Luận văn Sự tham gia của người dân trong quản lý rủi ro thiên tai trên địa bàn tỉnh Bình Định

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM  
----------------  
HÀ VĂN CÁT  
SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG  
QUẢN LÝ RỦI RO THIÊN TAI TRÊN ĐỊA BÀN  
TỈNH BÌNH ĐỊNH  
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ  
TP Hồ Chí Minh - Năm 2017  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM  
----------------  
HÀ VĂN CÁT  
SỰ THAM GIA CỦA NGƢỜI DÂN TRONG  
QUẢN LÝ RỦI RO THIÊN TAI TRÊN ĐỊA BÀN  
TỈNH BÌNH ĐỊNH  
Chuyên ngành: Quản lý công  
Mã số  
: 60340403  
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ  
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. NGUYỄN TẤN KHUYÊN  
TP Hồ Chí Minh - Năm 2017  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do cá nhân tôi khảo sát, tham khảo  
tài liệu và thực hiện. Mọi trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều đƣợc dẫn  
nguồn và có độ chính xác cao trong phạm vi hiểu biết của cá nhân tôi. Luận văn  
đƣợc thực hiện trên cơ sở tổng hợp những kiến thức, nghiên cứu các dữ liệu, tài liệu  
nhiều cơ quan, đơn vị và khảo sát thực tế của tác giả./.  
.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 12 năm 2016  
TÁC GIẢ  
HÀ VĂN CÁT  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
BCHPCTT  
Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai  
Biến đổi khí hậu  
BĐKH  
BĐRC  
Hội Chữ thập đỏ tỉnh Bình Định  
CBDRM  
Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng  
DRR  
Giảm thiểu rủi ro thảm họa  
DMC  
HVCA  
Trung tâm Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai  
Đánh giá hiểm họa, tình trạng dễ bị tổn thƣơng và năng lực  
phòng tránh giảm nhẹ thiên tai (Còn gọi là Đánh giá rủi ro thiên  
tai)  
GRC  
Hội Chữ thập đỏ Đức  
GIZ  
Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức  
Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu  
Liên đoàn quốc tế Chữ thập đỏ và Trăng lƣỡi liềm đỏ  
Rủi ro thiên tai  
IPCC  
IFRC  
RRTT  
NNPTNT  
PCD  
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
Phƣơng pháp phát triển cộng đồng  
Phòng chống lụt bão  
PCLB  
PCTT  
PR  
Phòng chống thiên tai  
Nghiên cứu sự tham gia (Participatory Research)  
PAR  
Nghiên cứu hành động tham gia (Participatory Action Research)  
Tìm kiếm cứu nạn  
TKCN  
TNTM  
UNDP  
Tài nguyên và Môi trƣờng  
Chƣơng trình Phát triển Liên hợp Quốc  
(United Nations Development Programme)  
Ủy ban nhân dân  
UBND  
VCA  
Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thƣơng và năng lực  
Hội Chữ thập đỏ Việt Nam  
VNRC  
WB  
Ngân hàng Thế giới (World bank)  
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH  
Sơ đồ:  
Bảng:  
Biểu đồ:  
Hình:  
TÓM TẮT  
Hiện nay, trong điều kiện thiên tai ngày càng diễn biến cực đoan do tác động  
của biến đổi khí hậu, làm ảnh hƣởng không nhỏ đến đời sống xã hội và sự phát triển  
của đất nƣớc. Trong đó ngƣời dân là đối tƣợng chịu tác động nhiều nhất.  
Mục tiêu của luận văn tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản là: phân tích  
sự tham gia của ngƣời dân trong quản lý rủi ro thiên tai, các yếu tố ảnh hƣởng, khó  
khăn, thuận lợi… và đƣa ra một số khuyến nghị để làm tốt hơn công tác quản lý rủi  
ro thiên tai tại cộng đồng.  
Luận văn sử dụng Lý thuyết “Bậc thang của sự tham gia” của David  
Arnstein’s, và cách tiếp cận “Nghiên cứu sự tham gia” (PR), “Nghiên cứu cộng  
đồng tham gia” (PAR), cùng với việc phân tích thống kê, tham vấn, thực chứng để  
đƣa ra các giải pháp tối ƣu nhất. Tác giả luận văn đã đi nghiên cứu, khảo sát 120 hộ  
dân với phƣơng pháp chọn mẫu phi xác suất tại 4 xã, phƣờng trọng điểm về thiên tai  
(bão lũ) và mang tính đại diện cho các vùng, địa phƣơng của tỉnh, gồm: Phƣờng  
Nhơn Bình, thành phố Quy Nhơn; xã Cát Chánh, huyện Phù Cát; xã Ân Hảo Đông,  
huyện Hoài Ân và xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Thạnh. Thời gian thực hiện khảo sát  
là 3 tháng, từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2016.  
