Luận án Dao động uốn của dầm ứng suất trước dưới tác dụng của vật thể di động

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI  
Nguyễn Thị Vân Hương  
DAO ĐỘNG UỐN CỦA DẦM ỨNG SUẤT TRƯỚC  
DƯỚI TÁC DỤNG CỦA VẬT THỂ DI ĐỘNG  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CƠ HỌC  
Hà Nội - 2016  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI  
Nguyễn Thị Vân Hương  
DAO ĐỘNG UỐN CỦA DẦM ỨNG SUẤT TRƯỚC  
DƯỚI TÁC DỤNG CỦA VẬT THỂ DI ĐỘNG  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CƠ HỌC  
Chuyên ngành: Cơ kỹ thuật  
Mã số: 62520101  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
PGS. TS. NGUYỄN PHONG ĐIỀN  
Hà Nội - 2016  
LỜI CẢM ƠN  
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo PGS. TS. Nguyễn Phong  
Điền đã tận tâm hướng dẫn khoa học, động viên và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận án này.  
Tác giả xin gửi lời cám ơn tới các Thầy, Cô trong Bộ môn Cơ học ứng dụng, Viện Cơ Khí  
đã có nhiều ý kiến đóng góp cho luận án.  
Tác giả cũng xin bày tỏ sự biết ơn tới sự quan tâm của Viện Đào tạo Sau đại học,và sự  
ủng hộ của bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá  
trình làm luận án.  
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn gia đình đã động viên ủng hộ tác giả trong  
suốt thời gian làm luận án.  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu  
được trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công  
trình nào khác.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám ơn, các  
thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.  
Giáo viên hướng dẫn  
Hà Nội, ngày 23 tháng 7 năm 2016  
Tác giả luận án  
PGS. TS. Nguyễn Phong Điền  
Nguyễn Thị Vân Hương  
MỤC LỤC  
Trang  
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ  
MỞ ĐẦU  
1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DAO ĐỘNG UỐN CỦA DẦM  
ỨNG SUẤT TRƯỚC  
4
4
4
5
5
6
1.1 Các dầm bê tông cốt thép dự ứng lực  
1.1.1 Kéo căng cốt thép trước khi đổ bê tông (kéo căng trên bệ)  
1.1.2 Kéo căng cốt thép sau khi đổ bê tông (kéo căng trên bê tông)  
1.1.3 Sơ lược về bê tông cốt thép dự ứng lực ngoài  
1.2 Tổng quan về các kết quả nghiên cứu dao động của dầm ứng suất trước  
1.3 Tổng quan về các kết quả nghiên cứu dao động của dầm ứng suất trước  
có vết nứt  
8
9
1.4 Xác định vấn đề nghiên cứu  
CHƯƠNG 2 TẦN SỐ RIÊNG VÀ DẠNG DAO ĐỘNG RIÊNG CỦA DẦM  
ỨNG SUẤT TRƯỚC  
10  
10  
14  
14  
15  
17  
19  
21  
21  
22  
29  
2.1 Mô hình cơ học và phương trình dao động  
2.2 Xác định tần số riêng và dạng dao động riêng của dầm ứng suất trước  
2.2.1 Thiết lập các phương trình xác định tần số dao động riêng  
2.2.2 Phương trình đặc trưng và tần số riêng của dầm hai đầu bản lề  
2.2.3 Phương trình đặc trưng và tần số riêng của dầm hai đầu ngàm  
2.2.4 Dạng dao động riêng của dầm hai đầu ngàm  
2.3 Xác định lực căng dây cáp trên cơ sở đo tần số dao động riêng  
2.3.1 Các công thức gần đúng xác định lực căng dây cáp  
2.3.2 Tính toán so sánh lực căng dây cáp cho cầu Bãi Cháy và cầu Bính  
2.4 Kết luận chương 2  
CHƯƠNG 3 DAO ĐỘNG UỐN CỦA DẦM GIẢN ĐƠN ỨNG SUẤT TRƯỚC  
DƯỚI TÁC DỤNG CỦA VẬT THỂ DI ĐỘNG  
3.1 Phương trình dao động uốn của dầm có ứng suất trước chịu tác dụng  
của vật thể di động  
30  
30  
30  
3.1.1 Thiết lập phương trình dao động  
3.1.2 Biến đổi hệ phương trình đạo hàm riêng - vi phân hỗn hợp  
về hệ phương trình vi phân thường  
3.2 Tính toán dao động uốn của hai cầu bê tông cốt thép xây dựng ở Việt Nam  
3.2.1 Tính toán dao động uốn của cầu Đông Hà  
3.2.2 Tính toán dao động uốn của cầu Bùng  
33  
37  
37  
41  
43  
43  
43  
44  
48  
3.2.3 Một vài nhận xét  
3.3 Xác định vận tốc tới hạn của ô tô khi qua cầu  
3.3.1 Công thức tính vận tốc tới hạn cổ điển của ô tô khi qua cầu  
3.3.2 Xác định vận tốc tới hạn của ô tô khi qua cầu bằng phương pháp số  
3.4 Kết luận chương 3  
CHƯƠNG 4 DAO ĐỘNG UỐN CỦA DẦM LIÊN TỤC CÓ ỨNG SUẤT TRƯỚC  
DƯỚI TÁC DỤNG CỦA NHIỀU VẬT THỂ DI ĐỘNG  
49  
49  
50  
51  
4.1 Mô hình cơ học và việc thiết lập phương trình dao động  
4.1.1 Thiết lập phương trình vi phân dao động của vật thể di động  
4.1.2 Thiết lập phương trình dao động uốn của dầm  
4.1.3 Biến đổi hệ phương trình hỗn hợp về hệ phương trình vi phân - đại số 54  
4.2 Tính toán dao động uốn của dầm liên tục  
4.2.1 Biểu thức xác định phản lực liên kết tại các gối cứng  
4.2.2 Phương trình vi phân dao động dạng tối giản  
4.3 Tính toán dao động uốn của một số cầu bê tông cốt thép của Việt Nam  
4.3.1 Tính toán dao động uốn của dầm cầu Phả Lại  
4.3.2 Tính toán dao động uốn của dầm cầu Hiền Lương  
4.4 Kết luận chương 4  
56  
56  
58  
59  
59  
62  
69  
70  
70  
71  
CHƯƠNG 5 DAO ĐỘNG UỐN CỦA DẦM ỨNG SUẤT TRƯỚC CÓ VẾT NỨT  
5.1 Mô hình dao động của dầm ứng suất trước có vết nứt  
