Dự thảo tóm tắt Luận án Nghiên cứu sự lưu hành các typ huyết thanh và kiểu gen kháng kháng sinh của Streptococcus pneumoniae gây bệnh bằng kỹ thuật PCR đa mồi tại một số địa phương ở Việt Nam

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN  
TỐNG THỊ HÀ  
NGHIÊN CỨU SỰ LƢU HÀNH CÁC TYP HUYẾT THANH  
VÀ KIỂU GEN KHÁNG KHÁNG SINH CỦA Streptococcus  
pneumoniae GÂY BỆNH BẰNG KỸ THUẬT PCR ĐA MỒI  
TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG Ở VIỆT NAM  
Chuyên ngành: Vi sinh vật học  
Mã số: 62420107  
DỰ THẢO TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC  
Hà Nội, 2017  
1
Công trình đƣợc hoàn thành tại:  
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội  
và Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương.  
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:  
1. GS.TS. Đặng Đức Anh  
2. GS. TS. Phạm Văn Ty  
Phản biện 1:  
Phản biện 2:  
Phản biện 3:  
......................................................................  
......................................................................  
......................................................................  
......................................................................  
......................................................................  
......................................................................  
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp Đại học Quốc gia chấm  
luận án Tiến sĩ họp tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên  
vào hồi.. …giờ .…, ngày ..…tháng ...…năm 201.....  
Có thể tìm hiểu luận án tại:  
-
-
Thư viện Quốc gia Việt Nam;  
Trung tâm thông tin thư viện - Đại học Quốc gia Hà Nội  
2
MỞ ĐẦU  
Phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) là tác nhân vi khuẩn chủ  
yếu gây nhiễm khuẩn nghiêm trọng ở trẻ em và người già như viêm phổi, viêm  
màng não mủ và nhiễm khuẩn huyết. Vi khuẩn Streptococcus pneumoniae có  
thể có vỏ hoặc không có vỏ polysaccharide. Kháng nguyên vỏ là kháng  
nguyên quan trọng để phân loại S. pneumoniae, đồng thời kháng nguyên này  
đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh bệnh và lan truyền bệnh trong  
cộng đồng. Dựa trên sự khác biệt tính kháng nguyên vỏ, người ta phân loại vi  
khuẩn S. pneumoniae thành trên 90 typ huyết thanh khác nhau. Kháng thể  
kháng vỏ thường là kháng thể đặc hiệu và có hiệu lực bảo vệ. Vắc xin phế cầu  
đang sử dụng là vắc xin cộng hợp, bao gồm một số loại kháng nguyên vỏ  
polysaccharide của vi khuẩn S. pneumoniae.  
Phương pháp kinh điển cho chẩn đoán typ huyết thanh của vi khuẩn  
Streptococcus pneumoniae là phản ứng phồng vỏ Quellung. Phương pháp này  
thường rất tốn kém, mất nhiều thời gian, dễ gây dương tính giả do phản ứng  
chéo giữa các kháng huyết thanh, lại không phát hiện các trường hợp đồng  
nhiễm nhiều typ. Phương pháp xác định typ huyết thanh sử dụng cho các  
nghiên cứu trước đây ở Việt Nam cũng chỉ là những kỹ thuật nuôi cấy kinh  
điển. Trong vài năm gần đây, nhiều nước trên thế giới đã phát triển kỹ thuật  
PCR để định typ huyết thanh có ưu điểm là nhanh, nhạy, ít tốn kém, có tỉ lệ  
phát hiện cao và tỉ lệ đồng nhiễm các typ huyết thanh nhiều hơn so với phương  
pháp thông thường. Tuy nhiên, các kỹ thuật PCR đã công bố thường chỉ phù  
hợp cho từng khu vực nghiên cứu cụ thể và còn hạn chế về số lượng các typ  
huyết thanh được phát hiện. Việc tìm ra một quy trình xét nghiệm không dựa  
trên nuôi cấy có độ nhạy và độ đặc hiệu cao cho chẩn đoán phần lớn các typ  
huyết thanh lưu hành của phế cầu ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia là vấn đề hết  
sức cần thiết.  
3
Nhiễm trùng do S. pneumoniae có thể dự phòng vắc xin và điều trị  
bằng kháng sinh thích hợp. Tuy nhiên, việc lạm dụng kháng sinh đã làm xuất  
hiện và lan truyền gen kháng thuốc gây cản trở tiến trình và hiệu quả điều trị.  
Mặc dù tình hình kháng kháng sinh có thể thay đổi theo từng khu vực hay từng  
quốc gia, nhưng châu Á là một tâm điểm của kháng kháng sinh. Trong khi đó,  
nguồn lực cũng như cơ sở hạ tầng cho giám sát y tế cộng đồng còn rất nghèo  
nàn. Với hơn 70% dân số trên thế giới sống ở khu vực Châu Á Thái Bình  
Dương thì kháng kháng sinh ở khu vực này trở thành một gánh nặng toàn cầu.  