Kết quả nghiên cứu của luận văn cho thấy: Sự tham gia của ngƣời dân trong  
công tác quản lý rủi ro thiên tai là cần thiết, ngƣời dân là “trung tâm” của quá trình  
ra quyết định các hoạt động, quản lý rủi ro thiên tai làm giảm nhẹ tình trạng dễ bị  
tổn thƣơng, tăng cƣờng khả năng ứng phó, thích nghi của cộng đồng với tác động  
của thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu; hành vi của ngƣời dân đã thay đổi từ  
“ỷ lại” và “trông chờ” hỗ trợ từ bên ngoài sang chủ động, ứng phó, bảo vệ tính  
mạng bản thân, gia đình và xây dựng cộng đồng mà họ đang sinh sống an toàn hơn.  
Chính quyền và các tổ chức xã hội ở địa phƣơng có trách nhiệm tham gia và hỗ trợ  
ngƣời dân trong công tác này.  
Đề tài đã đƣa ra 7 khuyến nghị cơ bản nhất với mục đích góp phần cùng với  
địa phƣơng và ngƣời dân làm tốt công tác quản lý rủi ro thiên tai trên địa bàn tỉnh  
Bình Định.  
1
CHƢƠNG 1:  
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG  
1.1. Bối cảnh nghiên cứu:  
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, là một trong những ổ  
bão của khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng thƣờng xuyên phải đối mặt với nhiều  
loại hình thiên tai khốc liệt, nhất là thiên tai bão lụt. Trong 10 năm trở lại đây, trung  
bình hàng năm có 750 ngƣời chết và mất tích, thiệt hại về ngƣời và tài sản ƣớc tính  
tƣơng đƣơng khoảng 1 - 1,5% GDP. Thêm vào đó, BĐKH toàn cầu đã và đang làm  
thiên tai ở nƣớc ta có chiều hƣớng ngày càng gia tăng và phức tạp, kèm theo những  
đột biến khó lƣờng (DMC - BNNPTNT, 2011). Minh chứng cụ thể nhất là Cơn bão số  
6 (Xangsane) năm 2006 đã gây thiệt hại 1,2 tỉ đô la Mỹ tại 15 tỉnh miền Trung.  
Hoàn lƣu cơn bão số 3 ở các tỉnh phía Bắc và lũ lụt ở các tỉnh Bắc miềm Trung  
2016 đã làm hàng chục ngƣời chết và mất tích, thiệt hại cho các tỉnh này lên đến  
hàng trăm tỷ đồng. Cơ sở hạ tầng và dân cƣ ngày càng tập trung tại các vùng có  
mức độ tổn thƣơng cao nhƣ vùng đồng bằng hay bị lũ lụt và vùng ven biển. Qua đó  
thấy rằng thiệt hại sẽ ngày càng lớn trong tƣơng lai, khoảng 70% dân số Việt Nam  
dễ bị rủi ro thiên tai - nhất là tại các vùng nông thôn, nơi sinh kế bị đe dọa nhiều  
nhất (WB). Trong bối cảnh đó, những năm qua, công tác phòng chống thiên tai  
đƣợc Đảng, nhà nƣớc và nhân dân ta xác định là một trong những nhiệm vụ ƣu tiên  
và xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đầu tƣ kinh phí  
và sức lực liên tục trong nhiều năm để xây dựng hệ thống các công trình, cơ sở vật  
chất phòng chống thiên tai, nhà nƣớc đã quan tâm hoàn thiện thể chế, chiến lƣợc,  
chính sách, tăng cƣờng năng lực và nhận thức của ngƣời dân. Chiến lƣợc quốc gia  
phòng chống thiên tai đến năm 2020 và gần đây là Luật Phòng, chống thiên tai đƣợc  
ban hành, các đề án, dự án đã và đang đƣợc tổ chức thực hiện đã chứng minh cho  
nỗ lực đó của Đảng và Nhà nƣớc ta. Đề án “Nâng cao nhận thức cộng đồng và  
QLRRTT dựa vào cộng đồng” đã đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ thông qua (Quyết  
định số 1002/QĐ-TTg ngày 13/7/2009) với mục tiêu tăng cƣờng nhận thức, kỹ năng  
cho ngƣời dân các xã - vùng thƣờng xuyên chịu ảnh hƣởng bởi thiên tai, qua đó  
   
2
ngƣời dân chủ động tham gia đánh giá hiểm họa, xác định nguồn lực, xây dựng kế  
hoạch PCTT với trọng tâm là xây dựng phƣơng châm “4 tại chỗ”.  
