Tóm tắt Luận án Hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin kinh tế tài chính của các công ty nêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

CHƢƠNG 1- GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI  
1.1. Lý do chọn Đề tài  
Trong nền kinh tế hiện đại, với sự phát triển của thị trường vốn, các  
công ty niêm yết (CTNY) và thông tin tài chính của CTNY được công  
khai theo luật định trên thị trường chứng khoán (TTCK) là không thể  
thiếu. Các nhà đầu tư, chính phủ hay bất kỳ người quan tâm nào khi tiến  
hành đầu tư vào các CTNY đều xem xét tới những thông tin về chiến  
lược kinh doanh, về tình hình tài chính của các công ty đó. Những thông  
tin KTTC của các CTNY được các công ty kiểm toán, soát xét và đưa ra  
ý kiến về sự trung thực, hợp lý. Bên cạnh đó, những thông tin này còn  
được các Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) và các ủy ban chứng  
khoán nhà nước (UBCKNN) kiểm tra, giám sát. Do đó, khi đầu tư vào  
các CTNY những nhà đầu tư cảm thấy độ an toàn cao hơn những công ty  
chưa niêm yết nhưng mức độ tin cậy của thông tin vẫn đang có những  
điểm hoài nghi.  
Theo Agrawal (2005), Brown.J. (2010), làn sóng của các vụ bê bối  
kế toán xuất hiện gần đây trong cộng đồng tài chính quốc tế đã đặt ra  
những vấn đề về chất lượng BCTC [44,58]. Sự đổ vỡ lan rộng do việc  
công bố thông tin tài chính và số liệu kế toán không trung thực đã đặt ra  
sự cần thiết tăng cường chất lượng thông tin KTTC và kiểm soát thong  
tin bằng cách thiết lập cấu trúc quản trị công ty [54,59,74,92,104]. Tại  
Việt Nam, khủng hoảng xảy ra ở Công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết và  
Tập đoàn Vinashin là những ví dụ điển hình của sự yếu kém trong quản  
trị công ty và công bố thông tin KTTC của công ty.  
Hệ lụy từ việc gian lận trong công bố thông tin ảnh hưởng đến các  
nhà đầu tư nói riêng và nền kinh tế quốc gia nói chung dẫn đến yêu cầu  
cấp thiết của kiểm soát chất lượng thông tin KTTC của các CTNY. Kiểm  
soát được xét trên các bình diện khác nhau nhằm đảm bảo sự kiểm soát  
toàn diện, bao gồm kiểm soát nội bộ (KSNB) của CTNY - chủ thể lập và  
trình bày thông tin KTTC và kiểm soát bên ngoài – kiểm soát của nền  
kinh tế, trong đó KSNN có ảnh hưởng lớn đến chất lượng thông tin  
KTTC các công bố của CTNY.  
1
Do đó, đề tài “Hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất  
lượng thông tin KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam” là mang tính  
cấp thiết.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
Mục tiêu tổng quát của Luận án là tập trung vào nghiên cứu và giải  
quyết các mối quan hệ giữa tổ chức KSNB và KSNN với chất lượng  
thông tin KTTC của CTNY nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin  
ngày càng cao của các nhà đầu tư.  
1.3. Câu hỏi nghiên cứu  
Câu hỏi nghiên cứu tổng quát: Tổ chức kiểm soát toàn diện như thế  
nào nhằm tăng cường chất lượng thông tin KTTC của các CTNY trên  
TTCK Việt Nam?  
1.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
Luận án nghiên cứu ảnh hưởng của tổ chức kiểm soát (gồm KSNB  
và KSNN) đối với chất lượng thông tin KTTC của các CTNY trên  
TTCK Việt Nam, từ đó đưa ra những đề xuất hoàn thiện tổ chức kiểm  
soát nhằm nâng cao chất lượng thông tin KTTC của các CTNY này.  
Luận án tập trung thu thập dữ liệu về thông tin KTTC của các CTNY  
phi tài chính tại SGDCK TPHCM và thời gian nghiên cứu từ năm 2008  
đến năm 2012.  
1.5. Những đóng góp mới của Luận án  
(1) Luận án đã sử dụng tổng hợp các phương pháp và mô hình đo  
lường các tiêu chuẩn của chất lượng thông tin KTTC các CTNY.  
(2) Luận án đã xác định sự ảnh hưởng thuận chiều của kiểm soát  
trong nội bộ CTNY đối với chất lượng thông tin KTTC của CTNY.  
(3) Luận án đã chỉ ra tác động của tổ chức KSNN tới chất lượng  
thông tin KTTC của CTNY.  
(4) Luận án đã tổng hợp đánh giá thực trạng về chất lượng thông tin  
KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam hiện nay (thông qua ý kiến  
kiểm toán độc lập về các BCTC của CTNY phi tài chính trên SGDCK  
TPHCM).  
2
(5) Luận án đã sử dụng phương pháp định tính trong xác định mối  
liên hệ, những tác động ban đầu và đưa ra mô hình nghiên cứu. Phương  
pháp định lượng được sử dụng nhằm kiểm định mối liên hệ giữa tổ chức  
KSNB và KSNN với chất lượng thông tin KTTC của các CTNY (sử  
dụng phần mềm phân tích Eviews).  