Chương trình giám sát về tỉ lệ mắc, sự lưu hành các typ huyết thanh và  
tính kháng kháng sinh của S.pneumoniae đã được thiết lập ở nhiều nước trên  
thế giới nhưng chưa có ở Việt Nam. Xuất phát từ tính cần thiết và ý nghĩa thực  
tiễn, chúng tôi thực hiện đề tài: Nghiên cứu sự lưu hành các typ huyết thanh  
và kiểu gen kháng kháng sinh của Streptococcus pneumoniae gây bệnh  
bằng kỹ thuật PCR đa mồi tại một số địa phương ở Việt Nam.  
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  
1. Xác định sự phân bố các typ huyết thanh của các chủng phế cầu gây bệnh  
tại một số địa phương ở Việt Nam;  
2. Xác định tình trạng kháng kháng sinh của các chủng phế cầu gây bệnh tại  
một số địa phương ở Việt Nam;  
3. Mối liên quan giữa typ huyết thanh và tính kháng kháng sinh của vi khuẩn  
Streptococcus pneumoniae.  
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN  
Nghiên cứu đã áp dụng và cải tiến được quy trình PCR đa mồi xác định  
typ huyết thanh phù hợp với điều kiện tại Việt Nam. Kỹ thuật này có ưu điểm  
là nhanh, nhạy, ít tốn kém, có tỉ lệ phát hiện cao và tỉ lệ đồng nhiễm các typ  
huyết thanh nhiều hơn so với phương pháp thông thường.  
4
Đưa ra được số liệu tổng quan về các typ huyết thanh lưu hành và tình  
trạng kháng kháng sinh giúp hoạch định chiến lược triển khai vắc xin dự  
phòng và lựa chọn kháng sinh thích hợp. Cung cấp số liệu cho các chương  
trình giám sát trong nước và các nước trong khu vực.  
Hiện nay chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam có những phân tích về mối  
liên quan giữa typ huyết thanh và gen kháng kháng sinh. Phân tích này bên  
cạnh việc cho thấy được hiệu quả của vắc xin trong việc làm giảm sự lưu hành  
các gen kháng kháng sinh, còn dự đoán được xu hướng các typ huyết thanh nổi  
trội sau khi triển khai tiêm vắc xin cho trẻ để có biện pháp thay đổi chiến lược  
dự phòng.  
CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN  
Luận án bao gồm 120 trang không kể tài liệu tham khảo và phụ lục; gồm  
3 chương, 30 bảng, 38 hình, tham khảo 185 tài liệu trong và ngoài nước. Bố  
cục luận án gồm: Mở đầu 4 trang, tổng quan 45 trang, vật liệu và phương pháp  
nghiên cứu 20 trang, kết quả và bàn luận 50 trang, kết luận 1 trang, kiến nghị 1  
trang; 3 bài báo có liên quan trực tiếp đến luận án đã được công bố.  
CHƢƠNG 1  TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
1 1  Tổng quan chung về vi khuẩn Streptococcus pneumoniae  
Vi khuẩn Streptococcus pneumoniae (S.pneumoniae), còn gọi là phế cầu  
khuẩn, là vi khuẩn Gram dương, kỵ khí tuỳ tiện, tan huyết alpha, có khả năng  
tan trong muối mật và không sinh enzym catalase. Phế cầu có thể có vỏ hoặc  
không vỏ. Vỏ polysaccharide là yếu tố độc lực của tế bào, đến nay đã phát  
hiện được trên 93 typ huyết thanh vỏ khác nhau. Chủng mang các typ huyết  
thanh khác nhau về độc lực, tỷ lệ lưu hành theo từng vùng địa lý và tính kháng  
kháng sinh. Ngoài viêm phổi, phế cầu còn là nguyên nhân gây nhiều căn bệnh  
xâm lấn khác như viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết, viêm xương, viêm tai  
5
giữa, viêm phế quản, viêm xoang cấp, viêm tai giữa, viêm nội mạc tử cung,  
viêm màng ngoài tim, viêm màng não và áp xe não.  
1 2  Typ huyết thanh của S.pneumoniae  
Các kháng nguyên vỏ của vi khuẩn S. pneumoniae được sản xuất bởi tổ  
hợp gen nằm trên cùng một vị trí cps của nhiễm sắc thể, xen kẽ giữa hai gen  
dexB và aliA. Bốn gen đầu tiên là bảo tồn và giống nhau ở tất cả các typ huyết  
thanh, trong khi phần trung tâm của locus chứa các gen đặc hiệu typ. Trình tự  
nucleotide của cps locus tương ứng với hơn 90 typ huyết thanh của vi khuẩn  
phế cầu đã được xác định và là cơ sở cho việc phân loại vi khuẩn S.  
pneumoniae dựa trên kỹ thuật sinh học phân tử. Tại châu Á, có 7 kiểu typ  
huyết thanh 1, 5, 6A, 6B, 14, 19F và 23F là phổ biến nhất chiếm 58%-66% các  
bệnh phế cầu khuẩn xâm lấn ở các quốc gia.  
Tiêm chủng cho trẻ từ sớm sẽ giúp giảm thiểu tác hại của các căn bệnh do  
phế cầu gây ra. Vắc xin phòng ngừa bệnh này sản xuất dựa trên vỏ  
polysaccharide. Vắc xin liên hợp PCV7, PCV10 và PCV13 đã lần lượt đưa vào  
triển khai áp dụng ở các nước/lãnh thổ khu vực châu Á nhưng chưa được áp  
dụng tại Việt Nam. Hiệu quả bảo vệ tại các khu vực này chưa công bố nhưng  
được ước tính dựa trên độ bao phủ các typ huyết thanh.  