5.2 Tần số riêng và dạng dao động riêng  
5.2.1 Thiết lập phương trình xác định tần số riêng và dạng dao động riêng 71  
5.2.2 Thiết lập phương trình tần số của dầm hai đầu bản lề  
5.2.3 Thiết lập phương trình tần số của dầm hai đầu ngàm  
5.2.4 Các bước tính toán tần số riêng và dạng dao động riêng  
5.2.5 Một số kết quả tính toán mô phỏng số  
74  
76  
78  
78  
78  
83  
5.2.5.1 Tần số riêng của dầm ứng suất trước hai đầu bản lề  
5.2.5.2 Tần số riêng của dầm ứng suất trước hai đầu ngàm  
5.3 Dao động uốn của dầm ứng suất trước có vết nứt dưới tác dụng  
của vật thể di động  
87  
87  
5.3.1 Thiết lập phương trình vi phân dao động  
5.3.2 Một số kết quả tính toán mô phỏng số dao động uốn của dầm  
dưới tác dụng của vật thể đi động  
90  
96  
5.4 Kết luận chương 5  
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
97  
99  
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN  
105  
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT  
Danh mục ký hiệu biến  
A
I
b
h
L
l
Diện tích mặt cắt ngang của dầm  
Mô men quán tính thiết diện của dầm  
Chiều rộng mặt cắt ngang của dầm  
Chiều cao mặt cắt ngang của dầm  
Độ dài của dầm  
Độ dài của dầm  
EI  
E
Độ cứng chống uốn  
Môđun đàn hồi  
Mật độ khối  
Khối lượng trên một đơn vị dài  
w
bi  
be  
m
k
Trọng lượng riêng  
Hệ số cản trong  
Hệ số cản ngoài  
Khối lượng vật thể di động  
Hệ số cứng  
d
Hệ số cản  
v
Vận tốc vật thể  
vth  
Vận tốc tới hạn  
G
N
Vận tốc góc  
Biên độ lực ly tâm  
Lực dọc  
Q
Lực cắt  
My  
Mô men uốn  
F
Lực cản  
c
Fqt  
Lực quán tính  
Fdh  
Lực đàn hồi  
0  
Hệ số biến dạng tỷ đối ban đầu  
xx  
Biến dạng dài tỷ đối do dầm bị uốn  
Ứng suất pháp  
xx  
p(x,t)  
q
x, z, y  
Tải trọng phân bố  
Tọa độ suy rộng  
Tọa độ  
w(x,t) Độ võng  
f
Tần số vòng  
Tần số riêng  
g
Gia tốc trọng trường  
L(t)  
ai  
Hàm tín hiệu logic  
Chiều sâu vết nứt  
Độ lớn vết nứt  
Danh mục chữ viết tắt  
BTCT  
Bê tông cốt thép  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Trang  
26  
Bảng 2.1 Kết quả tính toán lực căng của các dây cáp cầu Bính trong mặt phẳng A  
Bảng 2.2 Kết quả tính toán lực căng của các dây cáp cầu Bính trong mặt phẳng B  
Bảng 2.3 Kết quả tính toán lực căng của các dây cáp cầu Bãi Cháy  
Bảng 3.1 Tần số riêng và vận tốc tới hạn cổ điển của cầu Đông Hà  
Bảng 3.2 Tần số riêng và vận tốc tới hạn cổ điển của cầu Bùng  
27  
28  
38  
41  
Bảng 3.3 Vận tốc tới hạnv* và vận tốc tới hạn cổ điển vth của ô tô qua  
th  
cầu Đông Hà với 0 0  
45  
Bảng 3.4 Vận tốc tới hạnv* và vận tốc tới hạn cổ điển vth của ô tô qua  
th  
cầu Bùng với 0 0  
45  
Bảng 5.1 Các số liệu tính toán của dầm  
Bảng 5.2 Các số liệu tính toán dao động cưỡng bức của dầm  
79  
91  
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ  
Trang  
7
Hình 1.1 Mô hình dầm dưới tác dụng của vật thể di động  
Hình 1.2 Mô hình hóa vết nứt  
8
Hình 2.1 Mô hình dầm  
Hình 2.2 Phân tố dầm chịu lực  
Hình 2.3 Mô hình đoạn dầm bị uốn  
Hình 2.4 Mô hình dầm hai đầu bản lề  
Hình 2.5 Mô hình dầm hai đầu ngàm  
Hình 2.6 Dạng dao động riêng ứng với tần số riêng thứ nhất 1 = 73,7 (rad/s)  
11  
11  
12  
16  
18  
20  
Hình 2.7 Dạng dao động riêng ứng với tần số riêng thứ hai 2 = 201,6 (rad/s)  
Hình 2.8 Dạng dao động riêng ứng với tần số riêng thứ ba 3 = 394,1 (rad/s)  
Hình 2.9 Dạng dao động riêng ứng với tần số riêng thứ tư 4 = 650,5 (rad/s)  
20  
20  
21  
Hình 2.10 Cầu Bính (trái) và mô hình lắp đầu đo trên dây (phải)  
Hình 2.11 Kết cấu chung của cầu Bính  
23  
23  
24  
24  
25  
30  
31  
32  
32  
38  
Hình 2.12 Kết cấu tháp và sơ đồ bố trí dây cáp của cầu Bính  
Hình 2.13 Cầu Bãi Cháy (trái) và thiết bị đo tần số riêng của dây (phải)  
Hình 2.14 Phổ tần số dao động của dây cáp cầu Bính  
Hình 3.1 Mô hình dầm dưới tác dụng của vật thể di động  
Hình 3.2 Cấu trúc con vật thể di động  
Hình 3.3 Cấu trúc con dầm  
Hình 3.4 Phân tố dầm chịu tác dụng của lực  
Hình 3.5 Biên độ dao động lớn nhất tại giữa cầu Đông Hà theo vận tốc với n=1  
Hình 3.6 Biên độ dao động lớn nhất tại giữa cầu Đông Hà theo vận tốc với n=1  
và 0 0  
Hình 3.7 Dao động tại mặt cắt giữa cầu Đông Hà với vận tốc v = 20 km/h  
và 0  0,0002  
Hình 3.8 Dao động tại mặt cắt giữa cầu Đông Hà với vận tốc v = 20 km/h  
và 0  0,0004  
Hình 3.9 Dao động tại mặt cắt giữa cầu Đông Hà với vận tốc v = 20 km/h  
và 0  0,001  
38  
39  
39  
40  
Hình 3.10 Dao động tự do tại mặt cắt giữa cầu khi xe vừa đi qua cầu  
với vận tốc v = 20 km/h  
Hình 3.11 Biên độ dao động lớn nhất tại giữa cầu Bùng theo vận tốc xe, ứng với n=1  
Hình 3.12 Biên độ dao động lớn nhất tại giữa cầu Bùng theo vận tốc xe, với n=1  
và0 0  
40  
41  
42  
Hình 3.13 Dao động tại mặt cắt giữa cầu Bùng với vận tốc v= 20 km/h và 0  0,001 42  
Hình 3.14 Dao động tự do tại mặt cắt giữa dầm khi xe vừa qua cầu với  