Bình Định là một tỉnh trong khu vực Duyên hải miền Trung, chịu nhiều tác  
động mạnh của thiên tai nhƣ: bão, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn… Trong các loại  
hình thiên tai, thì bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt gây hậu quả rất nặng nề trên nhiều  
lĩnh vực: kinh tế, xã hội, môi trƣờng... cho các địa phƣơng. Hàng năm, UBND tỉnh  
và các cấp chính quyền địa phƣơng đều xây dựng các kế hoạch, phƣơng án phòng  
chống thiên tai, nhƣng những thiệt hại do thiên tai, nhất là thiên tai bão, lũ lụt gây ra  
cho Bình Định không những giảm mà còn có xu hƣớng tăng lên với cƣờng độ mạnh  
hơn, đời sống của ngƣời dân luôn bị de dọa, sản xuất nông - lâm - thủy sản bấp  
bênh, tổn hại do bão, lũ lụt những năm gần đây đã gây ra rất nhiều thiệt hại lớn cho  
tỉnh. Từ 1990 đến nay, ở tỉnh Bình Định, năm nào cũng xảy ra bão, lũ lụt; bình quân  
mỗi năm xảy ra 3,5 đợt lũ lụt, chịu ảnh hƣởng của 0,5 cơn bão; trong giai đoạn 1999  
- 2015, tỉnh Bình Định chịu ảnh hƣởng trực tiếp của 10 cơn bão, làm 368 ngƣời  
chết, 279 ngƣời bị thƣơng, 6.972 hộ bị sập nhà, 56.533 hộ bị hƣ hỏng, 500 tàu bị  
chìm và hƣ hỏng nặng, tổng thiệt thiệt hại khoảng 6.600 tỷ đồng. Điển hình năm  
2009, hai cơn bão số 9 và số 11 kết hợp lũ lụt đã làm 29 ngƣời chết, 72 ngƣời bị  
thƣơng, thiệt hại kinh tế khoảng 972 tỷ đồng. Năm 2013, do ảnh hƣởng của hoàn  
lƣu bão số 15 kết hợp với không khí lạnh tăng cƣờng và nhiễu động gió Đông trên  
cao, khu vực tỉnh Bình Định có mƣa rất to, mƣa lũ từ ngày 13 - 18/11/2013 đến đã  
làm 19 ngƣời chết, 14 ngƣời bị thƣơng, 101.470 nhà bị ngập nƣớc, 510.000 ngƣời bị  
ảnh hƣởng, thiệt hại ƣớc tính 2.125 tỷ đồng (UBND - KHPCTT, 2015). Từ đầu  
tháng 11 đến tháng 12/2016, tại tỉnh Bình Định đã xảy ra năm đợt mƣa lũ lớn, lƣợng  
mƣa bình quân 416 mm. Nƣớc các sông trong tỉnh ở mức báo động 3 và trên báo  
động 3. Đỉnh lũ trên sông Kôn tại Bình Nghi là 17,1 m, dƣới báo động 3 0,4 m.  
Trong năm đợt mƣa lũ vừa qua đã gây thiệt hại nặng nề ở các huyện, thị xã, thành  
phố trong tỉnh với 42 ngƣời chết, 10 ngƣời bị thƣơng, 908 nhà sập hoàn toàn, 409  
nhà tốc mái hƣ hỏng nặng, 110.697 lƣợt nhà ngập nƣớc; 114/159 xã, phƣờng ngập  
trong nƣớc, trên 70.000 hộ dân phải di dời. Hạ tầng giao thông, thủy lợi, đê điều,  
3
thiệt hại về sản xuất nông - lâm - ngƣ nghiệp… là rất lớn; thiệt hại về tài sản ƣớc  
tính 2.214 tỷ đồng (UBND, 2016). Theo các cụ lớn tuổi định cƣ lâu năm tại địa  
phƣơng, thì từ năm 1953 đến nay, tỉnh Bình Định hứng chịu 7 đợt mƣa lũ lớn gây  
thiệt hại nhiều về ngƣời và tài sản (Các cơn mƣa lũ lớn diễn ra vào các năm: 1953,  
1964, 1972, 1984, 2009, 2013 và 2016). Diễn biến mƣa lũ năm 2016 có thể xem đây  
là đợt mƣa lũ lịch sử, thiệt hại nhất của tỉnh Bình Định từ trƣớc tơi nay.  
