Luận văn Phân tích năng lực cạnh tranh tỉnh Bình Định

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
TRẦN MINH THÔNG  
PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH  
TỈNH BÌNH ĐỊNH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2016  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
TRẦN MINH THÔNG  
PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH TỈNH BÌNH ĐỊNH  
Chuyên ngành : Quản lý công  
Mã số  
: 60340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
TS. ĐINH CÔNG KHẢI  
Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2016  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện. Các đoạn trích dẫn và  
số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất  
trong phạm vi hiểu biết của tôi. Luận văn này thể hiện quan điểm cá nhân, không  
nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí  
Minh hay Khoa Quản lý Nhà nước.  
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng 11 năm 2016  
Tác giả  
Trần Minh Thông  
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
LỜI CAM ĐOAN  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
DANH MỤC HÌNH  
TÓM TẮT  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
PHỤ LỤC  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Chữ viết tắt  
Tên tiếng Anh  
Association of Southeast  
Asian Nations  
Tên tiếng Việt  
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á  
ASEAN  
Foreign Direct Investment  
Đầu tư trực tiếp nước ngoài  
Năng lực cạnh tranh  
FDI  
NLCT  
DN  
Doanh nghiệp  
Provincial Competitiveness  
Index  
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh  
PCI  
Vietnam Chamber of  
Commerce and Industry  
Gross Domestic Product  
Phòng Thương mại và Công nghiệp  
Việt Nam  
VCCI  
Tổng giá trị sản phẩm nội địa  
Khoa học công nghệ  
Quốc lộ  
GDP  
KHCN  
QL  
Niên giám thống kê  
Ủy ban nhân dân  
NGTK  
UBND  
TCTK  
DWT  
Tổng cục thống kê  
Đơn vị đo năng lực vận tải an toàn  
của tàu thủy tính bằng tấn  
Xuất nhập khẩu  
Deadweight tonnage  
XNK  
TNHH  
CP  
Trách nhiệm hữu hạn  
Cổ phần  
Doanh nghiệp tư nhân  
Thành phố  
DNTN  
TP  
Kinh tế - Xã hội  
KT-XH  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
Bảng 2.1: Cơ cấu GDP của các ngành ..........................................................................13  
Bảng 2.2: Tốc độ gia tăng xuất nhập khẩu giai đoạn 2000 – 2015...............................19  
Bảng 2.3 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI....................................................21  
Bảng 2.4: Tình hình đầu tư FDI vào các ngành lũy kế đến 31.12.2015 .......................22  
Bảng 3.1: Di cư thuần các tỉnh miền Trung 2005 – 2015.............................................33  
Bảng 3.2: Tỷ lệ lao động có việc làm trên tổng số dân 2005 – 2015............................33  
Bảng 3.3: Tỷ lệ sinh viên trong 1.000 dân tỉnh Bình Định 2005 – 2015......................34  
Bảng 3.4: Tỷ lệ học sinh trung cấp chuyên nghiệp/1.000 dân các tỉnh ........................35  
Bảng 3.5: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo.......................................................................36  
Bảng 3.6: Tỷ lệ bác sĩ/10.000 dân theo địa phương......................................................37  
Bảng 3.7: Chi tiết các chỉ số thành phần PCI tỉnh Bình Định 2013 – 2015 .................44  
Bảng 3.8: Quy mô doanh nghiệp tỉnh Bình Định 2010 – 2015 ....................................47  
Bảng 3.9: Đánh giá các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh tỉnh Bình Định...........50  
Bảng 4.1: Kết quả đánh giá tiềm năng phát triển của các cụm ngành ..........................65  
DANH MỤC HÌNH  
TÓM TẮT  
Trong xu thế hội nhập và cạnh tranh ngày càng gay gắt, đặc biệt là tình trạng  
suy thoái kinh tế toàn cầu thời gian gần đây, tỉnh Bình Định đang đối mặt với nhiều  
cơ hội cũng như thách thức để tiến gần đến sự phát triển của khu vực vùng duyên  
hải miền Trung nói riêng và của cả nước nói chung. Với vị trí địa lý thuận lợi và  
điều kiện tự nhiên ưu đãi, tỉnh Bình Định được nhận định là có nhiều tiềm năng  