hai vận tốc xe khác nhau  
Hình 3.15 Mô hình dao động của dầm dưới tác dụng của lực di động  
43  
43  
Hình 3.16 Độ võng tại mặt cắt giữa cầu Đông Hà khi ô tô đi qua  
Hình 3.17 Độ võng tại mặt cắt giữa cầu Bùng khi ô tô đi qua  
Hình 4.1 Mô hình dao động uốn của dầm liên tục chịu tác dụng của nhiều vật thể  
di động  
Hình 4.2 Các cấu trúc con a) vật thể di động, b) dầm liên tục  
Hình 4.3 Mô hình dầm liên tục  
Hình 4.4 Phân tích lực trên mô hình  
Hình 4.5 Phân tích lực của một phân tố dầm  
Hình 4.6 Cầu Phả Lại trong quá trình xây dựng  
46  
47  
50  
50  
51  
51  
52  
59  
Hình 4.7 Độ võng động lực ở giữa dầm cầu Phả Lại (một ô tô di chuyển với vận tốc  
20 km/h) (a) kết quả đo đạc thực nghiệm (trong khoảng thời gian 30 s)  
và (b)kết quả tính toán số  
Hình 4.8 Kết quả tính toán độ võng động lực ở giữa dầm cầu Phả Lại (một ô tô chuyển  
động trên cầu với vận tốc 30 km/h)  
Hình 4.9 Kết quả tính toán độ võng động lực ở giữa dầm cầu Phả Lại (hai ô tô chuyển  
động trên cầu với vận tốc 20 km/h và xuất phát cách nhau 10 giây)  
Hình 4.10 Kết quả tính toán độ võng động lực ở giữa dầm cầu Phả Lại (hai ô tô chuyển  
động trên cầu với vận tốc 30 km/h và xuất phát cách nhau 10 giây)  
Hình 4.11 Kết quả tính toán độ võng động lực ở giữa dầm cầu Phả Lại (ba ô tô chuyển  
động trên cầu với vận tốc 20 km/h, thời điểm xuất phát: 0, 10, 20 giây)  
Hình 4.12 Kết quả tính toán độ võng động lực ở giữa dầm cầu Phả Lại (ba ô tô chuyển  
động trên cầu với vận tốc 30 km/h, thời điểm xuất phát: 0, 10, 20 giây)  
Hình 4.13 Cầu Hiền Lương  
60  
60  
61  
61  
62  
62  
63  
Hình 4.14 Độ võng động lực ở giữa dầm liên tục cầu Hiền Lương khi một ô tô  
chuyển động trên cầu với vận tốc 20 km/h và 0  0,001  
Hình 4.15 Độ võng động lực ở giữa dầm liên tục của cầu Hiền Lương một ô tô  
chuyển động trên cầu với vận tốc 30 km/h và 0  0,001  
Hình 4.16 Độ võng động lực ở giữa dầm liên tục cầu Hiền Lương khi hai ô tô  
chuyển động trên cầu với vận tốc 20 km/h và 0  0,001  
Hình 4.17 Độ võng động lực ở giữa dầm liên tục của cầu Hiền Lương khi ba ô tô  
chuyển động trên cầu với vận tốc 20 km/h và 0  0,001  
Hình 4.18 Độ võng động lực ở giữa dầm liên tục cầu Hiền Lương khi một ô tô  
chuyển động trên cầu với vận tốc 20 km/h và 0  0,0005  
Hình 4.19 Độ võng động lực ở giữa dầm liên tục cầu Hiền Lương khi một ô tô  
chuyển động trên cầu với vận tốc 30 km/h và 0  0,0005  
Hình 4.20 Độ võng động lực ở giữa dầm liên tục cầu Hiền Lương khi hai ô tô  
chuyển động trên cầu với vận tốc 20 km/h và 0  0,0005  
Hình 4.21 Độ võng động lực ở giữa dầm liên tục cầu Hiền Lương khi hai ô tô  
chuyển động trên cầu với cùng vận tốc 30 km/h và 0  0,0005  
Hình 4.22 Độ võng động lực ở giữa dầm liên tục cầu Hiền Lương khi ba ô tô  
chuyển động trên cầu với cùng vận tốc 20 km/h và 0  0,0005  
Hình 4.23 Độ võng động lực ở giữa dầm liên tục cầu Hiền Lương khi ba ô tô  
chuyển động trên cầu với cùng vận tốc 30 km/h và 0  0,0005  
64  
64  
65  
65  
66  
66  
67  
67  
68  
68  
Hình 5.1 Mô hình lý thuyết dầm có n-1 vết nứt  
70  
75  
76  
79  
Hình 5.2 Mô hình dầm hai đầu bản lề có nhiều vết nứt  
Hình 5.3 Mô hình dầm hai đầu ngàm có nhiều vết nứt  
Hình 5.4 Mô hình dầm ứng suất trước hai đầu bản lề có một vết nứt  
Hình 5.5 Biến thiên của ba tần số riêng đầu tiên (thứ tự a, b, c) của dầm ứng suất trước  
hai đầu bản lề có một vết nứt theo vị trí vết nứt  
Hình 5.6 Biến thiên của tần số riêng thứ nhất của dầm hai đầu bản lề theo số vết nứt  
80  
80  
phân bố đều theo chiều dài dầm, biến dạng tỷ đối ban đầu 0  0.002  
Hình 5.7 Biến thiên của ba tần số riêng của dầm hai đầu bản lề theo số lượng vết nứt  
và độ lớn vết nứt, các vết nứt tiến triển dần theo trục dầm, biến dạng tỷ đối  
ban đầu 0  0.002  
Hình 5.8 Các dạng dao động riêng của dầm hai đầu bản lề với N vết nứt, biến dạng  
tỷ đối ban đầu 0  0.001  
81  
82  
Hình 5.9 Biến thiên của hai tần số riêng đầu tiên của dầm hai đầu bản lề có ba vết nứt  
theo độ lớn của vết nứt và biến dạng tỷ đối ban đầu  
Hình 5.10 Mô hình dầm ứng suất trước hai đầu ngàm có một vết nứt  
Hình 5.11 Biến thiên của tần số riêng thứ nhất của dầm hai đầu ngàm theo số vết nứt  
phân bố đều theo chiều dài dầm, biến dạng tỷ đối ban đầu 0 0.001  
82  
83  
83  
84  
Hình 5.12 Biến thiên của ba tần số riêng đầu tiên (thứ tự a, b, c) của dầm ứng suất trước  
hai đầu ngàm có một vết nứt theo vị trí vết nứt  
Hình 5.13 Biến thiên của ba tần số riêng của dầm hai đầu ngàm theo số lượng vết nứt  
và độ lớn vết nứt, các vết nứt tiến triển dần theo trục dầm, biến dạng tỷ đối  
ban đầu 0  0.002  
85  
Hình 5.14 Biến thiên của hai tần số riêng của dầm hai đầu ngàm theo số lượng vết nứt  
và độ lớn vết nứt tăng dần theo trục dầm, biến dạng tỷ đối  
ban đầu0 0.001  