1.6. Kết cấu của Luận án  
Luận án gồm 6 chương:  
Chương 1- Giới thiệu đề tài  
Chương 2 - Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về tổ chức kiểm  
soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin KTTC các CTNY trên TTCK  
Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu tổ chức kiểm soát đối với chất  
lượng thông tin KTTC các CTNY trên TTCK Việt Nam  
Chương 4 - Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tổ chức kiểm soát đối  
với chất lượng thông tin KTTC các CTNY phi tài chính trên TTCK Việt  
Nam  
Chương 5 - Phân tích kết quả nghiên cứu và giải pháp hoàn thiện tổ  
chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin KTTC các CTNY  
trên TTCK Việt Nam  
Chương 6 - Kết luận  
Kết luận chƣơng 1  
Luận án đã xác định đối tượng nghiên cứu là ảnh hưởng của tổ chức  
KSNB và KSNN đối với chất lượng thông tin KTTC của CTNY phi tài  
chính. Phạm vi nghiên cứu là các CTNY phi tài chính trên TTCK Việt  
Nam tại SGDCK TPHCM, thời gian nghiên cứu từ năm 2008 đến năm  
2012.  
Mục tiêu tổng quát của Luận án là tập trung vào nghiên cứu và xác  
định các mối quan hệ giữa tổ chức KSNB và KSNN với chất lượng  
thông tin KTTC của CTNY để đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin ngày  
càng cao của các nhà đầu tư.  
3
2
CHƢƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN  
CỨU VỀ TỔ CHỨC KIỂM SOÁT NHẰM TĂNG CƢỜNG CHẤT  
LƢỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG  
TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN  
2.1. Tổ chức kiểm soát thông tin  
2.1.1.  
Kiểm soát thông tin  
Trên cơ sở phân tích một số quan điểm của các nhà nghiên cứu trong  
và ngoài nước, Tác giả đưa ra khái niệm về kiểm soát như sau: “Kiểm  
soát là chức năng quan trọng trong quản lý, được thực hiện tại các cấp  
độ và giai đoạn khác nhau trong quản lý theo cách thức phù hợp với đối  
tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Kiểm soát bao gồm  
việc đo lường, đánh giá đối tượng kiểm soát nhằm đạt được hiệu quả  
trong quản lý”.  
Thông tin kinh tế được xác định là những tín hiệu, được thu nhận,  
được hiểu và được đánh giá là có ích trong việc ra quyết định kinh tế  
của người sử dụng thông tin. Thông tin kinh tế đáp ứng những đặc trưng  
của thông tin là cần được kiểm soát và đo lường để đảm bảo độ tin cậy  
thông tin.  
Kiểm soát thông tin mang tính thường xuyên đảm bảo tính chất  
thống nhất, kết nối giữa các thành phần thông tin. Các thông tin sai lệch  
và không được kiểm soát sẽ làm ảnh hưởng đến người sử dụng thông tin.  
2.1.2.  
Tổ chức kiểm soát thông tin  
Theo tác giả, tổ chức kiểm soát thông tin là cách thức liên hệ giữa  
các thành phần khác nhau trong một hệ thống cụ thể, kết hợp kiểm soát  
nội bộ và kiểm soát bên ngoài đến thông tin quản lý.  
2.2. Chất lƣợng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết  
2.2.1.  
chính  
Những tiêu chí phản ánh chất lượng thông tin kế toán tài  
Chất lượng thông tin đảm bảo các đặc trưng là: Thỏa mãn nhu cầu,  
đáp ứng các nhu cầu khác nhau và được tiêu chuẩn hóa. Các tiêu chuẩn  
hóa của chất lượng thông tin thường giúp đáp ứng các nhu cầu khác  
4
nhau, như độ tin cậy, tính khách quan, tính kịp thời, sự phù hợp, tính dễ  
hiểu, có thể so sánh của thông tin. Trong đó, độ tin cậy được coi là tiêu  
chuẩn quan trọng của chất lượng thông tin. Bên cạnh đó căn cứ vào đặc  
trưng của thông tin, chất lượng thông tin phải được lượng hóa phù hợp  
với đặc tính của thông tin và kiểm soát thông tin để đảm bảo chất lượng  
thông tin từ nơi phát thông tin tới nơi nhận thông tin.  
Theo IFRS (2013), thông tin KTTC có những tiêu chuẩn sau: sự phù  
hợp, trình bày trung thực, có thể so sánh, xác nhận, đúng kỳ và dễ hiểu.  
2.2.2.  
Yêu cầu về chất lượng thông tin kế toán tài chính của các  
công ty niêm yết  
CTNY có những đặc điểm chính sau: Là công ty cổ phần đại chúng  
có quy mô lớn, được quyền phát hành chứng khoán, công khai thông tin  
tài chính, số lượng và trình độ người quan tâm đến thông tin KTTC của  
CTNY rất lớn và phức tạp, hoạt động của CTNY được quản lý chặt chẽ  
bởi hệ thống pháp luật.  
Yêu cầu về thông tin KTTC của CTNY là:  
Thứ nhất, thông tin KTTC của CTNY là thông tin cung cấp ra bên  
ngoài, thông tin chính thức và duy nhất của CTNY;  
Thứ hai, thông tin KTTC của CTNY phải đảm bảo minh bạch và  
được công khai theo yêu cầu của pháp luật;  
Thứ ba, thông tin KTTC của CTNY gồm nhiều chỉ tiêu;  
Thứ tư, thông tin KTTC của CTNY (thông qua BCTC) phải tuân thủ  
các quy định của SGDCK nơi niêm yết, bị kiểm soát, xử lý khi có hành vi  
vi phạm công bố thông tin;  
Thứ năm, thông tin KTTC của CTNY phải công bố kịp thời;  
Thứ sáu, thông tin KTTC cung cấp đảm bảo định giá giá trị công ty.  
2.2.3.  
Vai trò của chất lượng thông tin kế toán tài chính của công  
ty niêm yết trên thị trường chứng khoán  
Theo Robert M. Bushman and Abbie J. Smith (2003), thông tin  
KTTC ảnh hưởng tới các nhà đầu tư, lợi nhuận và giá trị gia tăng của  
công ty cổ phần. Việc đảm bảo chất lượng thông tin KTTC theo các khía  
cạnh cung cấp thông tin đầy đủ, đúng kỳ và trung thực được yêu cầu  
5
song hành với việc đảm bảo công bố những thông tin trong BCTC của  
các CTNY.  