1 3  Kháng kháng sinh của vi khuẩn Streptococcus pneumoniae  
S. pneumoniae kháng kháng sinh lần đầu tiên xuất hiện từ những thập  
niên 70, sau đó gia tăng nhanh chóng trên toàn cầu. Sự xuất hiện các chủng  
Streptococcus pneumoniae kháng thuốc (drug-resistant Streptococcus  
pneumoniae - DRSP) gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người và  
cộng đồng. Cơ chế sinh học phân tử gây kháng kháng sinh của S. pneumoniae  
(chủ yếu là β-lactams và macrolides) là do đột biến gây giảm tính cảm thụ đối  
với các protein gắn penicillin (chủ yếu là pbp1A, pbp2X, pbp2B) hoặc do vi  
khuẩn thay đổi cấu trúc đích (methyl hóa ribosom) do gen ermB (gây kháng  
6
đồng thời nhiều dòng kháng sinh của macrolides, clindamycine và  
tetracycline) hoặc hình thành các bơm sinh học gây thay đổi tính thấm của  
kháng sinh do các gen mef A, mef E [21]. Vi khuẩn kháng thuốc thường lan  
truyền trong cộng đồng qua việc trao đổi các kiểu gen gây kháng thuốc giữa  
các vi khuẩn cùng loài hay khác loài. Hiện nay, các nhà khoa học vẫn tiếp tục  
nghiên cứu để xác định nguồn gốc lan truyền các vi khuẩn kháng thuốc và các  
đột biến mới liên quan đến kháng thuốc.  
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2 1  Thiết kế nghiên cứu  
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phân tích.  
- Thời gian và địa điểm: Giai đoạn 2009 - 2013 tại 3 địa điểm: Bệnh viện  
đa khoa Khánh Hòa, bệnh viện đa khoa Hải Dương và bệnh viện Bạch  
Mai.  
- Đối tượng nghiên cứu: 331 chủng vi khuẩn S. pneumoniae phân lập từ  
trẻ dưới 5 tuổi viêm đường hô hấp cấp tính.  
2 2  Các phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong nghiên cứu  
- Kỹ thuật chẩn đoán bằng nuôi cấy phân lập: Khuẩn lạc vi khuẩn S.  
pneumoniae trên môi trường thạch máu 5%: Tròn, nhỏ, dẹt, không màu và có  
xu hướng lõm ở giữa, xung quanh khuẩn lạc có quầng tan huyết alpha. Vi  
khuẩn hình lưỡi mác hay ngọn nến, nối đôi giống hình cặp kính, cũng có thể  
đứng đơn hay tạo chuỗi ngắn, bắt màu Gram dương. Nhạy cảm optochin  
(Đường kính vòng vô khuẩn ≥ 14 mm), tan trong muối mật.  
- Kỹ thuật sàng lọc phế cầu khuẩn bằng PCR đa mồi  Các chủng phế  
cầu phân lập từ kỹ thuật nuôi cấy được sàng lọc bằng kỹ thuật PCR. Sử dụng  
cặp gen lytA và cpsA đặc hiệu.  
- Kỹ thuật PCR đa mồi phát hiện đồng thời nhiều typ huyết thanh:  
Áp dụng và cải tiến quy trình của CDC Hoa Kỳ xác định 40 typ huyết thanh  
7
của phế cầu. Tổ hợp các nhóm mồi được thiết lập lại sao cho các typ huyết  
thanh thường gặp ở Việt Nam sẽ được sắp xếp lần lượt theo tần suất xuất hiện  
từ cao xuống thấp, làm giảm chi phí khi xét nghiệm mẫu.  
- Kỹ thuật PCR đa mồi phát hiện kiểu gen kháng kháng sinh: Áp  
dụng và cải tiến quy trình của Nagai 2001 phát hiện các gen đột biến gây  
kháng kháng sinh: các gen pbp1A, pbp2X, pbp2B liên quan đến kháng kháng  
sinh nhóm beta-lactam; các gen ermB và mefA gây kháng đồng thời nhiều  
dòng kháng sinh của macrolides, clindamycine và tetracycline.  
- Kỹ thuật Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC): Nồng độ kháng sinh tăng  
dần trong môi trường nuôi cấy, khi đạt đến một nồng độ nhất định nó sẽ ức chế  
được sự phát triển của vi khuẩn, và có thể quan sát được bằng mắt thường.  
CHƢƠNG 3  KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN  
3 1  Tỷ lệ phân lập vi khuẩn S.pneumoniae  
Hình 3.1. Tỷ lệ phân lập S. pneumoniae và H. influenzae  
Trong số 1076 trẻ dưới 5 tuổi nhập viện do viêm đường hô hấp cấp tính,  
tỷ lệ phân lập được H.influenzae cao nhất ở khu vực Khánh Hòa, sau đó là  
Bạch Mai và Hải Dương với tỷ lệ tương ứng là 28,16%, 25,51% và 19,62%.  