Hình 5.15 Biến thiên của hai tần số riêng của dầm hai đầu ngàm có ba vết nứt theo  
độ lớn của vết nứt và biến dạng tỷ đối ban đầu  
86  
86  
Hình 5.16 Mô hình dao động cưỡng bức của dầm ứng suất trước có vết nứt, hai đầu  
bản lề, chịu tác dụng của một vật thể di động  
Hình 5.17 Độ võng tại mặt cắt giữa dầm tại v=5 m/s, dầm có một vết nứt giữa dầm  
Hình 5.18 Độ võng tại mặt cắt giữa dầm tại v=5 m/s, dầm có ba vết nứt phân bố đều  
Hình 5.19 Độ võng tại mặt cắt giữa dầm tại v=10 m/s, dầm có một vết nứt giữa dầm  
87  
91  
92  
92  
Hình 5.20 Độ võng tại mặt cắt giữa dầm tại v=10 m/s, dầm có ba vết nứt phân bố đều 93  
Hình 5.21 Độ võng tại mặt cắt giữa dầm tại v=15 m/s, dầm có ba vết nứt phân bố đều 93  
Hình 5.22 So sánh độ võng động của dầm có một vết nứt giữa dầm và dầm có ba  
vết nứt phân bố đều tại hai vận tốc xe khác nhau  
94  
Hình 5.23 So sánh độ võng động của dầm có một vết nứt 30% giữa dầm  
tại vận tốc xe 5 m/s ứng với các trị số 0 khác nhau  
Hình 5.24 So sánh độ võng động của dầm có một vết nứt 30% giữa dầm  
tại vận tốc xe 10 m/s ứng với các trị số 0 khác nhau  
95  
95  
MỞ ĐẦU  
Lý do chọn đề tài  
Dao động uốn của dầm dưới tác động của các vật thể di động là một trong những bài  
toán quan trọng của động lực học công trình. Các dầm được phân loại thành dầm giản đơn  
và dầm liên tục. Dầm giản đơn là dầm chỉ có hai gối tựa ở hai đầu, dầm liên tục là dầm có  
các gối đỡ trung gian. Dao động uốn của dầm được trình bày chi tiết trong nhiều tài liệu  
chuyên khảo như [23, 45, 73, 80] hoặc trong các giáo trình [10, 12]. Hiện nay lĩnh vực xây  
dựng các công trình cầu đường và nhà cao tầng có một vị trí quan trọng trong công cuộc  
xây dựng đất nước ta. Chính vì vậy bài toán dao động uốn của dầm giản đơn và dầm liên  
tục được quan tâm nghiên cứu sâu ở Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại học  
Giao thông vận tải, Viện Cơ học Hà Nội, Trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng, Trường  
Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh và Học viện Kỹ thuật quân sự, vv.  
Lịch sử nghiên cứu về tải trọng di động đã hơn 150 năm. Trong các cuốn sách chuyên  
khảo của Fryba [32, 33], Yang và cộng sự [85] đã liệt kê khá đầy đủ các tài liệu nghiên cứu  
về dao động của cầu dầm dưới tác dụng của các phương tiện giao thông (còn gọi là hoạt tải  
khai thác). Ở nước ta, trong số các kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu ở Trường Đại  
học Bách Khoa Hà Nội và Đại học Giao thông vận tải, công trình đầu tiên nghiên cứu về  
lĩnh vực này là luận án tiến sĩ của Đỗ Xuân Thọ [2], tiếp theo là các luận án tiến sĩ của  
Hoàng Hà [3] và Nguyễn Minh Phương [6], nhiều luận văn thạc sĩ [1, 5, 8], và các bài báo  
khoa học như [11, 13], [63-68]. Các nghiên cứu này hướng về mô hình hóa cầu dưới tác  
dụng của vật thể di động. Các vấn đề nghiên cứu được thực hiện ở Viện Cơ học Hà Nội  
hướng về bài toán chẩn đoán kỹ thuật, tìm cách xác định vết nứt của dầm. Về vấn đề này  
nhóm nghiên cứu của Nguyễn Tiến Khiêm, Nguyễn Việt Khoa đã đạt dược nhiều kết quả  
mới [9, 17, 19, 62, 69]. Một số tác giả ở Học viện kỹ thuật quân sự [18], Đại học Đà nẵng  
[16] cũng quan tâm nghiên cứu vấn đề này. Mô hình dầm mà các tác giả nghiên cứu là mô  
hình dầm Euler-Bernoulli không có hoặc có vết nứt. Cho đến này đã có hàng nghìn bài báo  
khoa học về dao động của dầm không có ứng suất trước được công bố trong các tạp chí  
khoa học trong và ngoài nước, tuy nhiên đây không phải là chủ đề nghiên cứu của luận án  
nên không được liệt kê tỷ mỉ trong danh mục các tài liệu tham khảo của luận án.  
Ngày nay trong các ngành giao thông vận tải, xây dựng, chế tạo cơ khí người ta hay sử  
dụng các loại dầm bê tông cốt thép (BTCT) dự ứng lực (có ứng suất trước) hoặc dầm thép  
có ứng suất trước. Việc tính toán các loại dầm này trước đây ở nước ta mới chỉ ở mức độ  
tính toán tĩnh [14, 15]. Các nghiên cứu về dao động của dầm có ứng suất trước tuy rất cần  
thiết nhưng chưa có nhiều kết quả nghiên cứu được công bố ở trong nước. Do đó, luận án  
này tập trung vào việc nghiên cứu tính toán dao động uốn của dầm có ứng suất trước dưới  
tác dụng của hoạt tải khai thác.  
Mục tiêu nghiên cứu  
- Mục tiêu thứ nhất của luận án nhằm đề xuất và áp dụng phương pháp thiết lập mô  
hình lý thuyết mô tả dao động uốn của dầm giản đơn có ứng suất trước dưới tác dụng của  
1
một vật thể di động; phát triển thuật toán và chương trình tính toán các đặc trưng dao động  
của dầm như tần số riêng, dạng dao động riêng và độ võng động.  
- Mục tiêu thứ hai là xác định sự ảnh hưởng của ứng suất trước đến độ võng động và  
ứng suất động tại các mặt cắt ngang của dầm liên tục có ứng suất trước dưới tác dụng của  
vật thể di động bằng mô hình lý thuyết và các kết quả tính toán số dao động.  
