Luận văn Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của họ Nấm Linh chi Ganodermataceae ở Vườn quốc gia Chư Yang Sin

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA HỌ NẤM LINH  
CHI (GANODERMATACEAE DONK)  
Ở VƯỜN QUỐC GIA CHƯ YANG SIN  
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG  
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH  
HÀ NỘI, NĂM 2018  
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA HỌ NẤM LINH  
CHI (GANODERMATACEAE DONK)  
Ở VƯỜN QUỐC GIA CHƯ YANG SIN  
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH  
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG  
MÃ SỐ: 60440301  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
TS. ĐỖ HỮU THƯ  
HÀ NỘI, NĂM 2018  
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI  
Cán bộ hướng dẫn chính: TS. Đỗ Hữu Thư  
Cán bộ chấm phản biện 1: PGS. TS Dương Minh Lam  
Cán bộ chấm phản biện 2: TS Lê Thanh Huyền  
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:  
HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI  
Ngày 23 tháng 6 năm 2018  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết  
quả nên trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình  
nào khác. Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu thông tin được  
đăng tải trên các trang web theo danh mục tài liệu đồ án.  
Tác giả  
Nguyễn Thị Quỳnh Anh  
 
ii  
LỜI CÁM ƠN  
Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và toàn thể Quý thày, cô  
giáo trong Khoa Môi trường trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã  
giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện.  
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn T.S Đỗ Hữu  
Thư đã tận tình hướng dẫn, góp ý và truyền đạt những kiến thức bổ ích cũng như  
những định hướng chuyên đề cho tôi.  
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến đề tài: “ Bảo tồn và phát triển  
nguồn gen của ba loài Nấm lớn đang bị đe dọa là Nấm thông Boletus edulis Bull. Ex  
Fr., Nấm mào gà Cantharellus cibarius Fr., Nấm lưỡi bò Fistulina hepatica  
(Schaeff. Ex Fr.) Fr thuộc chương trình bảo vệ môi trường. Thời gian thưc hiện đề  
tài từ 2017 – 2019 do Thày Đỗ Hữu Thư làm chủ nhiệm đã tạo điều kiện để tôi thực  
hiện luận văn này.  
Trong giới hạn khuôn khổ của một luận văn, chắc chắn sẽ không thể bao quát  
trọn vẹn được hết các vấn đề xoay quanh nội dung nghiên cứu. Vì vậy tôi rất mong  
nhận được nhiều ý kiến từ các thày cô để bổ sung cho luận văn này.  
Qua các ý kiến đóng góp giúp tôi có thể hoàn thiện hơn vốn kiến thức của  
mình trong quá trình vận dụng vào thực tiễn.  
Xin trân trọng cảm ơn!  
 
iii  
MỤC LỤC  
 
iv  
v
TÓM TẮT LUẬN VĂN  
Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Quỳnh Anh  
Lớp:CH1MT Khoá: 1  
Cán bộ hướng dẫn: TS Đỗ Hữu Thư  
Tên đề tài: Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của họ nấm Linh Chi  
(Ganodermataceae Donk) ở Vườn Quốc Gia Chư Yang Sin  
1. Mở đầu  
Vườn quôc gia Chư Yang Sin nằm trong khu vực Tây Nguyên và là nơi có sự đa  
dạng cao của các loài nấm lớn trong đó có các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae.  
Các công trình nghiên cứu về sự đa dạng của thành phần loài của họ Nấm  
Ganodermataceae ở đây còn ít và hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào về đặc  
điểm sinh học và sinh thái học của các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae ở đây.  
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn.  
Xác định thành phần loài, sự phân bố và đặc trưng nơi sống của các loài nấm  
trong họ Nấm Linh chi Ganodermataceae ở Vườn quốc gia Chư Yang Sin (VQG  
CYS)  
3. Nội dung nghiên cứu:  
a. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu  
Vườn quốc gia Chư Yang Sin nằm trên địa bàn các xã: Yang Mao, Cư Drăm,  
Cư Pui, Hòa Phong, Hòa Lễ, Hòa Sơn, Khuê Ngọc Điền thuộc huyện Krông Bông  
và các xã: Yang Tao, Bông Krang, Krông Nô, Đắk Phơi thuộc huyện Lắk, tỉnh Đăk  
Lăk.  