Trong đó tỷ lệ đồng nhiễm cả Streptococcus pneumoniae và Heamophillus  
influenzae ở ba khu vực tương ứng là 14,7%, 12,6% và 10,8%.  
3 2  Xác định sự phân bố các typ huyết thanh các chủng phế cầu  
3.2.1. Áp dụng và cải tiến quy trình PCR xác định typ huyết thanh  
8
Trong nghiên cứu này, đã áp dụng phương pháp PCR đa mồi của CDC.  
Tuy nhiên do sự phân bố các typ huyết thanh của vi khuẩn S.pneumoniae giữa  
hai quốc gia khác nhau, nên có sự khác biệt trong việc sắp xếp tổ hợp các mồi  
ở mỗi phản ứng PCR. Sử dụng 36 cặp mồi xác định 40 typ huyết thanh của  
phế cầu, được chia thành 8 nhóm phản ứng. Đây là những typ huyết thanh phổ  
biến gây bệnh của phế cầu.  
Hình 3.3. Ảnh  
điện di quy trình  
xác định typ  
huyết thanh bằng  
kỹ thuật PCR đa  
mồi  
9
Trong số 331 chủng S. pneumoniae có tới 83,7% số chủng chỉ cần thực  
hiện 1 phản ứng PCR, 8,5% số chủng thực hiện 2 phản ứng, 2,1% số chủng  
thực hiện 3 phản ứng, số chủng thực hiện 3 và 4 phản ứng đều chỉ có 1,5%.  
Chỉ có 33 chủng (9,97%) phải chạy hết cả 8 nhóm phản ứng. Với cách sắp xếp  
các typ nổi trội được đưa lên các nhóm phản ứng đầu như vậy sẽ tiết kiệm  
được rất nhiều thời gian và nguồn lực do hạn chế được số lần thực hiện xét  
nghiệm. Đây chính là điểm mới của luận án.  
3 2 2  Kết quả phân bố các typ huyết thanh của vi khuẩn S. pneumoniae  
Trong tổng số 331 chủng S. pneumoniae được tiến hành xác định typ  
huyết thanh bằng kỹ thuật PCR đa mồi đã xác định được 13 typ huyết thanh.  
Các typ huyết thanh chiếm  
tỷ lệ vượt trội là 19F  
(28,1%), 6A/B (25,4%),  
23F(13%), 14(9,7%) và  
11(7,6%). Các typ còn lại  
chiếm tỷ lệ thấp hơn là  
15B/C (4,5%), 19A (3%),  
17F (1,8%), 23A (1,5%),  
10A (0,9%), 34 (0,9%), 3  
(0,6%), và 18 (0,3%).  
Hình 3.7. Tỷ lệ phân bố các typ huyết thanh tại 3 bệnh viện thuộc phạm vi  
nghiên cứu  
Các typ huyết thanh chiếm ưu thế gây bệnh khác nhau giữa các nhóm  
tuổi, quốc gia và thay đổi theo thời gian. Bảy kiểu typ huyết thanh (1, 5, 6A,  
6B, 14, 19F và 23F) là phổ biến nhất chiếm 58%-66% các bệnh phế cầu khuẩn  
xâm lấn ở các quốc gia. Các serotype này là nguyên nhân gây nên trên 300.000  
10  
ca tử vong ở Châu Phi và 200.000 ca tử vong ở châu Á. Trong nghiên cứu của  
chúng tôi phát hiện 5/7 kiểu typ huyết thanh thuộc nhóm này (6A, 6B, 14, 19F  
và 23F) và chiếm tới 76,2 % trong tổng số 331 chủng phân lập được.  
3.2.5. Tỷ lệ bao phủ các typ huyết thanh trong vắc xin  
Trong số 331 trẻ viêm đường hô hấp cấp tính có 243 trẻ (73,4%) được  
bao phủ bởi vắc xin PCV7 và PCV10. Độ bao phủ các typ huyết thanh tăng  
dần ở vắc xin PCV13 và PPSV23 với số lượng và tỷ lệ tương ứng là  
251(75,8%) và 291(87,9%).  