- Mục tiêu thứ ba nhằm đề xuất phương pháp xây dựng mô hình lý thuyết và phương  
pháp tính toán xác định các đặc trưng dao động tự do và dao động cưỡng bức của dầm có  
ứng suất trước với nhiều vết nứt; xác định sự ảnh hưởng của ứng suất trước, số lượng và độ  
lớn của các vết nứt đến tần số riêng và đáp ứng động lực của dầm dưới tác dụng của vật thể  
di động.  
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của luận án là dao động của dầm giản đơn có ứng suất trước với  
các điều kiện biên khác nhau và dầm liên tục có ứng suất trước, đặt trên nhiều gối đỡ trung  
gian. Trong đó mô hình dao động được giới hạn trong những giả thiết sau:  
- Mô hình hóa dầm có ứng suất trước dựa trên lý thuyết dầm Euler-Bernoulli,  
- Biến dạng tỷ đối ban đầu tạo ra ứng suất trước được coi là hằng số theo chiều dài  
dầm,  
- Vật thể di chuyển trên dầm được mô tả bằng hệ dao động một bậc tự do,  
- Mô hình hóa vết nứt dựa trên giả thiết về điều kiện tương thích tại vị trí vết nứt đối  
với chuyển vị, mômen uốn và lực cắt theo các công trình nghiên cứu [28, 31].  
Phương pháp nghiên cứu  
Luận án sử dụng kết hợp giữa các phương pháp giải tích và các phương pháp số để  
thực hiện mục tiêu nghiên cứu.  
- Các phương pháp cơ bản của cơ học kỹ thuật như nguyên lý d'Alembert, phương  
pháp tách cấu trúc đã được áp dụng để thiết lập các phương trình vi phân dao động của hệ  
dầm - vật thể di động, phương pháp Ritz-Galerkin được áp dụng để biến đổi hệ phương  
trình có dạng hỗn hợp về hệ các phương trình vi phân thường.  
- Phương pháp số với các thuật toán như Runge-Kutta-Nyström đã được sử dụng để  
giải gần đúng hệ các phương trình vi phân thường bằng số. Các chương trình tính toán  
được xây dựng trên phần mềm tính toán đa năng MATLAB. Một số kết quả tính toán số đã  
được so sánh với kết quả thực nghiệm để kiểm chứng độ chính xác. Các dữ liệu thiết kế và  
thông số kỹ thuật của dầm cầu được sử dụng cho các thí dụ áp dụng được lấy từ các nguồn  
đáng tin cậy.  
Bố cục của luận án  
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm có năm chương nội dung. Chương một  
giới thiệu một cách tổng quan về dầm BTCT dự ứng lực và tình hình nghiên cứu tính toán  
dao động của dầm có ứng suất trước. Chương hai trình bày việc thiết lập phương trình vi  
phân dao động uốn của dầm Euler-Bernoulli có ứng suất trước và nghiên cứu bài toán xác  
định trị riêng và dạng dao động riêng của dầm giản đơn có ứng suất trước. Nội dung của  
2
chương ba là các kết quả nghiên cứu dao động uốn của dầm Euler-Bernoulli giản đơn có  
ứng suất trước dưới tác dụng của vật thể di động. Chương bốn trình bày việc tính toán dao  
động uốn của dầm liên tục có ứng suất trước dưới tác dụng của nhiều vật thể di động.  
Chương năm trình bày phương pháp tính toán và các kết quả mô phỏng số dao động uốn tự  
do của dầm ứng suất trước có nhiều vết nứt và dao động cưỡng bức của dầm loại này dưới  
tác dụng của vật thể di động.  
Đóng góp của luận án  
Về lý thuyết:  
- Tổng kết cơ sở lý thuyết và đề xuất phương pháp thiết lập phương trình dao động tự  
do của dầm giản đơn có ứng suất trước, thiết lập phương trình dao động uốn cưỡng bức  
của dầm giản đơn và dầm liên tục ứng suất trước dưới tác dụng của nhiều vật thể di động,  
thiết lập phương trình dao động uốn của dầm giản đơn có ứng suất trước với nhiều vết nứt  
dưới tác dụng của vật thể di động.  
- Đề xuất các thuật toán để tính toán số các đặc trưng dao động của dầm có ứng suất  
trước (tần số riêng, dạng dao động riêng) và đáp ứng động lực của dầm có ứng suất trước  
(không có vết nứt và có các vết nứt) dưới tác dụng của vật thể di động, xây dựng các  
chương trình tính toán dựa trên các thuật toán đã đề xuất.  
- Đưa ra nhiều kết quả tính toán số dao động dựa trên số liệu của một số công trình cầu  
tại Việt Nam. Một số kết quả tính toán lý thuyết đã được so sánh với kết quả đo đạc thực  
nghiệm và cho thấy sự phù hợp. Các kết quả tính toán số đã chỉ ra sự ảnh hưởng của ứng  
suất trước đến tần số riêng và đáp ứng động lực của dầm.  
Về thực tiễn:  
- Trình bày một số công thức thực nghiệm và công thức lý thuyết gần đúng tính toán  
lực căng dây cáp trên cơ sở đo tần số dao động riêng của dây cáp. Các công thức này đã  
được áp dụng để tính toán lực căng dây cáp của cầu Bãi Cháy và cầu Bính, cho kết quả khá  
phù hợp với kết quả đo thực nghiệm.  
- Đề xuất một phương pháp tính toán vận tốc tới hạn của ô tô khi qua cầu, trong đó có  
tính đến hiện tượng cộng hưởng tham số của dao động uốn.  
- Các chương trình tính toán của luận án có thể sử dụng để tính toán dự báo dao động  
của các công trình như cầu dầm dưới tác dụng của hoạt tải khai thác, hỗ trợ cho công tác  
thiết kế và kiểm định.  
3
CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN VỀ DAO ĐỘNG UỐN CỦA DẦM ỨNG SUẤT  
TRƯỚC  
Trong kỹ thuật xây dựng người ta thường hay sử dụng các dầm bê tông cốt thép  
(BTCT) có ứng suất trước bị nén để xây dựng các công trình cầu và nhà cao tầng. Trong kỹ  
thuật cơ khí người ta sử dụng dầm thép ứng suất trước trong chế tạo các cánh tuốc-bin.  
Chương này trước hết giới thiệu một cách sơ lược về các tính chất cơ học của dầm bê tông  
cốt thép dự ứng lực, sau đó trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu dao động uốn của  
dầm ứng suất trước và dao động uốn của dầm ứng suất trước có nhiều vết nứt.  
1.1 Các dầm bê tông cốt thép dự ứng lực  
Kết cấu ứng suất trước, điển hình là dầm BTCT ứng suất trước (dầm bê tông dự ứng  
lực) được ứng dụng rộng rãi tại hầu hết các nước tiến tiến trên thế giới từ hơn 50 năm nay  
do có khả năng chịu tải trọng lớn hơn kết cấu bê tông thông thường [14, 15, 41, 42, 43, 44,  
54, 55, 74, 75]. Ý tưởng của phương pháp ứng suất trước là tạo ra ứng suất dư ngược dấu  
với ứng suất do tải trọng gây ra trong kết cấu để nhằm giảm thiểu hiện tượng nứt và tăng  
khả năng chịu lực của kết cấu.  
