinh hoạt
Tài nguyên và Môi trường
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Môi trường đô thị
HTX
Hợp tác xã
VSMT
Vệ sinh môi trường
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
Ủy ban nhân dân
UBND
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC BẢNG
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Cùng với sự phát triển không ngừng của đất nước,“đã dẫn tới nhiều hệ quả
kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và môi trường, trong đó có khu vực nông thôn.
Vấn đề đặt ra là phát triển phải đi đôi với bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, tình trạng ô
nhiễm môi trường vẫn đang diễn ra ở khắp mọi nơi; một trong những vấn đề của
môi trường là quá trình quản lý chất thải rắn còn chưa hiệu quả và thiếu tính bền
vững. Hành vi của cộng đồng và các bên liên quan là một trong những chiều cạnh
của quản lý chất thải rắn. Để đảm bảo tính bền vững trong quá trình quản lý chất
thải rắn, bên cạnh những vấn đề kinh tế - tài chính, kỹ thuật, thể chế - chính sách,
thì yếu tố “Hành vi của người dân” cũng cần được phân tích và đánh giá, từ đó có
những giải pháp hiệu quả cho quá trình quản lý chất thải rắn nói chung.”
Đề tài đã triển khai khảo sát về nhận thức,“hành vi của người dân thông qua
165 phiếu khảo sát. Qua đó đề tài đã sử dụng lý thuyết về sự tham gia để phân tích
các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người dân khu vực nông thôn huyện Trần
Văn Thời, tỉnh Cà Mau trong hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt, từ đó đề
xuất, khuyến nghị những giải pháp phát huy sự tham gia của người dân trong công
tác này, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.”
RESEARCH SUMMARY
Along with the continuous development of the country, has led to many
consequences of economic, cultural, social, and environmental education, including
rural areas. The question is developed in parallel with environmental
protection. However, environmental pollution is still going on everywhere; one
environmental problem is the process of solid waste management was ineffective
and unsustainable. Behavior of communities and stakeholders is one of the
dimensions of solid waste management. To ensure sustainability in the management
of solid wastes, besides the economic issues - financial, technical, institutional -
policy, the factors “The behavior of the people” should be analyzed and evaluation,
from which there are effective solutions for the management of solid waste in
general.
The subject has developed a survey about knowledge, perceptions and
behaviors of 165 people through the survey. Through which the subject has used the
theory of the participants to analyze the factors affecting the behavior of people in
rural areas Tran Van Thoi district, Ca Mau province in the management of solid
waste activities, then to propose, recommend measures to promote the participation
of the people in this work, aiming at sustainable development.
1
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Xã hội loài người đang tiến gần hơn đến sự phát triển bền vững. Đó là việc
vừa phát triển kinh tế song song với bảo vệ môi trường sinh thái. Tuy nhiên, tình
trạng ô nhiễm môi trường vẫn đang diễn ra ở khắp mọi nơi và khu vực nông thôn
cũng không ngoại lệ. Cùng với sự phát triển không ngừng của kinh tế đất nước, sự
tăng trưởng mạnh mẽ của kinh tế tỉnh Cà Mau, kinh tế huyện Trần Văn Thời cũng
đang trong giai đoạn chuyển mình để phát triển, trong đó có khu vực nông thôn. Sự
phát triển đó đã tạo sức ép không nhỏ đối với môi trường, theo báo cáo của Ủy ban
nhân dân huyện (UBND) bình quân hằng tháng khu vực nông thôn huyện Trần Văn
Thời thải ra trên 1.700 tấn rác thải, tỷ lệ thu gom mới chỉ đạt gần 40%. Mặt khác,
dân cư vùng nông thôn có thói quen tự xử lý rác thải theo hình thức phân tán ở cấp
độ hộ gia đình, xử lý bằng cách chôn lấp kết hợp với đốt. Từ nhiều năm về trước,
khi dân cư còn thưa thớt thì cách thức xử lý chất thải sinh hoạt như thế không gây ra
vấn nạn ô nhiễm về môi trường. Nhưng khi mật độ dân số gia tăng, sự hình thành
các thị tứ, các khu dân cư tập trung ở nông thôn, và lượng rác thải ra ngày càng
nhiều thì thu gom và xử lý rác thải trở thành vấn đề cấp thiết ở vùng nông thôn.