2.2.4.  
Một số nguyên nhân chính các công ty niêm yết cung cấp  
thông tin kế toán tài chính kém chất lượng  
Động cơ của ban giám đốc, CTNY gặp khó khăn về tình hình tài  
chính, KSNB CTNY yếu kém là lý do cơ bản các CTNY cung cấp thông  
tin KTTC kém chất lượng.  
2.3. Tổ chức kiểm soát chất lƣợng thông tin kế toán tài chính của  
các công ty niêm yết  
Theo kết quả nghiên cứu của N.Klai (2011) tại các CTNY trên  
TTCK Tunis trong giai đoạn 1997-2007, sự kiểm soát từ phía nhà nước  
và các tổ chức tài chính có tác động thuận chiều tới chất lượng thông tin  
KTTC công bố của các CTNY.  
Theo Alvin A.Arens (2012), những vấn đề trong lập và trình bày  
BCTC của Enron và WorldCom cho thấy những yếu kém trong KSNB  
của công ty. Tại Mỹ, các kiểm toán viên phải đưa ra đánh giá và báo cáo  
về tính hiệu quả của KSNB với việc lập BCTC của công ty, nội dung này  
được bao hàm trong báo cáo kiểm toán BCTC của công ty. Tương tự như  
vậy tại Nhật Bản (Luật J-SOX).  
Theo những bài học kinh nghiệm quốc tế, các CTNY không thể thiếu  
vắng sự kiểm soát từ phía nhà nước (KSNN) – một sự kiểm soát bên  
ngoài mang tính pháp lý cao trong việc điều tiết TTCK và chính bản thân  
CTNY - KSNB.  
2.3.1.  
chính  
Xác định nội dung tổ chức kiểm soát thông tin kế toán tài  
Tổ chức kiểm soát thông tin là cách thức liên hệ giữa các thành phần  
khác nhau trong một hệ thống cụ thể, kết hợp KSNB và kiểm soát bên  
ngoài cùng hướng tới mục tiêu chung của đối tượng quản lý – thông tin  
kinh tế. Luận án xác định nội dung tổ chức kiểm soát thông tin KTTC  
các CTNY gồm: Lượng hóa chất lượng thông tin KTTC của CTNY (đối  
tượng kiểm soát); tổ chức KSNB đối với chất lượng thông tin KTTC của  
6
CTNY; tổ chức KSNN (kiểm soát bên ngoài) đối với chất lượng thông  
tin KTTC của CTNY.  
2.3.2.  
Lượng hoá chất lượng thông tin kế toán tài chính của các  
công ty niêm yết  
Lượng hoá chất lượng thông tin KTTC thông qua lượng hoá tiêu  
chuẩn thông tin trên BCTC: Sự phù hợp (R), sự trình bày trung thực (F),  
có thể so sánh (Co), xác nhận (V), đúng kỳ (T), dễ hiểu (U) và lượng hoá  
tổng hợp chất lượng thông qua các tiêu chuẩn thông tin trên BCTC.  
Theo nghiên cứu của Ferdy van Beest (2009) [72], FAQ = (R + F +  
V + U + Co + T) / 6 (2.1)  
2.3.3.  
Tổ chức kiểm soát nội bộ chất lượng thông tin kế toán tài  
chính của các công ty niêm yết  
KSNB được xét trên quan điểm hệ thống của các quy định và thủ tục  
kiểm soát. Và từ những định nghĩa trên, cách tiếp cận KSNB có thể theo  
hệ thống (gồm ba thành phần) và theo quá trình (gồm năm thành phần).  
Nghiên cứu của J.Altamuro (2010), các thủ tục KSNB có ảnh hưởng  
tới việc lập BCTC trong lĩnh vực ngân hàng [84]. Tổ chức KSNB là một  
chủ đề liên quan đến những gian lận trong việc lập BCTC và những vụ  
bê bối kế toán ở tất cả các quốc gia, theo Angella.A (2009) [47]. Kết quả  
nghiên cứu trong báo cáo của Uỷ ban tài trợ (Treadway Commission)  
năm 1987 tại Mỹ đã cho thấy sự vắng bóng hoặc yếu kém trong tổ chức  
KSNB là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến những gian lận về thông tin tài  
chính của các công ty.  
Tổ chức KSNB đối với thông tin KTTC của CTNY là cách thức tạo  
lập mối liên hệ giữa các thành phần của hệ thống KSNB bao gồm môi  
trường kiểm soát, hệ thống thông tin kế toán và thủ tục kiểm soát nhằm  
đảm bảo độ tin cậy của thông tin được phản ánh trên BCTC.  
Lƣợng hoá tổ chức kiểm soát nội bộ  
Tổ chức KSNB được đánh giá qua trị số bình quân các thành phần  
trong tổ chức sau [65]: CS = (EC + AS + CP)/ 3 (2.2) và lượng hóa từng  
thành phần trong tổ chức KSNB: Môi trường kiểm soát (EC), hệ thống  
thông tin kế toán (AS) và thủ tục kiểm soát (CP).  
7
Phƣơng pháp đánh giá mối liên hệ giữa tổ chức kiểm soát nội bộ và  
chất lƣợng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết  
Nghiên cứu định lượng của J.Altamuro (2010) chỉ ra rằng các tổ  
chức tín dụng chịu ảnh hưởng tích cực của những thủ tục KSNB tới việc  
lập BCTC [84]. Theo nghiên cứu của N.Klai (2011), quy mô công ty có  
mối liên hệ nghịch với chất lượng thông tin KTTC [99]. Luận án sử dụng  
phương pháp nghiên cứu định lượng đánh giá mối liên hệ giữa tổ chức  
KSNB với chất lượng thông tin KTTC của các CTNY.  