Bảng 3.5. Tỷ lệ bao phủ các typ huyết thanh trong vắc xin  
PCV7  
PCV10  
PCV13  
PPSV23  
Số lượng kiểu  
typ huyết  
thanh  
5
5
7
11  
Typ huyết  
19F, 6B,  
19F, 6B,  
19F, 6B,  
23F, 14,  
18, 19A, 3  
19F, 6B, 23F,  
14, 18, 19A,  
3, 11, 17F,  
thanh bao phủ 23F, 14, 18 23F, 14, 18  
trong vắc xin  
10A, 15B/C  
Tuổi  
<1 tuổi 127 86(67,7%) 86(67,7%) 89(70,1%)  
<2 tuổi 238 174(73,1%) 174(73,1%) 179(75,2%)  
<3 tuổi 287 209(72,8%) 209(72,8%) 215(74,9%)  
<4 tuổi 315 232(73,7%) 232(73,7%) 239(75,9%)  
<5 tuổi 331 243(73,4%) 243(73,4%) 251(75,8%)  
Giới  
113(89%)  
213(89,5%)  
251(87,5%)  
278(88,3%)  
291(87,9%)  
Nam 193 146(75,6%) 146(75,6%) 151(78,2%)  
172(89,1%)  
119(86,2%)  
Nữ  
138 97(70,3%) 97(70,3%) 100(72,5%)  
Vắc xin PCV7 và PCV10 có hiệu quả bao phủ các typ huyết thanh như  
nhau, cùng là 73,4%. Vắc xin PCV13 có tỷ lệ bao phủ cao hơn (75,8%) và có  
khả năng bảo vệ thêm được typ huyết thanh 19A và 3. Đã có nhiều báo cáo  
cho thấy các bệnh xâm lấn gây ra bởi các typ huyết thanh không bao gồm  
11  
trong vắc xin PCV7 kháng penicillin tăng lên và hầu hết các chủng kháng  
kháng sinh hiện nay được gây ra bởi typ 19A. Hơn nữa, mức độ nghiêm trọng  
của các chủng mang typ huyết thanh 19A gây đa kháng kháng sinh là nguyên  
nhân của bệnh viêm màng não và các bệnh nhiễm khuẩn xâm lấn nghiêm  
trọng, bệnh viêm xương chũm do phế cầu và là nguyên nhân dẫn đến thất bại  
trong điều trị các bệnh viêm tai giữa. Như vậy về khả năng bao phủ các typ  
huyết thanh thì vắc xin PCV13 sẽ có hiệu quả nhất trong số các loại vắc xin  
hiện có.  
3.3. Tình trạng kháng kháng sinh của các chủng phế cầu  
3.3.1. Áp dụng quy trình PCR xác định gen kháng kháng sinh  
Áp dụng và cải tiến quy trình của Nagai năm 2001 từ 3 phản ứng  
thành 2 phản ứng. Sự kết hợp này đã giúp tiết kiệm sinh phẩm, thời gian và  
công sức 1/3 lần so với quy trình ban đầu. Phản ứng 1 sử dụng 3 cặp mồi của  
các gen lytA, pbp1A, pbp2X, pbp2B với kích thước tương ứng là 319 bp, 238  
bp, 197 bp và 147 bp. Phản ứng 2 sử dụng 2 cặp mồi là mefA và ermB với kích  
thước tương ứng là 293 bp và 224 bp.  
M: Marker,  
1-4 và 6-7: đơn  
mồi,  
5: lytA, pbp1A,  
pbp2X, pbp2B,  
8: mefA, ermB,  
(-): chứng âm.  
Hình 3.12. Ảnh điện di quy trình xác định gen kháng kháng sinh  
3.3.2. Kết quả tỷ lệ phân bố kiểu gen kháng kháng sinh bằng PCR đa mồi  
Sự biến đổi protein gắn với penicillin (PBPs) làm giảm ái lực đối với  
kháng sinh là cơ chế chủ yếu giúp vi khuẩn kháng kháng thuốc. Những biến  
đổi này là do đột biến điểm hoặc thể khảm (mosaic) trong các gen pbp2X,  
12  
pbp2B, và pbp1A. Trung bình ở châu Á, có 52,4% số chủng S.pneumoniae  
không nhạy cảm với penicillin. Trong đó Việt Nam có tỷ lệ cao nhất (92%).  
Trong nghiên cứu này tỷ lệ mang gen đột biến pbp2B và pbp2X lên tới trên  
95%. Tỷ lệ mang gen kháng kháng sinh cũng tương ứng với tỷ lệ kháng kháng  
sinh penicillin lên tới 94,3% (I: 60,7%; R: 33,5%). Tỷ lệ kháng trung gian cao  
tương ứng với tỷ lệ mang kiểu gen kháng kháng sinh cao, dẫn tới xu hướng  
dịch chuyển kháng sinh nhóm penicillin mức trung gian sang nhóm kháng  
hoàn toàn. Kháng kháng sinh nhóm penicillin thường kéo theo đa khang với  
những kháng sinh nhóm beta-lactam khác.  
Bảng 3.6. Tỷ lệ phân bố kiểu gen kháng kháng sinh  
pbp1A_ pbp2x pbp2b_  
BĐ  
_BĐ  
BĐ  
MefA  
ErmB  
Khu  
vực  
p-value  
Khánh  
Hoà 154  
Hải  
Dương 77  
Bạch  
0,03  
0,011  
0,029  
0,027  
33,8%  
51,9%  
38%  
0,001  
90,9%  
74%  
94,2% 98,7% 98,1%  
89,6%  
84%  
96,1%  
91%  
96,1%  
91%  
Mai 100  
89%  
Tuổi  
≤ 2 tuổi 238  
>2 tuổi 93  
Giới  
36,6%  
46,2%  
90,3% 97,1% 97,1%  
89,9%  
77,4%  
89,2%  
92,5%  
91,4%  
p-value  
0,22  
91,7%  
87,7%  
90%)  
0,51  
0,34  
0,1  
43%  
34,1%  
39,3%  
0,93  
Nam 193  
Nữ 138  
Tổng  
96,4%  
94,9%  
95,8%  
96,4%  
94,2%  
95,5%  
86,5%  
86,2%  
86,4%  
331  
Đối với cơ chế kháng kháng sinh nhóm macrolide, con đường ức chế  
quá trình dịch mã được quy định bởi ermB là cơ chế chính ở hầu hết các quốc  
13  
gia châu Á và châu Âu và cũng đang gia tăng ở Hoa Kỳ trong thời gian gần  
đây, trong khi đó gen mefA vẫn chiếm ưu thế ở Canada. Các nguyên nhân  
chính dẫn đến sự đề kháng macrolide cao ở các nước châu Á là việc lạm dụng  
macrolid trong thực hành lâm sàng và sự lan rộng dòng vi khuẩn mang gen  
kháng macrolid qua quá trình chọn lọc kháng sinh. Với tình hình dịch tễ học  
kháng kháng sinh như vậy, kinh nghiệm sử dụng phác đồ điều trị macrolide  
đơn dòng cho các bệnh viêm phổi cộng đồng hay viêm phổi do phế cầu khác  
không phải là sự lựa chọn thích hợp ở nhiều nước châu Á, nơi có thể gây ra  
thất bại trong liệu pháp kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn.  