Bên cạnh đó,“công tác quản lý về môi trường ở khu vực nông thôn còn đan
xen, thiếu đơn vị đầu mối, nhiều mảng còn bị bỏ ngỏ trong quản lý. Tại Hội nghị
môi trường toàn quốc lần thứ IV (năm 2015) đã chỉ ra một thực tế: Trong những
năm qua, ngay từ cấp Trung ương, công tác quản lý môi trường nông thôn chưa có
đơn vị đầu mối. Nhiệm vụ, chức năng quản lý môi trường nông thôn còn chồng
chéo, mỗi Bộ ngành một mảng. Đơn cử như: đối với công tác quản lý chất thải rắn
(CTR), Bộ Xây dựng được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước nhưng hiện chỉ tập
trung vào công tác quản lý CTR khu vực đô thị và khu vực tập trung dân cư đông.
Còn tại khu vực nông thôn, công tác này lại được giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn (NN&PTNT); đối với chất thải nguy hại (chất thải từ hoạt động
nông nghiệp, làng nghề) thì Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) là đơn vị
được giao nhiệm vụ. Tuy nhiên, chất thải sinh hoạt ở khu vực nông thôn hầu như
2
chưa có Bộ nào quản lý, còn đang bỏ ngỏ. Mặt khác, trong quản lý chất thải, thuốc
bảo vệ thực vật, việc thu gom, sử dụng, lưu giữ thuộc trách nhiệm của Bộ
NN&PTNT, nhưng hiện việc xử lý, tiêu hủy bao bì, xử lý các kho hóa chất, thực vật
tồn lưu lại thuộc trách nhiệm của Bộ TN&MT…”
Công tác“quản lý CTR ở nông thôn hiện nay cũng đang trong tình trạng không
thống nhất tại các địa phương, nơi do Sở TN&MT quản lý (ở cấp huyện là Phòng
TN&MT), nơi lại do Sở NN&PTNT chịu trách nhiệm (ở cấp huyện là Phòng
NN&PTNT). Riêng đối với chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) khu vực nông thôn và
CTR của làng nghề, việc quản lý vẫn còn bất cập, bị bỏ ngỏ. Do sự phân công, xác
định trách nhiệm giữa các Bộ, ngành đối với công tác quản lý CTR ở nông thôn
chưa được rõ ràng, nên chưa xác định được vai trò của các cấp, các ngành trong hệ
thống quản lý, chồng chéo khi triển khai tổ chức thực hiện.”
Mặt khác, việc thu gom rác thải nông thôn chưa được coi trọng, còn manh
mún, thô sơ, chủ yếu sử dụng phương thức thu gom ở các điểm tập kết rác lưu động,
không áp dụng phương thức thu gọm tại nhà và thu gom theo khối. Hiện nay, ở
vùng nông thôn, chính quyền bố trí một số cụm thùng chứa rác ở một số khu dân cư
tập trung để người dân đổ rác, sau đó có phương tiện đến thu gom, vận chuyển đến
các điểm tập kết rác; nhưng hoạt động này cũng không được diễn ra thường xuyên,
liên tục do chưa có sự kiểm soát, quản lý chặt chẽ của chính quyền cộng với việc
tuyên truyền, vận động người dân chưa thật sự mang lại hiệu quả. Ngoài ra, những
nơi chưa được bố trí thùng chứa rác, những nơi phương tiện thu gom rác không đến
được, thì chính quyền còn khá lúng túng, chưa có biện pháp hữu hiệu để giải quyết
vấn đề rác thải nông thôn.
Rác thải sinh hoạt khu vực nông thôn do một bộ phận người dân không có ý
thức vứt ra khắp nơi, từ đường thôn, ngõ xóm đến kênh mương, ao hồ, sông... chỗ
nào tiện và gần cũng có thể vứt rác, đổ chất thải sinh hoạt. Đa phần người dân
không tự xử lý phân loại rác nên việc chôn lấp, thu gom, xử lý gặp nhiều khó khăn
trong vùng dân cư nông thôn chưa có cơ sở thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải.
Vấn đề này hiện rất đáng báo động, do mọi người coi việc giữ gìn bảo vệ môi
3
trường không phải là việc của cá nhân mình mà là việc của xã hội, họ có tư tưởng
“sạch riêng, bẩn chung” môi trường phải chịu, thói quen vứt rác bừa bãi, tùy tiện đã
hình thành từ lâu đời và trở thành thói quen khó sửa.