Để chủ động ứng phó với thiên tai, cần giúp ngƣời dân nhận thức một cách  
đầy đủ và rõ ràng về tác hại của nó; nhận thức vai trò và tầm quan trọng của chính  
họ trong các giải pháp ứng phó với thiên tai và thích ứng với điều kiện BĐKH hậu  
hiện nay. Sự tham gia của ngƣời dân, cộng đồng trong QLRRTT,nhất là QLRRTT  
lụt bão là một quá trình mà trong đó ngƣời dân đang đối mặt với RRTT, tham gia  
tích cực vào việc xác định, phân tích các rủi ro; trên cơ sở đó lập kế hoạch thực  
hiện, theo dõi và đánh giá các hoạt động nhằm mục đích giảm nhẹ các tình trạng dễ  
bị tổn thƣơng và tăng cƣờng khả năng thích nghi, ứng phó của ngƣời dân trƣớc  
thiên tai và BĐKH. Điều này cũng có nghĩa là ngƣời dân trở thành trung tâm của  
quá trình ra quyết định và triển khai các hoạt động QLRRTT. Chính quyền và các tổ  
chức xã hội ở địa phƣơng có trách nhiệm tham gia và hỗ trợ ngƣời dân trong suốt  
quá trình đó.  
Tại một số xã, phƣờng trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua có triển khai một  
số dự án về giảm thiểu rủi ro thảm họa (lụt bão) dựa vào cộng đồng, do Hội Chữ  
thập đỏ Na Uy, Đức, Mỹ, Hà Lan, Ngân hàng Thế giới, các tổ chức phi chính phủ  
tài trợ (Các cơ quan thực hiện nhƣ: Hội Chữ thập đỏ, Sở NNPTNT, Sở TNMT…)  
đã huy động đông đảo ngƣời dân đƣợc tham gia vào các hoạt động của dự án, bƣớc  
đầu mang lại nhiều hiệu quả thiết thực và có nhiều quyết định đúng đắn trong  
QLRRTT, giảm thiểu thiệt hại về ngƣời và tài sản do thiên tai gây ra. Tuy nhiên,  
phạm vi thực hiện còn hẹp, sự tham gia của ngƣời dân chƣa nhiều.  
Đề tài “Sự tham gia của người dân trong quản lý rủi ro thiên tai trên địa  
bàn tỉnh Bình Định” là cần thiết, góp phần giải quyết những thực trạng nêu trên  
trong giai đoạn hiện nay.  
4
1.2. Mục tiêu nghiên cứu:  
1.2.1. Mục tiêu tổng quát:  
Đánh giá sự tham gia của ngƣời dân trong QLRRTT trên địa bàn tỉnh Bình  
Định, từ đó đƣa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao vai trò, sự tham gia của  
ngƣời dân trong hoạt động QLRRTT trong điều kiện BĐKH hiện nay.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể:  
Luận văn làm rõ các vấn đề sau:  
- Phân tích và đánh giá sự tham gia, các yếu tố ảnh hƣởng, thuận lợi, khó  
khăn… của ngƣời dân trong QLRRTT trong điều kiện với BĐKH.  
- Đƣa ra một số khuyến nghị để nâng cao sự tham gia của ngƣời dân trong  
QLRRTT.  
1.3. Câu hỏi nghiên cứu:  
Đề tài tập trung vào các câu hỏi nghiên cứu sau:  
Câu hỏi 1: Tại sao cần phải có sự tham gia của ngƣời dân trong công tác  
phòng, chống và QLRRTT?  
Câu hỏi 2: Sự tham gia của ngƣời dân Bình Định trong các hoạt động  
QLRRTT, các yếu tố ảnh hƣởng đến sự tham gia của ngƣời dân nhƣ thế nào?  