3 3 3  Kết quả tình trạng kháng kháng sinh theo kiểu hình bằng kỹ thuật  
nồng độ ức chế tổi thiểu  
3.3.3.1. Tình trạng kháng kháng sinh chung ở cả 3 bệnh viện thuộc khu vực  
nghiên cứu  
Bảng 3.7. Tình trạng kháng sinh của các chủng S.pneumoniae (n = 331)  
Kh  
áng  
sinh  
MI  
C5  
0
Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC)  
MIC  
90  
Range  
S
I
R
201(60,7  
%)  
111(33,5  
pcg  
0.016-32  
0.016-32  
1
1
4
4
8
2
8
2
19(5,7%)  
%)  
amp  
c
293(88,5  
16(4,8%) 22(6,6%)  
%)  
110(33,2 56(16,9% 165(49,8  
amp 0.016-128  
cav 0.008-16  
cxm 0.016-64  
1
%)  
285(86,1  
%)  
)
%)  
0.5  
2
19(5,7%) 27(8,2%)  
124(37,5 46(13,9% 161(48,6  
%)  
165(49,8  
%)  
)
%)  
44(13,3%  
)
122(36,9  
%)  
ctx  
0.008-4  
0.5  
cfp  
m
ipm  
264(79,8 65(19,6%  
0.032-4  
0.008-1  
1
2
2(0,6%)  
8(2,4%)  
%)  
)
0.2  
0.5  
120(36,3  
203(61,3  
14  
Kh  
áng  
sinh  
MI  
C5  
0
Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC)  
MIC  
90  
Range  
S
I
R
5
%)  
%)  
0.008-  
>129  
0.064-  
>129  
0.032-  
>129  
0.008-  
>129  
61(18,4%  
258(77,9  
%)  
263(79,5  
%)  
260(78,5  
%)  
224(67,7  
%)  
137(41,4  
%)  
258(77,9  
%)  
em  
32  
128  
12(3,6%)  
11(3,3%)  
16(4,8%)  
19(5,7%)  
-
)
57(17,2%  
azm  
cam  
64 >129  
32 >129  
128 >129  
)
55  
(16,6%)  
88(26,6%  
)
194(58,6  
%)  
cld  
m
cp  
tc  
1-32  
4
16  
64  
1
68(20,5%  
)
0.125-128 16  
0.5-  
5(1,5%)  
309(93,4  
cpfx 0.032-32  
7(2,1%)  
15(4,5%)  
1
%)  
Trong nghiên cứu của chúng tôi đã lựa chọn phương pháp ức chế tối  
thiểu để xác định tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn S.pneumoniae. Bên  
cạnh xác định được tỷ lệ các chủng vi khuẩn nhạy cảm và kháng kháng sinh,  
còn xác định được nồng độ tối thiểu cần thiết để tiêu diệt vi khuẩn, từ đó làm  
cơ sở để lựa chọn các mức liều trong điều trị.  
Đã có sự dịch chuyển sang nhóm giảm nhạy cảm (60%) và kháng  
(33,5%) đối với penicillin, và tỷ lệ kháng là 49,8% đối với ampicillin (MIC,  
2g/ml). Tuy nhiên trong nhóm penicillin, vẫn còn 88,5% nhạy cảm với  
amoxicillin (MIC,2g/ml) và 89,6% còn nhạy cảm với amoxicillin-  
clavunalic (MIC, 2/1g/ml). Chỉ có 5,7% số chủng S. pneumoniae còn nhạy  
với penicillin và 33,2% nhạy với ampicillin. Nồng độ ức chế tối thiểu của vi  
15  
khuẩn S.pneumoniae đối với kháng sinh nhóm penicillin ở mức thấp với MIC50  
từ 0,5-1g/ml và MIC90 từ 2-8 g/ml.  
Tỷ lệ nhạy cảm với nhóm kháng sinh Cephalosporin tăng từ thế hệ  
thấp tới thế hệ cao. Chỉ có 37,5% còn nhạy cảm với cefuroxime (thế hệ II),  
tăng dần ở cefotaxime (thế hệ III) là 49,8% và 70,8% ở cefepime (thế hệ IV).  