2.3.4.  
Tổ chức kiểm soát nhà nước đối với chất lượng thông tin kế  
toán tài chính của các công ty niêm yết  
Quản lý TTCK là nội dung trong quản lý kinh tế của nhà nước.  
Qua bài học từ những vụ bê bối kế toán như Enron, Worldcom,.. dẫn  
đến nước Mỹ phải đưa ra Đạo luật Sarbarnes-Oxley để kiểm soát tính  
minh bạch tình hình tài chính của CTNY thông qua những quy định về  
KSNB và kiểm toán độc lập đối với các CTNY [106].  
Những bài học về kiểm soát thông tin trên TTCK của Mỹ, Nhật,  
Trung Quốc, Malaysia, Thái lan đã cung cấp kinh nghiệm cho KSNN  
chất lượng thông tin KTTC trên TTCK của Việt Nam.  
Theo nghiên cứu của N.Klai (2011), kiểm soát của nhà nước và các  
tổ chức tài chính tăng cường tính minh bạch và sự phù hợp trong việc lập  
BCTC (áp dụng đối với các công ty có vốn nhà nước)[99]. Hầu hết các  
quốc gia đều có hệ thống giám sát cụ thể thông qua UBCKNN, Uỷ ban  
giám sát quốc gia và các SGDCK.  
Theo Alvin A.Arens (2012) ý kiến của kiểm toán độc lập về BCTC  
là phần không thể thiếu theo yêu cầu của UBCKNN đối với các CTNY  
[45].  
Tổ chức kiểm soát Nhà nước đối với thông tin KTTC của các CTNY  
gồm tổ chức bộ máy quản lý và thủ tục kiểm soát.  
Tổ chức bộ máy quản lý của nhà nƣớc  
Cơ cấu tổ chức bộ máy thực hiện hệ thống giám sát về chất lượng  
thông tin KTTC của các CTNY trên TTCK trên thế giới thường được tổ  
8
chức bao gồm: Chính phủ, Bộ Tài chính, UBCKNN, SGDCK, Uỷ ban  
Giám sát tài chính quốc gia.  
Kiểm toán độc lập được coi là một bàn tay của nhà nước trong quản  
lý thông tin KTTC của các CTNY.  
Các tổ chức quản lý trên thực hiện các chức năng hỗ trợ như tư vấn  
pháp lý, tư vấn chuyên môn, đào tạo cho các CTNY trong quản lý chất  
lượng thông tin KTTC trong cho các nước mới phát triển TTCK.  
Thủ tục kiểm soát  
Để phát huy vai trò kiểm soát, các tổ chức quản lý thực hiện các thủ  
tục kiểm soát như giám sát, kiểm tra, thanh tra, xử phạt. Tất cả những thủ  
tục kiểm soát này được pháp luật hoá bằng luật định, các văn bản quy  
phạm pháp luật. KSNN có ảnh hưởng mạnh thông qua hệ thống Luật  
chứng khoán của các quốc gia. CTNY vi phạm về công bố thông tin có  
thể bị xử phạt hành chính hoặc hình sự.  
Tổ chức KSNN đối với chất lượng thông tin KTTC của các CTNY  
trên TTCK bao gồm các tổ chức chuyên trách - bộ máy quản lý giám sát  
thông tin KTTC của các CTNY và các thủ tục kiểm soát của các cơ quan  
quản lý thông qua hệ thống cơ sở pháp lý về điều tiết, xử lý hành vi vi  
phạm trong công bố thông tin KTTC.  
Vận dụng mối liên hệ giữa Nhà nước với chất lượng thông tin KTTC  
của N.Klai (2011), Tác giả xây dựng mối liên hệ giữa kiểm soát của nhà  
nước với chất lượng thông tin KTTC của các CTNY trên TTCK Việt  
Nam. Luận án xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu cụ thể để  
lượng hóa với yếu tố kiểm soát từ bên ngoài – KSNN tới chất lượng  
thông tin KTTC thông qua BCTC của các CTNY thông qua bộ máy quản  
lý và các thủ tục kiểm soát của nhà nước.  
Kết luận chƣơng 2  
Chương 2 hệ thống hoá các lý luận chung nhất về tổ chức kiểm soát  
thông tin, chất lượng thông tin KTTC của CTNY.  
Chương 2 đã khái quát hóa lý luận về kiểm soát chất lượng thông tin  
KTTC bao gồm lượng hóa chất lượng thông tin KTTC (thông tin cần  
kiểm soát), tổ chức KSNB và tổ chức KSNN.  
9
3
CHƢƠNG 3 - PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC KIỂM  
SOÁT ĐỐI VỚI CHẤT LƢỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TÀI  
CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƢỜNG  
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM  
3.1. Nguồn dữ liệu nghiên cứu  
Luận án sử dụng hai nguồn dữ liệu trong quá trình nghiên cứu: Dữ  
liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp.  
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu định tính  
3.2.1. Nghiên cứu tài liệu  
Luận án sử dụng phương pháp định tính trong giai đoạn ban đầu  
nhằm tìm kiếm những kết quả nghiên cứu, mô hình, phương pháp thực  
hiện trong các nghiên cứu trước.Từ đó xác định cơ sở lý luận cho Luận  
án.  
3.2.2. Nghiên cứu tình hình thực tiễn  
Tác giả thực hiện nghiên cứu chất lượng thông tin KTTC của các  
CTNY trên TTCK Việt Nam.  
3.2.3. Phỏng vấn chuyên gia  
Trước khi xác định mô hình nghiên cứu, các biến trong mô hình  
nghiên cứu cũng như xây dựng Phiếu khảo sát, Tác giả thực hiện phỏng  
vấn sâu các chuyên gia là những người đã có nhiều năm kinh nghiệm  
trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán, TTCK, quản lý TTCK (Phụ lục 02).  