Câu hỏi 3: Làm thế nào để tăng cƣờng hơn nữa tính chủ động, tham gia tích  
cực của ngƣời dân trên địa bàn tỉnh trong QLRRTT, thích ứng trong điều kiện  
BĐKH?  
1.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:  
1.4.1. Đối tƣợng:  
Sự tham gia của ngƣời dân trong QLRRTT trên địa bàn tỉnh Bình Định.  
1.4.2. Phạm vi:  
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu mức độ tham gia của ngƣời dân  
tại 4 xã, phƣờng trọng điểm về thiên tai (lụt bão) của tỉnh Bình Định, gồm: Phƣờng  
Nhơn Bình - Thành phố Quy Nhơn (đô thị loại 1, phía Nam tỉnh), xã Ân Hảo Đông  
- Huyện Hoài Ân (xã trung du, huyện trung du, phía Bắc tỉnh), xã Cát Chánh-  
Huyện Phù Cát (xã ven biển, huyện đồng bằng của tỉnh) và xã Vĩnh Thịnh - Huyện  
Vĩnh Thạnh (xã miền núi, huyện miền Núi của tỉnh).  
             
5
- Phạm vi thời gian: Thu thập thông tin, số liệu trong tỉnh và tại các xã,  
phƣờng nghiên cứu từ năm 2005 đến 2015.  
1.5. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn thông tin:  
1.5.1. Phƣơng pháp nghiên cứu:  
- Cách tiếp cận của đề tài: Từ ngƣời dân tại địa bàn các xã, phƣờng trọng  
điểm thiên tai lụt, bão của của 4 huyện, thành phố trong tỉnh.  
- Số liệu nghiên cứu:  
+ Số liệu thứ cấp: Các số liệu đƣợc cập nhật từ nguồn tài liệu của IFRC;  
BNNPTNT; BTNMT; VNRC; Văn phòng thƣờng trực Ban chỉ huy Phòng chống  
thiên tai Quốc gia; các cục, viện, trƣờng đại học… Văn phòng Ban chỉ huy PCTT  
và TKCN các cấp của tỉnh, cùng với số liệu các cơ quan liên quan nhƣ: Sở  
NNPTNT, Sở TNMT, Văn phòng Điều phối BĐKH tỉnh, Hội Chữ thập đỏ tỉnh,  
Cục Thống kê tỉnh; UBND và Hội Chữ thập đỏ các xã, phƣờng nghiên cứu...  
+ Số liệu sơ cấp: Khảo sát 120 ngƣời dân tại 4 xã, phƣờng nghiên cứu.  
- Phƣơng pháp xử lý số liệu: Phƣơng pháp nghiên cứu định tính, nghiên cứu  
số liệu thực chứng từ ngƣời dân; cùng với phân tích, so sánh, thống kê mô tả để trả  
lời các câu hỏi nghiên cứu đề ra ở trên.  
- Các công cụ sử dụng trong đề tài: Thang đo của David Arnstein’s, cách  
tiếp cận “Nghiên cứu sự tham gia” (PR), “Nghiên cứu cộng đồng tham gia” (PAR)  
và các nghiên cứu khác về sự tham gia của ngƣời dân để đánh giá, phân tích.  
   
6
- Khung phân tích sự tham gia của ngƣời dân trong QLRRTT trên địa bàn  
tỉnh Bình Định:  
Mục tiêu:  
Phân tích và đánh giá sự tham  
gia, những yếu tố ảnh hƣởng,  
thuận lợi, khó khăn của ngƣời  
dân trong QLRRTT; đƣa ra  
các khuyến nghị.  
Tham khảo kinh  
nghiệm và thực  
chứng với ngƣời dân  
tại cộng đồng  
Phƣơng pháp nghiên  
cứu PA, PAR, phân  
tích mô tả…  
Hệ thống hóa cơ sở lý  
luận và thực tiễn về  
PCTT và RRTT  
Chính quyền, hội đoàn  
thể ở địa phƣơng hỗ  
trợ trong công tác  
QLRRTT  
Thu thập và phân  
tích số liệu thứ cấp,  
sơ cấp  
Hộ dân  
Sơ đồ 1.1: Khung phân tích.  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)  
 
7
Nghiên cứu cơ sở lý luận, chuẩn  
bị bảng hỏi, câu hỏi phỏng vấn…  
Thu thập thông tin dữ liệu  
thứ cấp  
Thu thập thông  
tin thứ cấp khác  
Điều tra qua  
bảng hỏi ngƣời  
d
ân  
Góp ý của  
chuyên gia  
Tổng hợp, phân tích thông  
tin, dữ liệu (Phân tích thống  
kê, PR, PAR…)  
Viết và trình bày luận văn  
Sơ đồ 1.2: Trình tự các bước nghiên cứu.  