Tọa độ địa lý:  
Từ 120014ˊ16˝ đến 130030ˊ58˝ vĩ bắc  
Từ 108017ˊ47˝ đến 108034ˊ48˝ kinh đông  
 
vi  
* Khí hậu: Khu vực VQG Chư Yang Sin thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió  
mùa Tây Nguyên, hàng năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 4  
đến hết tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến đầu tháng 4 năm sau.  
+ Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm khu vực đạt 220C ở vùng  
chân núi (độ cao 400-500 m).  
+ Lượng mưa: Chư Yang Sin là khu vực có lượng mưa tương đối lớn. Tổng  
lượng mưa trung bình năm dao động từ 1800 - 2000 mm.  
*Thủy văn: Vườn quốc gia Chư Yang Sin có hệ thống nước mặt khá phong  
phú với mạng lưới sông suối dày ở cả sườn bắc và sườn nam. Mật độ sông, suối  
trong khu vực khoảng 0,35 km/km2. Phần lớn các sông suối trong VQG có dòng  
chảy quanh năm, chất lượng nước mặt khá tốt, thường có độ khoáng hóa nhỏ, pH  
trung tính.  
* Địa hình: Chư Yang Sin là hệ thống núi trung bình và núi cao ở cực Nam  
Trung Bộ, nằm về phía Nam vùng trũng Krông Pach- Lắk, chạy dài theo hướng  
Đông Bắc-Tây Nam. Khu vực VQG bao gồm các núi Chư Ba nak (1858 m), Chư  
Hae’le (1204 m), Chư Pan phan (1885 m), Chư Đrung Yang (1812 m), Chư Yang  
Siêng (1128 m), Yang Klinh (1271 m), Chư Yang Saone (1176 m), Chư Hrang  
Kreou (1071 m) và dãy núi có đỉnh cao nhất ở Nam Trường Sơn đó là Chư Yang  
Sin có độ cao 2.442 m.  
* Thổ nhưỡng: Căn cứ vào bản đồ đất Tây Nguyên tỷ lệ 1/200.000 và kết quả  
khảo sát thực địa cho thấy, trên lãnh thổ VQG Chư Yang Sin có một số nhóm đất:  
+ Đất Feralit mùn vàng đỏ núi trung bình trên đá macma axit  
+ Đất Feralit đỏ vàng núi thấp trên đá macma axit  
+ Đất Feralit vàng nhạt núi thấp trên đá cát  
+ Đất Feralit mùn vàng nhạt núi trung bình trên đá cát  
+ Đất mùn Alit trên núi cao  
* Thảm thực vật: Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, kiểu rừng  
kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình, kiểu rừng kín thường xanh mưa  
vii  
ẩm á nhiệt đới núi trung bình, núi cao, kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới  
núi thấp  
b. Nấm đảm và hệ thống phân loại của nó  
Nấm đảm là những nấm bậc cao, cơ thể của nấm đảm dạng sợi phân nhánh.  
Giai đoạn song hạch chiếm phần lớn chu trình sống.  
Đảm và bào tử đảm: Đảm là tế bào đinh phình to lên của một số sợi nấm song  
nhân mọc ở phiến nấm trong quả thể. Tế bào này gọi là nguyên đảm  
c. Hệ thống học và đa dạng sinh học của họ nấm Ganodermatacea Donk  
Họ nấm Linh chi Ganodermataceae Donk đã nổi tiếng từ rất lâu ở các nước Á  
Đông, theo tiếng Trung Quốc gọi là Lingzhi, theo tiếng Nhật là Reishi, ở Việt Nam  
thì hay gọi là nấm Lim.  