3.2.4. Tổng hợp, phân tích  
Tác giả phân tích tài liệu, xác định lý thuyết nền nghiên cứu của  
Luận án và tổng hợp ý kiến các chuyên gia.  
10  
3.3. Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng  
3.3.1. Xây dựng giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu  
Những khẳng định từ phương pháp định tính, giúp Tác giả xây dựng  
giả thuyết và mô hình nghiên cứu về mối liên hệ giữa tổ chức kiểm soát  
(KSNB và KSNN) đối với chất lượng thông tin KTTC của các CTNY.  
Tổ chức KSNB ảnh hƣởng tới chất lƣợng thông tin KTTC các  
CTNY  
H0: Tổ chức KSNB không ảnh hưởng đến chất lượng thông tin KTTC  
của CTNY  
H1: Tổ chức KSNB ảnh hưởng đến chất lượng thông tin KTTC của  
CTNY  
Và FAQ = β0 + β1.EC + β2. AS + β3.CP + β4.Year + β5.Capital +β6.  
Trong đó:  
FAQ: Chất lượng thông tin kế toán tài chính của CTNY  
EC: Môi trường kiểm soát  
AS: Hệ thống thông tin kế toán  
CP: Các thủ tục kiểm soát  
Year: Năm thành lập công ty  
Capital: Vốn điều lệ  
HOSE: Thời gian niêm yết trên SGDCK TPHCM  
Tổ chức KSNN ảnh hƣởng tới chất lƣợng thông tin KTTC các  
CTNY  
H0: Tổ chức bộ máy quản lý KSNN không ảnh hưởng đến chất lượng  
thông tin KTTC của CTNY  
H1: Tổ chức bộ máy quản lý KSNN ảnh hưởng đến chất lượng thông tin  
KTTC của CTNY  
FAQ = β0 + β1.S + β2.SP + β3.Year + β4.Capital +β5. HOSE  
Trong đó:  
S:Ảnh hưởng của bộ máy quản lý trong KSNN  
SP: Ảnh hưởng của chức năng hỗ trợ của KSNN  
11  
Year: Năm thành lập công ty  
Capital: Vốn điều lệ  
HOSE: Thời gian niêm yết trên SGDCK TPHCM  
3.3.2. Phương pháp khảo sát  
3.3.2.1 Xây dựng Phiếu khảo sát  
Phiếu khảo sát được xây dựng (Phụ lục 03) và gửi cho 266 (trong  
tổng số 282) CTNY phi tài chính thuộc SGDCK TPHCM (theo thống kê  
năm 2012) và nhận được 69 phiếu trả lời (tỷ lệ nhận phiếu 26%).  
3.3.2.2 Thu thập số liệu từ Phiếu khảo sát  
Bƣớc mã hóa dữ liệu: Mã hóa dữ liệu trên từng phiếu khảo sát.  
Bƣớc khai báo dữ liệu: Nhập dữ liệu vào Bảng Excel (Phụ lục số  
05, 08, 09).  
3.3.3. Phân tích thống kê mô tả  
Thông qua phần mềm Eviews.  
3.3.4. Phương pháp hồi quy tương quan  
Luận án sử dụng phần mềm Eviews kiểm định mối liên hệ.  
Kết luận chƣơng 3  
Chương 3 đã tổng hợp lại quá trình thực hiện nghiên cứu, thu thập  
dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong Luận  
án.  
Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng trong Luận án gồm:  
Phương pháp nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu tình hình thực tế, phương  
pháp phỏng vấn chuyên gia, phương pháp tổng hợp và phân tích.  
Phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng trong Luận án gồm  
phương pháp khảo sát, phương pháp thống kê và phương pháp hồi quy  
tương quan qua phần mềm EViews.  
12  
4
CHƢƠNG 4 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA TỔ  
CHỨC KIỂM SOÁT TỚI CHẤT LƢỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN  
TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT PHI TÀI CHÍNH  
TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM  
4.1. Khái quát về Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí  
Minh và yêu cầu về chất lƣợng thông tin kế toán tài chính của các  
công ty niêm yết  
SGDCK TPHCM là sàn giao dịch chứng khoán lớn nhất tại Việt  
Nam, tính đến ngày 31/12/2012 đã có 297 CTNY trên SGDCK TPHCM.  
Việc công bố thông tin liên quan đến BCTC đã được kiểm toán, các  
CTNY tuân theo Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 05 tháng 04 năm  
2012.  
4.2. Thực trạng kiểm soát chất lƣợng thông tin kế toán tài chính các  
công ty niêm yết phi tài chính trên thị trƣờng chứng khoán Việt  
Nam  
4.2.1.  
Đánh giá khái quát chất lượng thông tin kế toán tài chính  
các công ty niêm yết phi tài chính trên thị trường chứng khoán Việt  
Nam  
Chất lượng thông tin KTTC của các CTNY phi tài chính trên TTCK  
Việt Nam được đánh giá qua các báo cáo kiểm toán về BCTC của các  
CTNY từ năm 2008 – 2012 và đánh giá qua ý kiến của kiểm toán viên  
(Phụ lục số 04).  
4.2.2.  
Lượng hoá chất lượng thông tin kế toán tài chính các công ty  
niêm yết phi tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam  
Số liệu khảo sát chất lượng thông tin KTTC của các CTNY phi tài  
chính thuộc SGDCK TPHCM được thu thập và tổng hợp trên Phụ lục số  
05. Số liệu thu thập qua khảo sát được phân tích trên phần mềm Eviews  
cho thấy: Mức đánh giá trung bình về chất lượng thông tin KTTC các  
công ty khảo sát là 4,07 (chất lượng tốt) với mức độ phân tán nhỏ 0,567,  
miền số liệu đánh giá từ 2,5 – 5.  