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)  
1.5.2. Nguồn thông tin dự kiến:  
Các số liệu đƣợc cập nhật từ nguồn tài liệu của IFRC; BNNPTNT; BTNMT;  
VNRC; Văn phòng thƣờng trực Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai Quốc gia; các  
cục, viện, trƣờng đại học… Văn phòng Ban chỉ huy PCTT và TKCN các cấp của  
tỉnh, cùng với số liệu các cơ quan liên quan nhƣ: Sở NNPTNT, Sở TNMT, Văn  
phòng Điều phối BĐKH tỉnh, Hội Chữ thập đỏ tỉnh, Cục Thống kê tỉnh; UBND và  
Hội Chữ thập đỏ các xã, phƣờng nghiên cứu...  
   
8
CHƢƠNG 2:  
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
2.1. Tình hình thiên tai và Biến đổi khí hậu ở Việt Nam:  
Việt Nam là quốc gia hàng năm phải đối mặt với nhiều loại hình thiên tai  
khác nhau, đặc biệt là lũ lụt, bão. Trong 10 năm trở lại đây, trung bình hàng năm có  
tới 750 ngƣời chết và mất tích, thiệt hại về tài sản ƣớc tính tƣơng đƣơng khoảng 1 -  
1,5% GDP đã tác động xấu đến nhiều mặt về phát triển kinh tế, xã hội và môi  
trƣờng. Trong bối cảnh BĐKH hiện nay ngày càng biểu hiện rõ ở Việt Nam, thiên  
tai đƣợc dự báo là sẽ ngày càng khốc liệt, khó lƣờng, gia tăng cả về cƣờng độ và tần  
suất khiến ngƣời dân, chính quyền và các thành phần xã hội khác phải gánh chịu  
những rủi ro thiên tai lớn hơn bao giờ hết.  
Theo thống kê của Ban chỉ đạo PCTTTW: Từ năm 1996 đến năm 2011, số  
ngƣời chết do lụt bão có xu hƣớng gia tăng (năm 2003 là 180 ngƣời, đến năm 2008  
là 474 ngƣời), đồng thời thiệt hại về kinh tế cũng có xu hƣớng tăng mạnh, từ 1.589  
tỷ năm 2003 đến hơn 18.565 tỷ năm 2006.  
Năm 2015, theo ƣớc tính thiên tai đã làm 154 ngƣời chết, hơn 445.000 ha  
diện tích lúa và hoa màu bị thiệt hại, hàng triệu m³ đất đá giao thông, thủy lợi bị sạt  
lở, bồi đắp. Ƣớc tổng thiệt hại khoảng 8.114 tỷ đồng. Tác động của BĐKH tại nƣớc  
ta là nghiêm trọng, diễn biến của BĐKH thực tế diễn ra nhanh hơn nhiều so với các  
dự báo (Lê Minh Nhật - BTNMT, 2015).  
Chính phủ và nhân dân Việt Nam rất quan tâm đến giảm thiểu rủi ro thiên tai  
và ứng phó với BĐKH. Chính phủ đã thể hiện một cam kết mạnh mẽ trong việc  
giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với BĐKH thông qua việc Thủ tƣớng Chính phủ ban  
hành Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg ngày 16/11/2007 và Quyết định số  
2139/QĐ-TTg ngày 5/12/2011 về Phê duyệt Chiến lƣợc quốc gia về BĐKH, và sau  
đó cụ thể hóa bằng Quyết định số 1002/QĐ-TTg ngày 13/7/2009 về Phê duyệt Đề  
án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng,  
Quyết định số 1183/QĐ-TTg ngày 30/8/2012 Phê duyệt Chƣơng trình mục tiêu  
   
9
quốc gia ứng phó với BĐKH giai đoạn 2012 - 2015. Đặc biệt, Luật Phòng chống  
thiên tai đã đƣợc Quốc hội Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII,  
kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 19/6/2013. Hiện nay, mọi nỗ lực đang đƣợc tiến hành  
để triển khai rộng các chính sách nói trên tại các địa phƣơng trên toàn quốc.  