Tỷ lệ kháng của cefotaxime thấp (13,3%) nhưng tỷ lệ giảm nhạy cảm lại khá  
cao (36,9%). Đề kháng ở nhóm carbapenem (đại diện là imipenem) chỉ 2,4%  
(MIC, 1g/ml), tuy nhiên có tới 61,3% số chủng kháng ở mức độ trung gian.  
Các chủng S. pneumoniae đã kháng lại kháng sinh có phổ kháng  
khuẩn hẹp thuộc nhóm macrolide và lincosamide như: 77,9% kháng với  
erythromycin, 79,5% kháng với azithromycin, 78,5 kháng với clarithromycin  
và 67,7% kháng với chlindamycin. Dải kháng khuẩn trong nhóm kháng sinh  
này rộng từ 0,008 - >129 g/ml, và giá trị nồng độ tiêu diệt trên 90% số chủng  
rất cao với MIC90>129g/ml.  
Hình 3.15. Kháng kháng sinh hoàn toàn và kháng trung gian (n=331)  
Kháng sinh nhóm macrolide có tỷ lệ kháng hoàn toàn cao và tỷ lệ  
kháng trung gian thấp, như vậy nhóm giảm nhậy cảm đã dịch chuyển sang  
kháng hoàn toàn, kết hợp với kết quả các giá trị nồng độ MIC rất cao ở nhóm  
kháng sinh này (Bảng 3.7, và 3.8) chứng tỏ nhóm macrolide sẽ không còn tác  
dụng trong điều trị bệnh phế cầu nữa.  
16  
Một số kháng sinh nhóm beta-lactam có tỷ lệ kháng thấp như  
penicillin G, cefotaxim hoặc kháng sinh thế hệ cao và mạnh như cefepim,  
imipenem, ciprofloxacin nhưng lại có tỷ lệ kháng ở mức trung gian rất cao  
(Hình 3.15). Điều này dự báo khả năng dịch chuyển từ nhóm giảm nhạy cảm  
sang nhóm kháng hoàn toàn. Các loại kháng sinh này sẽ có khả năng gia tăng  
tính kháng trong tương lai gần. Dự báo khả năng gia tăng các chủng kháng  
thuốc nếu không có liệu pháp sử dụng kháng sinh hợp lý. Một trong các biện  
pháp làm giảm nhẹ xu hướng kháng kháng sinh đó là phối hợp kháng sinh đối  
với loại có tỷ lệ kháng trung gian cao hoặc luân phiên chuyển đổi sang nhóm  
kháng kháng sinh khác. Một số kháng sinh nhóm beta-lactam như amoxicillin,  
amoxicillin/ clavulanic, cefepim có tỷ lệ nhạy cảm cao tương ứng là 88,5%,  
86,1% và 79,8%. Đây là các kháng sinh có thể điều trị hiệu quả các bệnh phế  
cầu.  
3 3 5  Tình trạng đa kháng kháng sinh của các chủng S.pneumoniae  
Bảng 3.16. Đa kháng kháng sinh của vi khuẩn S.pneumoniae (n=331)  
Số kháng sinh  
Số lƣợng chủng  
Số chủng kháng cộng  
dồn  
kháng  
kháng  
13  
12  
11  
10  
9
8
7
6
5
4
3
2
1
2(0,6%)  
4(1,2%)  
8(2,4%)  
2(0,6%)  
6(1,8%)  
14(4,2%)  
16(4,8%)  
26(7,9%)  
38(11,5%)  
40(12,1%)  
50(15,1%)  
54(16,3%)  
31(9,4%)  
20(6,0%)  
23(6,9%)  
15(4,5%)  
30(9,1%)  
56(16,9%)  
94(28,4%)  
134(40,5%)  
184(55,6%)  
238(71,9%)  
269(81,3%)  
289(87,3%)  
312(94,3%)  
327(98,8%)  
17  
Số kháng sinh  
Số lƣợng chủng  
Số chủng kháng cộng  
dồn  
kháng  
kháng  
0
331(100%)  
4(1,2%)  
Các chủng vi khuẩn S.pneumoniae kháng từ 3 kháng sinh trở lên được  
gọi là đa kháng thuốc, các chủng kháng hoàn toàn tất cả các nhóm kháng sinh  
thử nghiệm là toàn kháng. Có tới 289/331 chủng phế cầu đa kháng kháng sinh,  
chiếm tỷ lệ lên tới 87,3%. Chỉ có 4 chủng (1,2%) không kháng với tất cả các  
loại kháng sinh. Có 2 chủng kháng với 13/15 loại kháng sinh. Không có chủng  
nào kháng với tất cả các loại kháng sinh, đồng nghĩa với tỷ lệ toàn kháng là  
0%. Tỷ lệ các chủng đa kháng tập trung chủ yếu ở số loại kháng sinh kháng là  
từ 4 đến 8 loại kháng sinh.  
Có mối liên quan chặt chẽ giữa tỷ lệ mang đa gen với tỷ lệ đa kháng  
kháng sinh. Số chủng không mang gen kháng hoặc mang từ 1-3 gen chỉ tập  
trung ở số chủng kháng với ít loại kháng sinh hơn. Số chủng mang cả 5 loại  
gen kháng kháng sinh tỷ lệ thuận với số loại kháng sinh kháng. 100% số chủng  
mang cả 5 gen kháng trong nhóm có kiểu hình kháng với 12 và 13 loại kháng  
sinh thử nghiệm.  