Quản lý CTRSH“ở nông thôn là một vấn đề bức xúc và cần được xử lý ngay
để hạn chế gây ô nhiễm môi trường và tác động đến sức khỏe người dân, đây cũng
là một trong những tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Trong những năm qua ở Việt
Nam có nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý CTR nhưng chủ yếu tập trung vào CTR
công nghiệp, sinh hoạt ở các đô thị… mà ít có những nghiên cứu về CTRSH ở khu
vực nông thôn. Chính vì thế, việc nghiên cứu phân tích hành vi của người dân trong
công tác quản lý CTRSH ở nông thôn là việc làm cần thiết. Qua đó, giúp đánh giá
sát tình hình thực tế, xác định đúng vai trò của người dân trong công tác này, đồng
thời chỉ ra những yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân, đề xuất
các giải pháp cải thiện tình hình, hoàn thiện chính sách của chính quyền. Đây là đề
tài có tính khả thi và có ý nghĩa ứng dụng trong thực tiễn; góp phần bảo vệ môi
trường, tạo động lực cho sự phát triển bền vững của địa phương; đồng thời có thể
nhân rộng, ứng dụng cho các địa phương khác.”
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Phân tích hành vi của người dân trong
hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn huyện Trần Văn
Thời, tỉnh Cà Mau” để nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích hành vi của người dân trong hoạt động quản lý CTRSH khu vực
nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Đề xuất, khuyến nghị giải pháp phát huy sự tham gia của người dân trong hoạt
động quản lý CTRSH khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Người dân khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau có hành vi
quản lý CTRSH như thế nào?
Làm thế nào để nâng cao hiệu quả sự tham gia của người dân trong công tác
quản lý CTRSH ở khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau?
4
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hành vi quản lý rác thải của người dân trong hoạt động quản
lý CTRSH khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Phạm vi nghiên cứu: Huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu liên quan đến đề tài.
Phương pháp chuyên gia:“Tham vấn ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực
quản lý chất thải rắn, nhằm để tham khảo các ý kiến về chuyên môn đối với các nội
dung nghiên cứu của đề tài.”
Phương“pháp so sánh, đối chiếu các kết quả điều tra: Việc so sánh, đối
chiếu các chính sách, giải pháp nhằm tìm ra những ưu điểm, những hạn chế cần
phải khắc phục của mỗi chính sách, giải pháp. Trên cơ sở đó, đánh giá những kết
quả, những mặt đạt được và những vấn đề còn hạn chế cần phải khắc phục.”
Phương“pháp tổng hợp và phân tích: Giúp đánh giá rõ về thực trạng hoạt
động quản lý CTRSH, qua đó đề xuất các chính sách, giải pháp có tính khoa học,
khả thi, phù hợp với thực tế, nhằm góp phần thực hiện tốt hơn công tác quản lý
CTRSH khu vực nông thôn.”
Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Kết quả của việc điều tra, phỏng vấn sẽ
phục vụ cho xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài.
1.6. Cấu trúc dự kiến của luận văn
Chương 1. Giới thiệu
Chương này trình bày lý do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên
cứu; đối tượng, phạm vị nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu.
Chương 2. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây
Chương này trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài, cơ sở lý thuyết của
đề tài, tổng quan các nghiên cứu trước đây và rút ra bài học kinh nghiệm.
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày mô hình lý thuyết, khung phân tích, quy trình nghiên
cứu cụ thể; cách chọn mẫu và phương pháp phân tích dữ liệu.
5
Chương 4. Kết quả và thảo luận
Chương“này trình bày kết quả nghiên cứu, khảo sát thực tế, phân tích, thảo
luận đánh giá kết quả nhằm phân tích hành vi của người dân trong công tác quản lý
CTRSH ở khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Chương 5. Kết luận và các khuyến nghị
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất các khuyến nghị giúp phát huy sự tham
gia của người dân trong công tác quản lý CTRSH khu vực nông thôn huyện Trần
Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
6
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1. Cơ sở lý thuyết
2.1.1. Lý thuyết về sự tham gia
Có nhiều định nghĩa khác nhau về sự tham gia của người dân,“tùy thuộc vào
lĩnh vực, góc độ tiếp cận của vấn đề. Theo World Bank (2005), trích bởi Bàn Cao
Sơn (2016) thì tham gia là quá trình trong đó các nhóm liên quan tác động và chia
sẻ giám sát đối với hoạt động phát triển, các quyết định và các nguồn gây ảnh
hưởng đến họ. Theo Florin, Paul (1990), trích bởi Đào Duy Ngọc (2015) thì sự
tham gia của người dân là quá trình mà trong đó các cá nhân tham gia vào việc ra
quyết định trong các tổ chức, chương trình và môi trường ảnh hưởng đến họ. Như
vậy, có thể thấy rằng tham gia là sự tương tác của các bên liên quan nhằm đạt được
mục tiêu chung.”