Mục tiêu chung của Chiến lƣợc quốc gia về phòng, chống và giảm nhẹ thiên  
tai là huy động mọi nguồn lực để thực hiện có hiệu quả công tác phòng tránh và  
giảm nhẹ thiên tai từ nay đến năm 2020, nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về  
ngƣời và tài sản, hạn chế sự phá hoại tài nguyên thiên nhiên, môi trƣờng và di sản  
văn hóa, góp phần quan trọng bảo đảm phát triển bềnh vững của đất nƣớc, đảm bảo  
quốc phòng, an ninh. Để thực hiện thành công Chiến lƣợc quốc gia về phòng, chống  
và giảm nhẹ thiên tai thì nhận thức và sự tham gia của ngƣời dân và chính quyền địa  
phƣơng là rất quan trọng. Chính vì vậy, ngoài các chƣơng trình nâng cấp cơ sở hạ  
tầng, Chính phủ còn ban hành Đề án 1002 về Nâng cao nhận thức cộng đồng và  
quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, trƣớc mắt thực hiện cho 6.000 xã có  
nguy cơ rủi ro thiên tai cao trong toàn quốc. Bên cạnh đó, mục tiêu chiến lƣợc của  
Chƣơng trình quốc gia ứng phó với BĐKH là đánh giá đƣợc mức độ tác động của  
BĐKH với các lĩnh vực, ngành và địa phƣơng trong từng giai đoạn và xây dựng  
đƣợc kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó với BĐKH cho từng giai đoạn  
ngắn hạn và dài hạn, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nƣớc, tận dụng  
các cơ hội phát triển nền kinh tế theo hƣớng cacbon thấp và tham gia cùng cộng  
đồng quốc tế trong nỗ lực giảm nhẹ BĐKH, bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất.  
Việt Nam đã tham gia nhiều hoạt động cấp khu vực và toàn cầu về BĐKH.  
Đến nay, nhiều bộ, ngành, địa phƣơng đã ban hành kế hoạch hành động ứng phó  
với BĐKH. Kịch bản ứng phó với BĐKH đã đƣợc Bộ TNMT xây dựng năm 2009,  
đƣợc bổ sung, cập nhật cho các vùng năm 2012 là cơ sở quan trọng để các bộ,  
ngành, địa phƣơng xây dựng chƣơng trình hành động ứng phó phù hợp. Việt Nam  
cũng đã triển khai một số chƣơng trình nghiên cứu về ứng phó BĐKH, phòng tránh,  
giảm nhẹ thiên tai có hiệu quả từ nguồn ngân sách nhà nƣớc, từ nguồn tài trợ của  
các tổ chức quốc tế, Ngân hàng Thế giới, các tổ chức phi chính phủ… qua đó, đã  
10  
tăng cƣờng tính chủ động và tích cực của cộng đồng để ứng phó với những ảnh  
hƣởng của thiên tai và BĐKH thông qua giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thƣơng,  
tăng cƣờng năng lực cho cộng đồng bám sát phƣơng châm “4 tại chỗ” là vấn đề  
quan tâm hàng đầu trong chiến lƣợc và hành động của Việt Nam trong giai đoạn  
hiện nay.  
Tại Hội nghị lần thứ 21 về BĐKH (COP21) - Thủ đô Paris (Pháp), 12/2015,  
Ông Nguyễn Tấn Dũng đã có bài phát biểu cam kết thực hiện các giải pháp về  
BĐKH tại Việt Nam là: “Một là, giai đoạn từ nay đến năm 2020, trong điều kiện  
khó khăn về nguồn lực nhƣng chúng tôi tiếp tục tích cực triển khai Chiến lƣợc,  
Chƣơng trình, kế hoạch về ứng phó với biến đổi khí hậu trên nhiều lĩnh vực với các  
biện pháp thiết thực. Thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ trong Công ƣớc khung của  
Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và Nghị định thƣ Kyoto. Việt Nam sẽ đóng góp  
1 triệu USD vào Quỹ Khí hậu xanh giai đoạn 2016 - 2020. Hai là, đối với giai đoạn  
sau năm 2020, mặc dù là một nƣớc đang phát triển còn nhiều khó khăn, chịu tác  
động nặng nề của biến đổi khí hậu, Việt Nam vẫn cam kết giảm 8% lƣợng phát thải  
khí nhà kính vào năm 2030 và có thể giảm đến 25% nếu nhận đƣợc hỗ trợ hiệu quả  
từ cộng đồng quốc tế. Việt Nam sẽ xem xét định kỳ, điều chỉnh phù hợp với điều  
kiện thực tế” (Nguyễn Tấn Dũng, 2015).  