Họ nấm Ganodermataceae (nấm Linh chi) trước đây được xếp trong nhóm  
nấm Nhiều lỗ (polypore)  
Chương 2: Đối tượng, phương pháp nghiên cứu  
a. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu  
Các loài nấm thuộc họ Ganodermataceae Donk được thu thập tại khu vực  
Vườn Quốc gia Chư Yang Sin  
Địa điểm: Vườn Quốc gia Chư Yang Sin  
b. Nội dung nghiên cứu  
- Tính đa dạng về loài của họ nấm Ganodermataceae ở Vườn Quốc gia Chư Yang  
Sin  
- Phân bố của các loài nấm thuộc họGanodermataceae ở Vườn Quốc gia Chư  
Yang Sin  
- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và sử dụng hợp lý các loài thuộc họ nấm  
Ganodermataceae Donk ở Vườn Quốc gia Chư Yang Sin  
c. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp điều tra theo điểm:  
+ Điểm 1. Rừng lá kim ưu thế Thông 3 lá Pinus kesiya  
+ Điểm 2. Rừng á nhiệt đới cây lá rộng thường xanh  
viii  
+ Điểm 3. Rừng á nhiệt đới hỗn giao cây lá rộng, lá kim  
+ Điểm 4. Rừng cây lùn trên núi cao  
Phương pháp thu thập mẫu  
Thu thập trên 200 mẫu, trong đó có 120 mẫu thuộc họ nấm Ganodermataceae  
Donk.  
Phương pháp mô tả hình thái và đặc điểm quả thể nấm  
Quan sát bằng mắt thường với sự trợ giúp của kính lúp độ phóng đại 20 lần,  
lần lượt xem xét và mô tả những đặc điểm về hình thái, màu sắc của nấm.  
Phương pháp mô tả đặc điểm hiển vi của nấm Linh Chi  
Trình tự của quá trình phân tích cấu trúc hiển vi như sau: Hệ sợi mũ nấm, bào  
tử, đảm, liệt bào và các cấu trúc khác (nếu có)  
Phương pháp định loại/định danh theo tên nấm  
Phân tích đặc điểm hiển vi: Bào tử, bào tầng hệ sợi, đảm… sử dụng kính hiển  
vi Olympus (Nhật), hiển vi điện tử quét S-4800 (Hitachi), kính lúp Olympus (Nhật).  
Phân tích đặc điểm hình thái ngoài: Bảng so màu, dung dịch KOH…  
Phương pháp xác định các nhân tố sinh thái  
Phương pháp xác định các nhân tố sinh thái (nhiệt độ, độ ẩm, độ cao) sử dụng  
các thiết bị như Tiger Direct HMAMT-110 (USA), GPS Garmine Trex Vista HCx  
(USA).  
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
a. Thành phần nhóm loài thuộc họ Ganodermataceae Donk tại vườn Quốc Gia  
Chư Yang Sin.  
Kết quả nghiên cứu tại vườn quốc gia Chư Yang Sin thuộc khu vực Tây  
Nguyên sau 01 lần đi khảo sát và thu mẫu thực địa đã thu được 200 mẫu trong đó có  
120 mẫu thuộc thuộc họ nấm Ganodermataceae. Tiến hành phân loại được 16 loài  
thuộc chi Ganoderma và 3 loài thuộc chi Amauroderma.  
b. Sự phân bố của họ nấm Ganodermataceae Donk tại vườn Quốc Gia Chư  
Yang Sin.  
ix  
Nấm sinh trưởng thích hợp ở nhiệt độ 17-22 0C, độ ẩm 90 – 95% và độ cao 200 –  
800m so với mực nước biển.  
c. Đưa ra giải pháp bảo tồn và sử dụng hợp lý họ nấn Ganodermataceae Donk  
ở vườn Quốc Gia Chư Yang Sin.  