13  
4.3. Thực trạng tổ chức kiểm soát chất lƣợng thông tin kế toán tài  
chính các công ty niêm yết phi tài chính trên thị trƣờng chứng  
khoán Việt Nam  
4.3.1.  
Đánh giá khái quát kiểm soát chất lượng thông tin kế toán  
tài chính các công ty niêm yết phi tài chính trên thị trường chứng  
khoán Việt Nam  
Qua khảo sát về thực tế kiểm soát chất lượng thông tin định kỳ về  
BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam hiện nay, có thể thấy nổi lên  
mấy vấn đề sau: (1) Công bố thông tin trên BCTC chưa đầy đủ, đúng  
theo quy định chế độ, chuẩn mực kế toán; (2) có chênh lệch đáng kể số  
liệu tài chính trước và sau kiểm toán; (3) các CTNY chưa chấp hành  
đúng thời hạn công bố thông tin.  
4.3.2.  
Tổ chức kiểm soát nội bộ đối với chất lượng thông tin kế  
toán tài chính của các công ty niêm yết phi tài chính trên thị trường  
chứng khoán Việt Nam  
Dựa vào số liệu thu thập được về tổ chức KSNB của các CTNY phi  
tài chính trên SGDCK TPHCM, phân tích thống kê cho kết quả tổ chức  
KSNB được đánh giá cao.  
Sử dụng phần mềm EViews với dữ liệu thu thập qua điều tra, kết quả  
lượng hoá cho thấy có mối tương quan giữa tổ chức KSNB với chất  
lượng thông tin KTTC của CTNY phi tài chính thuộc SGDCK TPHCM  
Ảnh hƣởng của tổ chức kiểm soát nội bộ tới chất lƣợng thông tin kế  
toán tài chính: FAQ = 0,916 + 0,364.EC +0,113. AS + 0,238.CP +  
0,076.Year -0,012.Capital - 0,08. HOSE (độ tin cậy lớn hơn 95% và môi  
trường kiểm soát có ảnh hưởng tới chất lượng thông tin KTTC).  
FAQ = 0,763+ 0,738.CS + 0,092.Year - 0,009.Capital - 0,092.HOSE  
và tổ chức KSNB ảnh hưởng tích cực đến chất lượng thông tin KTTC  
với độ tin cậy lớn hơn 95%.  
Theo kết quả trên, số năm thành lập công ty không ảnh hưởng đến  
chất lượng thông tin KTTC. Số vốn điều lệ và thời gian niêm yết trên  
SGDCK TPHCM không có ý nghĩa.  
14  
Thực hiện kiểm định riêng mối tương quan giữa môi trường kiểm  
soát, hệ thống thông tin kế toán và thủ tục kiểm soát tới chất lượng thông  
tin KTTC cho thấy mối tương quan chặt chẽ.  
(1) Môi trường kiểm soát là thành phần quan trọng quyết định đến  
chất lượng thông tin KTTC (Prob. < 5% và hệ số β = 0,563).  
(2) Hệ thống thông tin kế toán tạo lập BCTC và quyết định một phần  
chất lượng thông tin KTTC (Prob. < 5% và hệ số β = 0,513).  
(3) Thủ tục kiểm soát (Prob. < 5% và hệ số β = 0,584).  
4.3.3.  
Tổ chức kiểm soát nhà nước đối với chất lượng thông tin tài  
chính kế toán của các công ty niêm yết phi tài chính trên thị trường  
chứng khoán Việt Nam  
Các chủ thể của KSNN gồm có: Chính phủ, Bộ Tài chính,  
UBCKNN, Uỷ ban giám sát tài chính quốc gia, SGDCK. Bên cạnh đó cơ  
quan chức năng không tham gia trực tiếp trong giám sát thông tin tài  
chính của các CTNY nhưng có ảnh hưởng nhất định là Kiểm toán Nhà  
nước. Tổ chức hoạt động độc lập nhưng có ý nghĩa trong quản lý chất  
lượng kiểm toán BCTC của các CTNY là Hội kiểm toán viên hành nghề  
Việt Nam (VACPA).  
Lƣợng hoá tổ chức kiểm soát nhà nƣớc đối với chất lƣợng thông tin  
kế toán tài chính  
Về Tổ chức bộ máy của KSNN  
Theo kết quả thống kê, vai trò kiểm soát của Uỷ ban giám sát quốc  
gia là nhỏ nhất (với mức trung bình là 3,681 và độ phân tán cao 1,131),  
ảnh hưởng của SGDCK TPHCM là lớn nhất (với mức trung bình là  
4,521 và độ phân tán thấp 0,608), tiếp sau là UBCKNN (với mức trung  
bình là 4,362 và độ phân tán thấp 0,727).  
Và kết quả phân tích cho thấy ảnh hưởng của tổ chức bộ máy KSNN  
tới chất lượng thông tin KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam là  
khá cao với mức trung bình là 4,139 và mức độ phân tán thấp 0,684.  
Theo thống kê trên, các chức năng hỗ trợ có ảnh hưởng tương đương  
nhau và do đó giá trị bình quân ảnh hưởng của các chức năng hỗ trợ  
15  
KSNN tới chất lượng thông tin KTTC các CTNY trên là mức ảnh hưởng  
quan trọng 4,304 và mức độ phân tán thấp 0,596.  
Về Thủ tục kiểm soát Nhà nước:  
Trong 69 phiếu trả lời có 15 ý kiến cho rằng hiện nay các chế tài xử  
phạt với quản lý chất lượng thông tin KTTC chưa được đảm bảo (chiếm  
tỷ lệ 21,7%).  