Ở Việt Nam, việc ứng dụng công nghệ tạo ứng suất trước cho kết cấu xây dựng đã  
được thực hiện từ những năm 70, 80 của thế kỷ trước. Tuy nhiên, việc chế tạo kết cấu  
BTCT ứng suất trước với qui mô công nghiệp mới được áp dụng cách đây hơn chục năm  
và đang phát triển mạnh. Từ năm 1998, nhà máy bê tông Xuân Mai đã triển khai công nghệ  
bê tông dự ứng lực (căng trước) để sản xuất các cấu kiện vượt khẩu độ lớn cho xây dựng  
nhà cao tầng; tháp và dầm cầu cho đường sắt trên cao và các cầu cạn. Một số sản phẩm  
khác có thể kể đến như dầm cầu dự ứng lực của Bê tông Châu Thới; cột điện bê tông Thịnh  
Liệt; cọc dự ứng lực của Công ty Phan Vũ; ống cấp nước của Bê tông Tân Bình.  
Nguyên tắc chung của các biện pháp tạo dự ứng lực (ứng suất trước) là tìm cách nào  
đó tạo ra ứng suất kéo trong các cốt thép cường độ cao rồi sau đó lợi dụng tính dính bám  
của các cốt thép đó với bê tông hoặc dùng các mấu neo để truyền ứng lực kéo trong cốt  
thép vào bê tông, tạo thành dự ứng lực nén trước cho bê tông. Hai biện pháp tạo dự ứng lực  
phổ biến đều đòi hỏi hệ thống thiết bị đồng bộ: Bệ căng, mấu neo, kích, cốt thép cường độ  
cao, thiết bị phụ trợ và các bước công nghệ đồng bộ.  
1.1.1 Kéo căng cốt thép trước khi đổ bê tông (kéo căng trên bệ)  
Các cốt thép cường độ cao có thể được kéo căng trước bằng biện pháp cơ khí hay bằng  
phương pháp nhiệt. Sau khi được kéo căng các đầu cốt thép cường độ cao được liên kết  
4
chặt chẽ vào các bệ cố định nhờ các neo ngoài tạm thời. Tiếp đến người ta lắp đặt các cốt  
thép thường, làm ván khuôn và đúc bê tông dầm. Khi bê tông dầm đã được bảo dưỡng đủ  
cuờng độ thì tháo bỏ các neo ngoài tạm thời. Khi đó các cốt thép cường độ cao không còn  
bị neo giữ chặt vào các bệ cố định và có xu hướng co ngắn lại như cũ. Do có các neo ngầm  
đã bố trí trước nằm trong lòng khối bê tông và do có lực dính bám giữa các cốt thép và bê  
tông nên sự co ngắn này bị cản trở. Đồng thời trong bê tông xuất hiện dự ứng lực nén tồn  
tại lâu dài. Các đoạn cốt thép thừa nhô ra khỏi đầu dầm được cắt bỏ, các neo ngoài tạm  
thời được sử dụng lại để chế tạo dầm khác.  
Bệ cố định có thể bằng thép hoặc BTCT xây trên mặt đất. Cũng có thể bệ căng được  
đặt toàn bộ trên toa xe di động theo đường ray đi qua các phân xưởng của nhà máy sản  
xuất BTCT, phù hợp với dây chuyền công nghệ.  
Phương pháp này thích hợp với điều kiện sản xuất BTCT dự ứng lực trong nhà máy,  
có thể đảm bảo chất lượng cao của dầm. Do điều kiện vận chuyển từ nhà máy đến công  
trường theo đường sắt, đường ô tô, hay đường thuỷ phức tạp nên các cầu kiện BTCT dự  
ứng lực chế tạo theo phương pháp này phải hạn chế về kích thước và trọng lượng. Chiều  
dài lớn nhất của cấu kiện chỉ xấp xỉ 33 m. Như vậy phương pháp này chỉ phù hợp cho kết  
cấu dầm giản đơn.  
Nhược điểm của phương pháp căng trên bệ là đòi hỏi nhiều thiết bị và chỉ kéo căng cốt  
thép được theo sơ đồ thẳng hay sơ đồ gấp khúc.  
1.1.2 Kéo căng cốt thép sau khi đổ bê tông (căng trên bê tông)  
Trong quá trình đổ bê tông dầm, người ta tạo ra các đường ống rỗng trong lòng khối  
bê tông theo các dạng đường cong hay đường thẳng đã dự kiến. Sau khi bê tông đã đủ  
cường độ cần thiết, người ta luồn các cốt thép cường độ cao vào các ống rỗng này rồi dùng  
kích thuỷ lực để kéo căng các cốt thép. Chân kích tỳ trực tiếp lên bề mặt bê tông đầu dầm,  
còn mớ cặp của kích kẹp chặt lấy neo hoặc các đầu cốt thép mà kéo căng ra. Khi đã đạt đủ  
dự ứng suất kéo cần có trong cốt thép theo tính toán thiết kế thì tiến hành cố định các neo  
ngoài vĩnh cửu để giữ đầu cốt thép vào bề mặt bê tông đầu dầm, rồi tháo kích. Đoạn cốt  
thép cường độ cao thừa được cắt bỏ. Tiếp theo, người ta bơm vữa bê tông vào ống chứa  
cáp để lấp kín phần rỗng còn lại giữa cốt thép và các đường ống. Các neo ngoài cũng được  
đổ bê tông bịt kín để chống rỉ.  
Ưu điểm của phương pháp này là không cần bệ căng cố định và các neo tạm thời. Các  
cốt thép cường độ cao có thể đặt thẳng hay theo bất kỳ đường cong nào tùy theo dự kiến  
của người thiết kế nhằm mục đích triệt tiêu ứng suất kéo trong bê tông. Kích thước và  
trọng lượng khối lắp ghép không bị hạn chế do chuyên chở.  
Phương pháp này đặc biệt có ý nghĩa khi xây dựng các cầu BTCT dự ứng lực nhịp lớn  
theo công nghệ lắp (đúc) hẫng hay công nghệ lắp (đúc) đẩy. Các cốt thép dự ứng lực có thể  
để lại sau khi kéo căng, cũng có thể tháo ra nếu chỉ là cốt phục vụ công tác thi công.  
Phương pháp này cũng được áp dụng ở một số cầu được tạo dự ứng lực theo phương ngang  
cầu.  