- Bảo tồn nguyên vị  
- Bảo tồn chuyển vị  
- Bảo tồn trang trại.  
x
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU – CHỮ VIẾT TẮT  
Vườn Quốc Gia Chư Yang Sin  
VQG CYS  
 
1
MỞ ĐẦU  
Nấm là những sinh vật sống trong môi trường sinh thái. Nấm có khả năng tiết  
ra các enzim vào môi trường để phân giải các phân tử phức tạp thành các chất  
đơn giản, vì thế chúng có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy tốc độ chu trình tuần  
hoàn vật chất trong tự nhiên, khoáng hoá các hợp chất hữu cơ, làm sạch môi  
trường sinh thái và tăng độ phì nhiêu cho đất thông qua đó làm tăng năng suất  
cây trồng và cây rừng.  
Tây nguyên là vùng cao nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông  
Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây giáp với các  
tỉnh Attapeu (Lào) và 2 tỉnh Ratanakiri và Mondulkiri(Campuchia), chiếm 1/6 diện  
tích nước ta gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Địa  
hình Tây Nguyên bị phân cắt nhiều bởi các dãy núi khác nhau (dãy Ngọc Linh, dãy  
An Khê, dãy Chư Dju, dãy Chư Yang Sin...) độ cao trung bình từ 400-2200m so với  
mặt biển. Khí hậu Tây nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô.. Hệ  
sinh thái ở Tây Nguyên rất đa dạng với 6 kiểu hệ sinh thái chính gồm hệ sinh thái  
rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới, rừng kín  
nửa rụng lá ẩm nhiệt đới, rừng hỗn giao tre nứa, hệ sinh thái trảng cây bụi và đồng  
cỏ, hệ sinh thái đồng ruộng và khu dân cư đã tạo nên các hệ động vật, thực vật và hệ  
nấm khá đa dạng và phong phú trong đó có rất nhiều loài có trong sách đỏ và một số  
loài đang trong tình trạng báo động tuyệt chủng. Với điều kiện tự nhiên ở Tây  
Nguyên rất thuận lợi cho sự phát triển của nấm lớn nói chung và họ nấm  
Ganodermataceae nói riêng. Nấm lớn Việt Nam hiện nay có rất ít tác giả nghiên  
cứu, nếu có nghiên cứu chủ yếu tập trung ở khu vực đồng bằng trung du. Đối với  
khu vực Tây Nguyên chủ yếu tập trung nghiên cứu ở Nam Tây Nguyên còn ở các  
khu vực còn lại hầu như chưa có tác giả nào nghiên cứu. Họ Ganodermataceae đóng  
vai trò rất quan trọng trong khu hệ nấm lớn nói chung, chúng có ý nghĩa rất lớn về  
tính đa dạng và đặc biệt là giá trị dược liệu của chúng, từ thời Hoàng đế (trên 4000  
 
2
năm về trước) cho đến nay Linh chi (họ Ganodermataceae) vẫn được xem là  
“thượng dược”- được xếp vào hàng siêu dược liệu. Ở nước ta các loài nấm Linh chi  
(thuộc họ Nấm họ Ganodermataceae) ngoài tự nhiên từ hàng ngàn năm nay vẫn còn  
là hoang dại và đang ngày càng bị xói mòn nguồn gen quí hiếm trong thời mở cửa  
và tình trạng phá rừng như hiện nay đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường  
sinh sống của chúng.  
Vườn quôc gia Chư Yang Sin nằm trong khu vực Tây Nguyên và là nơi có sự đa  
dạng cao của các loài nấm lớn trong đó có các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae.  
Các công trình nghiên cứu về sự đa dạng của thành phần loài của họ Nấm  
Ganodermataceae ở đây còn ít và hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào về đặc  
điểm sinh học và sinh thái học của các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae ở đây.  
Chính vì vậy tôi đề xuất đề tài luận văn là “Nghiên cứu thành phần loài và phân bố  
của họ Nấm Linh chi Ganodermataceae ở Vườn quốc gia Chư Yang Sin” nhằm góp  
phần làm rõ sự đa dạng về thành phần loài của họ Nấm Ganodermataceae ở VQG  
CYS để đề xuất các giải pháp bảo tồn và khai thác bền vững chúng như là một  
nguồn tài nguyên sinh vật quý, có giá trị ở vùng này.  