Lƣợng hoá ảnh hƣởng của tổ chức kiểm soát nhà nƣớc đối với chất  
lƣợng thông tin kế toán tài chính  
Theo kết quả phân tích trên cho thấy ảnh hưởng của KSNN (thông  
qua tổ chức quản lý nhà nước) tới chất lượng thông tin KTTC của các  
CTNY là lớn với hệ số β = 0,359 (đối với ảnh hưởng của bộ máy quản  
lý) và hệ số β = 0,132 (đối với vai trò hỗ trợ). Những tác động của vai trò  
hỗ trợ của tổ chức KSNN không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng thông  
tin KTTC (do ảnh hưởng lớn của bộ máy quản lý). Các nhân tố khác về  
quy mô và thời gian niêm yết trên SGDCK TPHCM của CTNY không  
có ý nghĩa đối với chất lượng thông tin KTTC.  
Kết luận chƣơng 4  
Chương 4 tổng hợp về thực trạng chất lượng thông tin KTTC và  
kiểm soát chất lượng thông tin KTTC của các CTNY trong giai đoạn  
2008 - 2012 trên SGDCK TPHCM (theo Danh sách phân ngành năm  
2012) thông qua ý kiến của kiểm toán độc lập về BCTC.  
Chương 4 đã trình bày về kết quả thực hiện khảo sát qua phiếu khảo  
sát (thu thập được 69 phiếu đại diện 266 CTNY phi tài chính thuộc  
SGDCK TPHCM theo Danh sách phân ngành năm 2012) gồm thống kê  
mô tả từng chỉ tiêu về chất lượng thông tin KTTC, ảnh hưởng của tổ  
chức KSNB và tổ chức KSNN đến chất lượng thông tin KTTC của  
CTNY phi tài chính trên TTCK Việt Nam.  
Kết quả ước lượng trên phần mềm EViews cho thấy kết quả về mối  
tương quan giữa tổ chức KSNB, KSNN tới chất lượng thông tin KTTC  
của các CTNY.  
16  
5
CHƢƠNG 5 – PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ GIẢI  
PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ KIỂM  
SOÁT NHÀ NƢỚC NHẰM TĂNG CƢỜNG CHẤT LƢỢNG  
THÔNG TIN KẾ TOÁN TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT  
TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM  
5.1. Phân tích kết quả nghiên cứu  
5.1.1.  
Chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm  
yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam  
Qua tìm hiểu các BCTC của các CTNY trên SGDCK TPHCM các  
năm từ 2008 – 2012, Tác giả nhận thấy những thông tin KTTC được  
doanh nghiệp công bố chỉ là những thông tin tối thiểu theo yêu cầu của  
một bộ BCTC. Các CTNY chú trọng tới thông tin kế toán thuần tuý,  
không chú trọng tới thông tin tài chính.  
Kết quả khảo sát từ 69 công ty đại diện cho 266 CTNY phi tài chính  
thuộc SGDCK TPHCM đã cho thấy: Thông tin về khả năng hoạt động  
liên tục của CTNY được đánh giá quan trọng nhất. Những thông tin bổ  
sung được đánh giá là quan trọng thứ hai...  
Các CTNY chưa chấp hành đầy đủ chế độ kế toán và chuẩn mực kế  
toán hiện hành trong việc cung cấp thông tin KTTC qua bộ BCTC (thể  
hiện trong các ý kiến ngoại trừ của kiểm toán viên). Việc lựa chọn và áp  
dụng các chính sách kế toán phù hợp theo chế độ kế toán và chuẩn mực  
kế toán hiện hành được đánh giá quan trọng trong việc đảm bảo chất  
lượng thông tin của số liệu kế toán (theo số liệu khảo sát).  
Trên thực tế nhiều BCTC đã được kiểm toán, công bố vẫn còn tồn  
tại nhiều sai lệch về số liệu kế toán giữa các kỳ, giữa các báo cáo. Theo  
kết quả nghiên cứu thì ý kiến của kiểm toán viên độc lập về BCTC của  
CTNY ảnh hưởng quyết định kinh tế được đánh giá rất cao.  
Theo kết quả khảo sát thuyết minh cho Bảng cân đối kế toán và Báo  
cáo kết quả hoạt động kinh doanh được trình bày rõ ràng được đánh giá  
ở mức cao. Nội dung của thuyết minh BCTC được tăng cường bổ sung  
phù hợp với thông lệ quốc tế.  
Số liệu khảo sát cho thấy yêu cầu về thông tin so sánh với năm  
trước, những điều chỉnh hồi tố số liệu BCTC kỳ trước có ảnh hưởng đến  
17  
số liệu kế toán trong năm tài chính hiện hành, sự đánh giá lại những ước  
tính và công bố kế toán của công ty trong năm tài chính được đánh giá  
cao.  
Yêu cầu kịp thời là đòi hỏi chung của các công ty khi công bố thông  
tin KTTC, đối với CTNY yêu cầu này cấp thiết vì liên quan đến tính  
minh bạch thông tin, những yêu cầu ra quyết định kinh tế của các nhà  
đầu tư.  
5.1.2.  
Tổ chức kiểm soát nội bộ và mối liên hệ giữa tổ chức kiểm  
soát nội bộ đối với chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công  
ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam  
Theo kết quả khảo sát các nội dung về môi trường kiểm soát được  
đánh giá cao trong tổ chức KSNB của các CTNY, trong đó trách nhiệm  
của ban quản trị công ty về lập BCTC và hoạt động KSNB được cho là  
ảnh hưởng lớn nhất. 39/69 CTNY khảo sát có bộ phận KTNB (theo Luật  
định phải xây dựng bộ phận KTNB trong CTNY)  
Hệ thống kế toán cung cấp thông tin về KTTC đảm bảo tính kịp thời  
cho quá trình ra quyết được đánh giá ở mức độ cao nhất. Trong tình hình  
hội nhập, đặc biệt với các CTNY công việc lập BCTC hợp nhất đòi hỏi  
nhân viên có trình độ.  