“Biến đổi khí hậu mà trƣớc hết là nóng lên toàn cầu và nƣớc biển dâng là  
một thách thức lớn đối với nhân loại trong thế kỷ 21. Ứng phó với biến đổi khí hậu  
phải đƣợc đặt trong mối quan hệ toàn cầu; không chỉ là thách thức mà còn tạo cơ  
hội thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trƣởng theo hƣớng phát triển bền vững. Phải  
tiến hành đồng thời thích ứng và giảm nhẹ, trong đó thích ứng với biến đổi khí hậu,  
chủ động phòng, tránh thiên tai là trọng tâm” (NQ 24 BCHTW Đảng, Khóa XI,  
2013). Thiên tai và các hiện tƣợng khí hậu cực đoan đang ngày càng gia tăng chƣa  
từng có ở nhiều nơi trên thế giới, đang là mối lo ngại của các quốc gia trên thế giới  
trong đó có Việt Nam. BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến đời sống con ngƣời  
trên phạm vi toàn cầu: theo dự báo đến năm 2080, sản lƣợng ngũ cốc có thể giảm 2  
11  
- 4 %, khi đó giá sẽ tăng 13 - 45%, số ngƣời thiếu lƣơng thực sẽ là 36 - 50%. Nƣớc  
biển dâng cao là nguyên nhân chính gây ngập lụt, nhiễm mặn nguồn nƣớc, ảnh  
hƣởng mạnh đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đến công nghiệp và các hoạt động kinh  
tế khác cũng nhƣ đời sống ngƣời dân. Các công trình hạ tầng đƣợc thiết kế theo tiêu  
chuẩn hiện tại khó lòng đáp ứng đầy đủ các dịch vụ trong tƣơng lai. Tại Việt Nam,  
trong 50 năm qua nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0,7oC, mực nƣớc biển dâng cao  
khoảng 20 cm. Thiên tai và các hiện tƣợng khí hậu cực đoan đã tác động đến nƣớc  
ta ngày càng khốc liệt. Theo dự báo, đến năm 2100 nhiệt độ trung bình ở Việt Nam  
sẽ tăng lên 3oC và mực nƣớc biển dâng cao 1m (UBND, Kịch bản ứng phó BĐKH  
Bình Định, 2011).  
Theo Tổng quan Báo cáo phát triển con người: Nếu nhiệt độ trái đất tăng lên  
3 - 4oC có thể khiến cho 330 triệu ngƣời phải di dời tạm thời hay vĩnh viễn do lũ lụt,  
trong đó khoảng 22 triệu ngƣời Việt Nam có thể chịu ảnh hƣởng bởi sự nóng lên  
toàn cầu và nƣớc biển dâng. Theo kịch bản BĐKH và nƣớc biển dâng cho Việt Nam  
năm 2012, nếu mực nƣớc biển dâng lên 1 mét, sẽ có khoảng 39% diện tích ở đồng  
bằng sông Cửu long, trên 10% diện tích đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, gần  
9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số Thành phố Hồ Chí  
Minh sẽ bị ảnh hƣởng trực tiếp; trên 4% hệ thống đƣờng sắt, trên 9% hệ thống quốc  
lộ và khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ của Việt Nam sẽ bị ảnh hƣởng (UNDP - 2007 –  
2008).  
Việt Nam là một quốc gia nằm ở trong 5 ổ bão của thế giới, trƣớc diễn biến  
bất thƣờng của BĐKH, tình hình thiên tai ngày càng diễn biến phức tạp và mức độ  
rủi ro thiệt hại đã và sẽ ngày càng tăng trong các năm tới, đòi hỏi chúng ta phải có  
những hành động ứng phó với lâu dài và kịp thời.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 105 trang yennguyen 14700 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Sự tham gia của người dân trong quản lý rủi ro thiên tai trên địa bàn tỉnh Bình Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_su_tham_gia_cua_nguoi_dan_trong_quan_ly_rui_ro_thie.pdf