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn.  
Xác định thành phần loài, sự phân bố và đặc trưng nơi sống của các loài nấm  
trong họ Nấm Linh chi Ganodermataceae ở Vườn quốc gia Chư Yang Sin (VQG  
CYS)  
3. Các nội dung nghiên cứu:  
- Tính đa dạng về loài của họ nấm Ganodermataceae ở Vườn Quốc gia Chư Yang  
Sin  
- Phân bố của các loài nấm thuộc họ Ganodermataceae ở Vườn Quốc gia Chư  
Yang Sin  
- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và sử dụng hợp lý các loài thuộc họ nấm  
Ganodermataceae Donk ở Vườn Quốc gia Chư Yang Sin  
3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU  
1.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu  
1.1.1. Khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên VQG Chư Yang Sin  
1.1.1.1. Vị trí địa lý  
Vườn quốc gia Chư Yang Sin nằm trên địa bàn các xã: Yang Mao, Cư Drăm,  
Cư Pui, Hòa Phong, Hòa Lễ, Hòa Sơn, Khuê Ngọc Điền thuộc huyện Krông Bông  
và các xã: Yang Tao, Bông Krang, Krông Nô, Đắk Phơi thuộc huyện Lắk, tỉnh Đăk  
Lăk. Tại đây có đỉnh núi Chư Yang Sin (2.442 mét) cao nhất hệ thống núi cao cực  
Nam Trung Bộ. Phía Đông: dọc sông Krông Bông đến ngã ba suối Ya Brô đến  
đường phân thủy sông Krông Ana. Phía Tây: từ suối Đắk Cao đến ngã ba suối Đắk  
Kial và đến đường phân thủy giữa Đắk Cao và Đắk Phơi. Phía Nam: dọc sông  
Krông Nô, ranh giới Đắk Lắk và Lâm Đồng. Phía Bắc: bắt đầu từ thác Krông Kmar  
qua dãy Chư Ju - Chư Jang Bông đến suối Ea Ktuor.  
Tọa độ địa lý:  
Từ 120014ˊ16˝ đến 130030ˊ58˝ vĩ bắc  
Từ 108017ˊ47˝ đến 108034ˊ48˝ kinh đông  
Hình 1.1: Bản đồ Khu vực nghiên cứu – Vườn quốc gia Chư Yang Sin  
       
4
1.1.1.2. Khí hậu, thủy văn  
*Khí hậu  
Khu vực VQG Chư Yang Sin thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa Tây  
Nguyên, hàng năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 4 đến hết  
tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến đầu tháng 4 năm sau.  
+ Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm khu vực đạt 220C ở vùng chân  
núi (độ cao 400-500 m). Tuy nhiên theo quy luật đai cao, càng lên cao, nhiệt độ  
càng giảm. Trên đai cao >900 m, nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng  
140 -200 C. Nhiệt độ tháng nóng nhất là tháng 4 với nhiệt độ trung bình tháng là  
23,70 C, tháng lạnh nhất là tháng 1 dưới 120 C.  
+ Lượng mưa: Chư Yang Sin là khu vực có lượng mưa tương đối lớn. Tổng  
lượng mưa trung bình năm dao động từ 1800 - 2000 mm. Song, do yếu tố địa hình  
nên lượng mưa năm có sự dao động lớn, có năm đạt trên 3.000 mm. Có sự biến  
động khá lớn về lượng mưa năm ít nhất. Lượng mưa tập trung vào mùa mưa. Độ ẩm  
tương đối trung bình năm là 84%.  
*Thủy văn  
Vườn quốc gia Chư Yang Sin có hệ thống nước mặt khá phong phú với mạng  
lưới sông suối dày ở cả sườn bắc và sườn nam. Mật độ sông, suối trong khu vực  
khoảng 0,35 km/km2. Phần lớn các sông suối trong VQG có dòng chảy quanh năm,  
chất lượng nước mặt khá tốt, thường có độ khoáng hóa nhỏ, pH trung tính. Phía Bắc  
và Đông có suối Krông Kmar, Đăk Liêng và các suối nhỏ như Đăk Kliên, Đăk Vil,  
Đăk Sất, Đăk Trop Tai, Ea K’Tour, Ya Tong, Ya Sobla, Ya R’mau, Ya Knoa, Ya  
Bro, Ya Korko. Các suối này đều là thượng nguồn của lưu vực sông Ea Krông Ana.  