1.1.3 Sơ lược về bê tông cốt thép dự ứng lực ngoài  
Trong kết cấu dự ứng lực ngoài sẽ bố trí các bó cốt thép dự ứng lực ở bên ngoài tiết  
diện bê tông. Các bó thép dự ứng lực tác động vào khối bê tông thông qua các ụ truyền lực  
được đúc liền hoặc áp chặt vào khối bê tông bằng bu lông cường độ cao và keo dán. Để có  
5
thể bố trí các bó thép theo các đường gẫy khúc cần phải tạo thêm các ụ chuyển hướng của  
bó thép.  
Dự ứng lực ngoài được áp dụng trong các truờng hợp sau:  
- Nếu việc đặt cốt thép dự ứng lực trong bê tông quá dày đặc gây khó khăn đổ bê tông  
kết cấu thì một số bó thép được đưa ra ngoài.  
- Khi cần bố trí cốt thép dự ứng lực tạm thời chỉ để phục vụ thi công. Sau đó có thể dễ  
dàng tháo bỏ.  
- Khi sửa chữa các cầu cũ có thể dùng bó thép dự ứng lực đặt ngoài để khắc phục hư  
hỏng. Cũng dùng dự ứng lực ngoài trong trường hợp cần tăng cường khả năng chịu tải của  
các cầu đang khai thác (ví dụ cầu chữ Y, cầu Niệm).  
Các bó thép dự ứng lực ngoài được bảo vệ bằng cách luồn vào trong các ống thép hoặc  
nhựa, các ống này được bơm đầy vữa xi măng hoặc mỡ công nghiệp để bảo vệ chống rỉ  
cho các bó thép dự ứng lực.  
1.2 Tổng quan về các kết quả nghiên cứu dao động của dầm ứng  
suất trước  
Các phương pháp tính toán thiết kế dầm ứng suất trước dưới tác dụng của tải trọng  
tĩnh đã được đưa vào các tiêu chuẩn và được áp dụng khá phổ biến trên thế giới cũng như  
tại Việt Nam. Trong cuốn giáo trình gồm hai tập “Cầu bê tông cốt thép” [14, 15], các tác  
giả Nguyễn Viết Trung và Hoàng Hà đã trình bày các vấn đề cơ bản về cầu BTCT dự ứng  
lực với nội dung chủ yếu về kết cấu cầu và tính toán độ bền tĩnh của dầm BTCT theo mô  
hình dầm ứng suất trước, vấn đề tính toán động chỉ được giới thiệu một cách sơ lược. Ở  
CHLB Đức, trong cuốn sách “Spannbetonbau” (Chế tạo bê tông dự ứng lực) [76], tác giả  
G. Rombach đã trình bày khá kỹ các vấn đề: vật liệu dầm dự ứng lực, phương pháp tạo ứng  
suất trước, tìm nội lực dầm ứng suất trước siêu tĩnh, các vấn đề về dão, hồi phục của vật  
liệu. Các vấn đề về vật liệu và tính toán tĩnh dầm ứng suất trước cũng được trình bày trong  
các tài liệu [20, 41, 50] ở Nhật và Hoa Kỳ.  
Các phương pháp tính toán thiết kế dầm ứng suất trước dưới tác dụng của tải trọng  
tĩnh đã được đưa vào các tiêu chuẩn và được áp dụng khá phổ biến trên thế giới cũng như ở  
Việt Nam. Tuy nhiên, các vấn đề lý thuyết về động lực học và dao động của dầm ứng suất  
trước ở các nước cũng như ở Việt Nam được nghiên cứu chưa nhiều.  
Trên thế giới, các công trình nghiên cứu về dao động của dầm ứng suất trước được bắt  
đầu nghiên cứu vào những năm 60 của thế kỷ 20. Đầu tiên là các công trình nghiên cứu  
thực nghiệm hoặc tính toán bằng đồ thị. Trong các lần tái bản các năm 1976, 1986 của  
cuốn sổ tay về thiết kế công trình ứng suất trước [20] các tác giả đã viết một chương về  
dao động của dầm ứng suất trước. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu tính toán đầu tiên  
về tần số riêng và dạng dao động riêng của dầm ứng suất trước có thể là các công trình của  
A. D. Keer ở Đại học Princeton, Hoa Kỳ, công bố vào các năm 1973 [42] và 1976 [43].  
Qua các kết quả tính toán ta thấy ảnh hưởng của ứng suất trước đối với các tần số thấp rất  
rõ, tuy nhiên ứng suất trước ít ảnh hưởng đến các tần số riêng bậc cao. Ở CHLB Đức, GS.  
O. Mahrenholz [52] và học trò của ông R. Hinrichs [39] đã nghiên cứu dao động có cản  
của dầm ứng suất trước vào các năm 1987-1990. Trong [39] tác giả đã sử dụng nguyên lý  
Hamilton thiết lập phương trình vi phân dao động uốn tự do của dầm ứng suất trước, chứng  
minh tính chất trực giao của các dạng dao động riêng. Sau đó đã đưa ra công thức xác định  
các hệ số cản của dầm ứng suất trước bằng tính toán và bằng thực nghiệm.  
Các công trình [43], [44] đã khảo sát ảnh hưởng của lực dọc đến tần số riêng và dao  
động tự do của một dầm mảnh có ứng suất trước theo một mô hình dầm giản đơn trên hai  
6
gối tựa. Dao động của một khung bê tông cốt thép có ứng suất trước dưới tác động của  
động đất đã được khảo sát và tính toán mô phỏng số trong tài liệu [55]. Hiệu ứng "làm  
mềm dầm bằng nén trước" biểu thị sự suy giảm tần số riêng uốn của dầm do nén trước đã  
được phát hiện và minh chứng bằng con đường thực nghiệm [77]. Cơ sở lý thuyết về dao  
động uốn tự do của dầm ứng suất trước cũng được trình bày khá chi tiết trong các công  
trình [25, 46, 78]. Phương pháp phần tử hữu hạn cũng đã được sử dụng để tính tần số dao  
động riêng của dầm bê tông cốt thép có ứng suất trước [47].  
Ngoài các công trình đáng chú ý nêu trên, một số tác giả đã nghiên cứu dao động của  
dầm ứng suất trước trên các mô hình lý thuyết [25, 26, 29, 30, 37, 47, 54, 74, 77, 81], trong  
đó các tác giả tập trung vào bài toán dao động tự do. Một số công trình đã phân tích khá kỹ  
ảnh hưởng của ứng suất trước đến tần số riêng và dạng dao động riêng của dầm. Việc phân  
tích ảnh hưởng của cản đến tính chất dao động tự do của dầm dầm ứng suất trước cũng có  
được đề cập nhưng còn ít [39, 52]. Các bài báo đề cập mô hình dao động uốn của dầm ứng  
suất trước dưới tác dụng của tải trọng di động còn chưa được nghiên cứu nhiều.  