Trong 69 CTNY thực hiện khảo sát có 48 công ty (69,6%) ban hành  
Quy chế KSNB. Hầu hết các thủ tục kiểm soát, ảnh hưởng trực tiếp đến  
công việc kiểm soát đều được đánh giá rất quan trọng.  
Theo kết quả kiểm định cho thấy môi trường kiểm soát có ảnh  
hưởng lớn nhất và tiếp đó là ảnh hưởng của thủ tục kiểm soát và cuối  
cùng là hệ thống thông tin kế toán tới chất lượng thông tin KTTC của  
CTNY.  
5.1.3.  
Tổ chức kiểm soát nhà nước và mối liên hệ giữa tổ chức  
kiểm soát nhà nước đối với chất lượng thông tin kế toán tài chính của  
các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam  
Kết quả khảo sát cho thấy KSNN về thông tin KTTC các CTNY  
hiện nay là: UBCKNN yêu cầu kiểm soát, phát hiện và lập biên bản về  
xử lý sai phạm, tuy nhiên không được phép điều tra, không có khả năng  
tiếp cận gần hơn các CTNY và công ty kiểm toán độc lập được phép  
18  
kiểm toán các CTNY. Uỷ ban giám sát tài chính quốc gia chỉ thực hiện  
chức năng, tham mưu, tư vấn trong hoạt động giám sát trên toàn bộ thị  
trường vốn. Bộ Tài chính là cơ quan đưa ra yêu cầu về kiểm soát thông  
tin KTTC của các CTNY và UBCKNN trực thuộc Bộ Tài chính.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tương quan giữa chất  
lượng thông tin KTTC và tổ chức KSNN do đó việc nâng cao chất lượng  
thông tin KTTC gắn liền với việc hoàn thiện tổ chức KSNN cùng các  
chức năng của tổ chức KSNN. Nghiên cứu chỉ ra rằng nếu thiếu vắng các  
quy định xử phạt hiệu quả trên thị trường sẽ ảnh hưởng đến chất lượng  
thông tin KTTC của các công ty.  
5.2. Các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cƣờng  
chất lƣợng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên  
thị trƣờng chứng khoán Việt Nam  
5.2.1.  
Sự cần thiết tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài  
chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam  
thông qua hoàn thiện tổ chức kiểm soát  
Các giải pháp tăng cường chất lượng thông tin KTTC của CTNY  
trên TTCK thông qua việc hoàn thiện tổ chức KSNB và KSNN là những  
giải pháp cần thiết nhằm giảm thiểu rủi ro về thông tin tài chính công bố  
trên TTCK và từ đó giảm thiểu rủi ro hệ thống.  
5.2.2.  
Quan điểm xây dựng các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm  
soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài chính của các  
công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam  
Thứ nhất, kiểm soát nhằm cung cấp thông tin KTTC có chất lượng  
đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư.  
Thứ hai, đảm bảo tổ chức các thành phần KSNB hiệu quả cung cấp  
thông tin KTTC có chất lượng cho những bên quan tâm để ra quyết định  
chính xác, kịp thời.  
Thứ ba, đảm bảo các cơ quan chức năng phối hợp giám sát, quản lý  
chặt chẽ hoạt động công bố thông tin KTTC của các CTNY.  
19  
5.2.3.  
Các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng  
cường chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết  
trên thị trường chứng khoán Việt Nam  
Nhóm giải pháp về tổ chức kiểm soát nội bộ  
Thứ nhất, hoàn thiện môi trường kiểm soát thông qua tạo dựng  
trách nhiệm trong việc lập báo cáo tài chính và hoạt động kiểm soát nội  
bộ trong công ty niêm yết thông qua vai trò của Ban giám đốc.  
CTNY cần quy định rõ ràng đối với việc sai phạm khi ký xác nhận  
thông tin sai lệch, BGĐ chịu trách nhiệm bồi hoàn cho những thiệt hại  
của công ty khi bị xử lý và làm ảnh hưởng tới các nhà đầu tư.  
Thứ hai, hoàn thiện môi trường kiểm soát thông qua xây dựng bộ  
phận kiểm toán nội bộ có năng lực trong công ty niêm yết; thực hiện lập  
báo cáo hoạt động kiểm toán nội bộ  
Các CTNY cần tổ chức và duy trì bộ phận KTNB hiệu quả, tuân thủ  
Luật định. Bộ phận KTNB phải có báo cáo về quy trình rà soát lập và  
trình bày BCTC của CTNY.  
Thứ ba, hoàn thiện thủ tục kiểm soát thông qua ban hành quy chế  
kiểm soát nội bộ hiệu quả với các thủ tục kiểm soát chi tiết trong từng  
quy trình kiểm soát cụ thể..  
Trong quy chế KSNB các thủ tục kiểm soát được chi tiết hoá và thủ  
tục kiểm soát cho từng quy trình kiểm soát cụ thể.  
Thứ tư, hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán thông qua ban hành  
quy trình và tổ chức công việc kế toán trong công ty niêm yết.  
CTNY cần xây dựng quy trình kế toán cụ thể cho từng vị trí công  
việc. Các CTNY thường xuyên rà soát quy trình kế toán đã xây dựng,  
quy trình lập và trình bày BCTC đảm bảo tuân thủ chế độ và chuẩn mực  
kế toán hiện hành.  
Nhóm giải pháp về tổ chức kiểm soát nhà nƣớc  
Nhóm giải pháp về chế độ, chuẩn mực kế toán  
Thứ nhất, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán Việt  
Nam – cơ sở lập BCTC và bổ sung các hướng dẫn của chế độ kế toán  
đảm bảo thống nhất với hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 24 trang yennguyen 13460 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin kinh tế tài chính của các công ty nêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_hoan_thien_to_chuc_kiem_soat_nham_tang_cuong.pdf