Phía Nam và Tây có các suối Đăk Kao, Đăk Pair, Ya Mal, Đăk Gui, Đăk Mé,  
Đăk Yang Klam, Đăk Knar. Các suối này đều là thượng nguồn của sông Krông  
Knô. Sông Krông Knô là ranh giới phía Nam của VQG, dài khoảng 42 km và cũng  
là ranh giới giữa 2 tỉnh Lâm Đồng và Đăk Lăk.  
5
1.1.1.3. Địa hình, thổ nhưỡng, thảm thực vật  
* Địa hình  
Chư Yang Sin là hệ thống núi trung bình và núi cao ở cực Nam Trung Bộ,  
nằm về phía Nam vùng trũng Krông Pach- Lắk, chạy dài theo hướng Đông Bắc-Tây  
Nam. Khu vực VQG bao gồm các núi Chư Ba nak (1858 m), Chư Hae’le (1204 m),  
Chư Pan phan (1885 m), Chư Đrung Yang (1812 m), Chư Yang Siêng (1128 m),  
Yang Klinh (1271 m), Chư Yang Saone (1176 m), Chư Hrang Kreou (1071 m) và  
dãy núi có đỉnh cao nhất ở Nam Trường Sơn đó là Chư Yang Sin có độ cao 2.442  
m.  
Với sự hoạt động mạnh mẽ của quá trình nội và ngoại sinh, trong đó đặc biệt  
là quá trình ngoại sinh đã làm cho địa hình khu vực bị chia cắt mạnh, tạo thành  
nhiều thung lung nhỏ, hẹp. Tuy vậy, kết quả khảo sát cho thấy, có một số thung  
lũng khá bằng phẳng phân bố theo các triền sông, suối lớn.  
Độ cao VQG chênh lệch rất lớn, từ 450 m đến 2442 m. Độ chia cắt sâu >500  
m, độ chia cắt ngang dao động 2-2,4 km/km2. Yếu tố sườn cũng là một trong những  
đặc điểm có sự phân hóa rõ rệt của VQG. Địa hình sườn phía Bắc và phía Tây có độ  
dốc lớn, phổ biến từ 250-350, thậm trí một số nơi độ dốc >400. Sườn Đông và Nam,  
địa hình trải dài và nâng lên từ từ, phần lớn có độ dốc từ 150-250.  
* Thổ nhưỡng  
Căn cứ vào bản đồ đất Tây Nguyên tỷ lệ 1/200.000 và kết quả khảo sát thực  
địa cho thấy, trên lãnh thổ VQG Chư Yang Sin có một số nhóm đất:  
+ Đất Feralit mùn vàng đỏ núi trung bình trên đá macma axit: Diện tích 38.220  
ha, chiếm 64,2 % diện tích tự nhiên. Nhóm đất phân bố chủ yếu trên đai cao 900-  
1.800 m và chiếm đại đa số diện tích VQG.  
+ Đất Feralit đỏ vàng núi thấp trên đá macma axit: Có diện tích khá lớn,  
khoảng 8.898 ha, chiếm 14,9% diện tích tự nhiên.  
+ Đất Feralit vàng nhạt núi thấp trên đá cát: Diện tích khoảng 4.827 ha, chiếm  
trên 8% diện tích tự nhiên. Nhóm đất phân bố ở đai cao <900 m, trên kiểu địa hình  
núi thấp, tập trung ở xã Yang Mao huyện Krông Bông.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 92 trang yennguyen 11540 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của họ Nấm Linh chi Ganodermataceae ở Vườn quốc gia Chư Yang Sin", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_thanh_phan_loai_va_phan_bo_cua_ho_nam_li.pdf