Hình 3.17. Mối liên quan giữa đa kháng và mang đa gen kháng  
18  
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đa kháng nhiều loại kháng sinh cao  
chủ yếu do tình trạng lạm dụng kháng sinh phổ biến trong điều trị cũng như  
trong nông nghiệp, đặc biệt ở những nước khu vực châu Á và ở Việt Nam.  
Một phần khác do tỷ lệ các chủng kháng penicillin và các chủng mang các  
typ huyết thanh liên quan đến kháng kháng sinh tăng cao. Các chủng kháng  
kháng sinh nhóm penicillin thường liên quan đến đa kháng kháng sinh với  
nhiều nhóm kháng sinh khác. Trong nghiên cứu này tỷ lệ kháng penicillin G  
lên tới 94,3% (60,7% kháng ở mức độ trung gian và 33,5% kháng hoàn  
toàn). Đây có thể là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến tỷ lệ đa kháng kháng sinh  
cao.  
Các typ huyết thanh (23F, 19F, and 6B), thường liên quan đến đa  
kháng nhiều dòng kháng sinh như kháng penicillin, các cephalosporin phổ  
rộng, và kháng sinh marolide tại nhiều nước khu vực châu Á giai đoạn trước  
khi tiêm vắc xin PCVs. Trong nghiên cứu của chúng tôi, các typ huyết thanh  
23F, 19F, 6A/B là phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất. Đây cũng là nguyên  
nhân dẫn đến tỷ lệ đa kháng kháng sinh ở Việt Nam. Như vậy của vắc xin  
PCVs bao phủ các typ huyết thanh phổ biến này còn có vai trò làm giảm tình  
trạng đa kháng kháng sinh.  
3 4  Mối liên quan giữa typ huyết thanh và tình trạng kháng kháng sinh  
Bảng 3.17. Tỷ lệ phân bố các gen kháng kháng sinh theo typ huyết thanh có  
và không có trong vắc xin PCV10  
mef  
pbp1 pbp2 pbp2  
Tru  
ng  
bình  
pbp- mef  
BĐ  
erm  
B
A+  
erm  
B
N
a-  
x-  
b-  
A
ĐB  
ĐB  
ĐB  
Phân nhóm typ huyết  
thanh  
79,1  
%
94,7 97,9 97,9 94,2 42,8 90,5 35,4  
PCV 243  
%
%
%
%
%
%
%
19  
65,2  
%
non-  
PCV 67  
74,6  
%
88,1 73,1 28,4 82,1 19,4  
91%  
%
%
%
%
%
PCV10  
100  
%
98,9  
%
100  
%
98,9 89,2 83,9 73,1  
92%  
19F 93  
%
%
%
%
73,8  
%
96,4  
%
100  
%
100  
%
96,4 11,9  
100  
%
11,9  
%
6A/B 84  
%
%
69,1  
%
97,7 97,7  
23F 43 86%  
%
%
86% 14% 93% 9,3%  
84,4 18,8  
69,6  
%
87,5 93,8 90,6 87,5  
14 32  
non-  
%
%
%
%
25%  
%
%
PCV10  
100  
%
100  
%
86,7 86,7  
100  
%
100  
%
100  
%
76%  
61%  
11 25  
15B/  
16%  
53,3  
%
16%  
C
15 60%  
%
%
60%  
60% 20%  
100  
71,4  
%
19A 10 80% 90% 90% 80% 30%  
%
30%  
Tổng  
95.8 95.5 89.1 39.3 86.4 29.6  
chung  
90%  
%
%
%
%
%
%
PCV10: Các typ huyết thanh được bao phủ trong vắc xin PCV10  
Non- PCV10: Các typ huyết thanh không được bao phủ trong vắc xin PCV10  
Nhóm chủng mang typ huyết thanh có trong vắc xin PCV10 mang tỷ  
lệ gen kháng kháng sinh cao hơn so với nhóm typ không có trong vắc xin.  
Trong nhóm PCV10 tỷ lệ mang gen pbp từ 94,7%-97,9% trong khi trong  
nhóm non-PCV10 tỷ lệ này từ 74,6%-88,1%. Tỷ lệ đồng nhiễm cả 3 gen pbp  
ở nhóm PCV10 là 94,2%, nhóm non-PCV10 là 73,1%. Gen kháng kháng sinh  
nhóm macrolide cũng tương tự như vậy. Nhóm PCV10 có từ 42,8%-90,5%,  
nhóm non-PCV10 từ 28,4%-82,1% mang gen mefA hoặc ermB, tỷ lệ đồng  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 14480 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Dự thảo tóm tắt Luận án Nghiên cứu sự lưu hành các typ huyết thanh và kiểu gen kháng kháng sinh của Streptococcus pneumoniae gây bệnh bằng kỹ thuật PCR đa mồi tại một số địa phương ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdu_thao_tom_tat_luan_an_nghien_cuu_su_luu_hanh_cac_typ_huyet.pdf