Theo một định nghĩa khác của Pierre André (2012), trích bởi Đào Duy Ngọc
(2015)“thì sự tham gia của người dân là quá trình mà trong đó những người dân
thường tham gia - trên cơ sở tự nguyện hoặc bắt buộc và hành động một mình hoặc
trong một nhóm - với mục tiêu ảnh hưởng đến quyết định sẽ tác động đến cộng
đồng của họ. Sự tham gia này có thể diễn ra bên trong hoặc bên ngoài khuôn khổ
thể chế và nó có thể được tổ chức bởi thành viên của các tổ chức xã hội hay người
ra quyết định. Tùy vào nhận thức, văn hóa và điều kiện địa lý của từng vùng khác
nhau, mà mức độ tham gia của người dân vào các công việc phát triển cộng đồng
thể hiện ở các cấp độ khác nhau, như một tiến trình liên tục; được chia thành 06 cấp
độ như sau:”
(1)“Tham gia thụ động (Passive participation): Trong các hoạt động, người
dân thụ động tham gia, kêu sao làm vậy và không tham dự vào việc ra quyết định.”
(2)“Tham gia thông qua việc cung cấp thông tin (Participation as
contributors): Thông qua trả lời các câu hỏi điều tra của các nhà nghiên cứu. Người
dân không tham dự vào việc phân tích và sử dụng các thông tin.”
(3)“Tham gia như nhà tư vấn (Participation as consultants): Người dân được
tham vấn và đưa ra ý kiến về các vấn đề tại địa phương của mình.”
7
(4)“Tham gia trong việc thực hiện (Participation in implementation): Trong
các hoạt động, người dân thành lập nhóm nhằm cùng thực hiện các chương trình, dự
án tại địa phương, tuy nhiên ở cấp độ này họ vẫn không tham dự vào quá trình ra
quyết định.”
(5)“Tham gia trong quá trình ra quyết định (Participation in decision-making):
Người dân chủ động tham gia vào quá trình phân tích và xây dựng kế hoạch, lúc
này họ tham gia trực tiếp vào quá trình ra quyết định tại địa phương.”
(6)“Tham gia tự nguyện (Self-mobilization): Người dân tự mình thực hiện
ngay từ đầu tất cả các công việc, từ việc lên ý tưởng, xây dựng kế hoạch và đánh giá
các hoạt động, việc này được thực hiện mà không có sự hỗ trợ hay định hướng từ
bên ngoài.”
Tham gia tự nguyện
Tham gia trong quá trình ra quyết định
Tham gia trong việc thực hiện
Tham gia như nhà tư vấn
Tham gia thông qua
việc cung cấp thông tin
Tham gia thụ động
“Hình 2.1. Những mức độ tham gia của người dân theo Pierre André.”
“Nguồn: Tác giả tự vẽ.”
Hay một quan điểm khác thể hiện mức độ tham gia sâu hơn của người dân:
theo Heller, Price, Reinharz, và Wandersman (1984) trích bởi Võ Thanh Duy
(2014) thì“sự tham gia của người dân được định nghĩa là một quá trình mà những cá
8
nhân được tham gia trong việc đưa ra các quyết định liên quan đến thể chế, các
chương trình và môi trường có tác động đến đời sống người dân. Hoặc Sherry R.
Arnstein (1969) trích bởi Võ Thanh Diệu (2017) lại chú trọng đến việc phân chia
các mức độ tham gia của người dân thông qua việc đưa ra thang đo 08 mức độ
(Vancouver Community Network, 2014); thang đo này đã được David Wilcox mô
tả như sau:”
Người dân quản lý
Người dân
Ủy quyền
nắm quyền
Hợp tác
Động viên
Tham gia mang
tính hình thức
Sự tham gia
của người dân
Tham vấn
Cung cấp thông tin
Liệu pháp
Vận động
Không tham gia
“Hình 2.2. Thang đo về sự tham gia của người dân theo Wilcox.”
Nguồn: Tác giả tự vẽ.
(1)“Sự vận động và (2) Liệu pháp: Giai đoạn này chưa tạo ra sự tham gia, mà
chỉ nhằm mục đích là đào tạo những người tham gia. Giả sử rằng kế hoạch kiến
nghị là tốt nhất và phải giành được sự ủng hộ từ cộng đồng, thông qua quan hệ công
chúng.”
(3)“Cung cấp thông tin: Đây được xem như là một bước quan trọng đầu tiên,
nhằm thúc đẩy sự tham gia của người dân nhưng thông tin thường chỉ mang tính
một chiều mà không có phản hồi.”
(4)“Tham vấn: Đây là bước tiến hành khảo sát thái độ, tổ chức các cuộc họp
khu dân cư để tham khảo ý kiến cộng đồng; nhưng thường mang tính hình thức.”
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Phân tích hành vi của người dân trong hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
luan_van_phan_tich_hanh_vi_cua_nguoi_dan_trong_hoat_dong_qua.pdf