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về dao động của dầm ứng suất trước được bắt  
đầu khá muộn. Nguyễn Đình Kiên ở Viện Cơ học và đồng nghiệp sử dụng phương pháp  
Phần tử hữu hạn nghiên cứu dao động của dầm Euler-Bernoulli ứng suất trước trên nền đàn  
hồi hai tham số dưới tác dụng của tải trọng di động [57, 60, 61]. Trong đó tải trọng di động  
được mô hình hóa là một lực di động. Nhóm nghiên cứu này cũng đã sử dụng phương pháp  
Phần tử hữu hạn để tính toán dao động uốn của dầm Timoscenko trên nền hai tham số dưới  
tác dụng của lực di động [58, 59]. Trong các công trình trên các tác giả xem lực tác dụng ở  
hai đầu dầm gây nên ứng suất trước trong dầm.  
Nhóm nghiên cứu về dao động của cầu ở trường Đại học Bách khoa Hà Nội nghiên  
cứu dao động uốn của dầm ứng suất trước theo hướng khác [7, 8, 67, 68]. Các ứng suất  
trước được tạo thành trong quá trình chế tạo các cấu kiện bê tông cốt thép. Các tác giả  
trong nhóm đã sử dụng Nguyên lý d’Alembert thiết lập phương trình dao động uốn tự do  
và cưỡng bức của dầm giản đơn. Các tác giả này cũng đã sử dụng phương pháp tách cấu  
trúc thiết lập phương trình dao động của dầm giản đơn và dầm liên tục ứng suất trước dưới  
tác dụng của một và nhiều vật thể di động trên dầm. Các vật thể di động được mô hình hóa  
bởi một hệ dao động (hình 1.1)  
z
v
m
k
d
x
l
w
Hình 1.1 Mô hình dầm dưới tác dụng của vật thể di động  
Cách mô hình hóa này theo GS. Panovko tốt hơn cách mô hình hóa thay thế vật thể di  
động bằng một lực di chuyển trên dầm [72]. Các vấn đề về ảnh hưởng của ứng suất trước  
và vết nứt đến tần số dao động riêng và dạng dao động riêng đã được quan tâm nghiên cứu.  
Nhóm cũng quan tâm đến các bài toán ứng dụng như dao động uốn của cầu dầm giản đơn  
và cầu dầm liên tục dưới tác dụng của các hoạt tải khai thác.  
7
1.3 Tổng quan về các kết quả nghiên cứu dao động của dầm ứng  
suất trước có vết nứt  
Việc nghiên cứu dao động của dầm chịu uốn khi xuất hiện các vết nứt dựa trên các mô  
hình cơ học luôn là vấn đề thời sự của động lực học công trình. Nhóm nghiên cứu của GS.  
Nguyễn Tiến Khiêm ở Viện Cơ học là những người đầu tiên nghiên cứu về dao động của  
dầm không ứng suất trước có vết nứt ở Việt Nam. Một dầm có vết nứt đồng nghĩa với việc  
thay đổi độ cứng chống uốn tại vị trí vết nứt, do đó, các phương pháp mô hình hóa đều  
thay thế vết nứt bằng một phần tử đàn hồi (lò xo xoắn) có hệ số mềm là dt phụ thuộc vào  
kích thước vết nứt như mô tả trên hình 1.2 [28, 31, 53].  
Hình 1.2 Mô hình hóa vết nứt  
Các kết quả nghiên cứu ở Viện Cơ học hướng về bài toán chẩn đoán kỹ thuật, thí dụ  
như phát hiện vết nứt trên dầm từ các đồ thị đáp ứng động lực theo thời gian. Nhóm nghiên  
cứu của Nguyễn Tiến Khiêm, Nguyễn Việt Khoa đã đạt dược nhiều kết quả mới [9, 17, 19,  
62, 69] khi nghiên cứu vấn đề này. Các phương pháp được sử dụng để tính toán đáp ứng  
động lực trên mô hình lý thuyết là phương pháp phổ tần số, phương pháp ma trận truyền và  
phương pháp phần tử hữu hạn. Cùng với chủ đề nhận dạng vết nứt, công trình [82] đề xuất  
một phương pháp phát hiện vết nứt của dầm bê tông cốt thép ứng suất trước bằng thực  
nghiệm.  
Tuy nhiên vấn đề dao động uốn của dầm ứng suất trước có vết nứt chưa được nghiên  
cứu ở Viện Cơ học. Trên thế giới, các kết quả nghiên cứu về dao động uốn của dầm ứng  
suất trước có vết nứt còn ít được công bố. Ta có thể kể ra đây một vài công trình của Aydin  
[22], Binici [24], Gomes và công sự [35], Hamed và Frostig [36], Huszar [40], Masoul và  
cộng sự [53], Yang và cộng sự [84]. Trong các công trình đó, các tác giả đã đề xuất các mô  
hình dao động uốn của dầm ứng suất trước có vết nứt nhằm nghiên cứu sự thay đổi về tần  
số riêng và dao động riêng của loại dầm này dưới tác động của các vết nứt. Việc xác định  
tần số riêng của dầm ứng suất trước có vết nứt hai dầu bản lề, hai đầu ngàm, một đầu ngàm  
một đầu tự do đã được khảo sát tương đối chi tiết. Nhiều tác giả sử dụng phương pháp ma  
trận truyền để thiết lập phương trình tần số của dầm ứng suất trước có số lượng vết nứt tùy  
ý [21, 24, 48, 49] do việc thực hiện tính toán số theo các bước khá đơn giản và thuận tiện.  
Trong thời gian qua, một vài phương pháp giải tích và phương pháp số đã được đề  
xuất để khảo sát động lực học của dầm có vết nứt. Trong tài liệu [31], Dimarogonas và  
cộng sự đã tổng kết một số công trình nghiên cứu quan trọng trước đó về động lực học của  
kết cấu có vết nứt. Nhóm tác giả này cũng đã đề xuất một lý thuyết tổng quát về dao động  
uốn của dầm có vết nứt với các điều kiện biên khác nhau [28].  
Ở nước ta, vấn đề dao động uốn của dầm ứng suất trước có số lượng vết nứt tùy ý đã  
được nghiên cứu ở Trường Đại học Bách khoa Hà Nội trong những năm gần đây dựa trên  
cơ sở phương pháp ma trận truyền mà Dimarogonas đã sử dụng trong các công trình [28,  
31] cho dầm không có ứng suất trước. Một số vấn đề nghiên cứu như: Thuật toán xác định  
các tần số riêng của dầm có vết nứt và có ứng suất trước, khảo sát ảnh hưởng đồng thời của  
8
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 117 trang yennguyen 22280 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Dao động uốn của dầm ứng suất trước dưới tác dụng của vật thể di động", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_dao_dong_uon_cua_dam_ung_suat_truoc_duoi_tac_dung_cu.pdf