phát triển để trở thành tỉnh khá của vùng duyên hải miền Trung bên cạnh Đà Nẵng  
và Khánh Hòa. Tuy nhiên, hiện nay các chỉ số phản ánh tăng trưởng chậm chạp,  
chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã dần chậm lại và chỉ số năng lực cạnh tranh PCI  
không có dấu hiệu cải thiện càng làm yếu đi động lực tăng trưởng kinh tế của tỉnh  
Bình Định. Trước thực trạng đó, luận văn được thực hiện nhằm tạo dựng nên một  
cái nhìn toàn cảnh về hiện trạng nền kinh tế tỉnh Bình Định, qua đó phân tích các  
nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh của tỉnh để trả lời hai câu hỏi chính sách (i)  
Nhân tố nào quyết định đến năng lực cạnh tranh của tỉnh Bình Định? (ii) Tỉnh Bình  
Định cần có những chính sánh nào để nâng cao năng lực cạnh tranh? Nghiên cứu sử  
dụng khung lý thuyết của Giáo sư Michael E. Porter về năng lực cạnh tranh quốc  
gia và vận dụng sự điều chỉnh của Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh cho phù hợp với đối  
tượng nghiên cứu là địa phương. Qua kết quả nghiên cứu, tác giả nhận định NLCT  
hiện tại của tỉnh đang ở thế bất lợi vừa phải, và những bất lợi này thể hiện rõ nét  
nhất ở các yếu tố như: Cơ sở hạ tầng giao thông, chất lượng môi trường kinh doanh,  
chính sách tài khóa và độ tinh thông của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, yếu tố vị trí  
địa lý được đánh giá là có lợi thế lớn nhưng chưa tận dụng triệt để và yếu tố phát  
triển cụm ngành vẫn chưa được quan tâm. Từ đó, để phát huy những lợi thế sẵn có,  
khắc phục những hạn chế làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của tỉnh, tác  
giả kiến nghị một số chính sách liên quan đến ba nhân tố cốt lõi quyết định NLCT  
của tỉnh, bao gồm: Nâng cấp hệ thống hạ tầng giao thông, cải thiện môi trường kinh  
doanh và tập trung phát triển cụm ngành du lịch. Đó là những chính sách nâng cao  
NLCT tỉnh Bình Định như mục đích nghiên cứu của tác giả.  
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU  
1.1. Đặt vấn đề  
Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam. Lãnh thổ của tỉnh trải dài  
110 km theo hướng Bắc - Nam, diện tích tự nhiên: 6.025 km², diện tích vùng lãnh  
hải: 36.000 km². Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía  
Tây giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực  
Đông là xã Nhơn Châu (Cù Lao Xanh) thuộc thành phố Quy Nhơn. Bình Định được  
đánh giá là có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội  
của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, được xem là một trong những cửa ngõ ra  
biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng nam Lào, đông bắc Campuchia.  
Trong giai đoạn 2010 – 2015, tỉnh Bình Định đã có bước tăng trưởng tổng sản  
phẩm địa phương GDP trung bình đạt 14%/năm, cao hơn so với mức tăng GDP  
bình quân cùng giai đoạn này của cả nước (5,82%/năm). Tuy nhiên, trong những  
năm gần đây, giá trị GDP của tỉnh bắt đầu có sự sụt giảm, cụ thể vào năm 2015, giá  
trị GDP của tỉnh chỉ đạt 8,7%. Theo đó, mức thu nhập bình quân đầu người cũng  
cải thiện đáng kể, nhưng vẫn thấp hơn các tỉnh thành khác trong khu vực (thu nhập  
bình quân đầu người của Bình Định chỉ bằng 80,12% so với Khánh Hòa), có nhiều  
chỉ tiêu cho thấy sự tăng trưởng vượt bậc của Tỉnh trong giai đoạn này, nhưng đến  
nay tỉnh Bình Định vẫn còn là một tỉnh nông nghiệp chủ yếu (giá trị GDP nông  
nghiệp trung bình đạt 30,49% trong cơ cấu GDP giai đoạn 2010 – 2015 và lực  
lượng lao động tại nông thôn năm 2015 chiếm tỷ trọng 71,19% so với toàn bộ lực  
lượng lao động cả tỉnh).  
Trong đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có tỷ trọng đóng góp khá khiêm  
tốn, chưa tạo được sự đột phá như kỳ vọng, giá trị vốn đầu tư của FDI chỉ đạt giá trị  
bình quân 2,19%/năm trong tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2010  
– 2015. Các dự án FDI chủ yếu có suất đầu tư thấp, trong khi đó nhu cầu đầu tư đến  
năm 2020 là rất lớn, nhưng hiện nay đầu tư chủ yếu là hàng may mặc gia công, sản  
phẩm sơ chế không mang lại giá trị gia tăng cao cho Tỉnh. Nhưng trái lại, năng suất  
   
2
lao động của khu vực FDI lại cao hơn hẳn so với khu vực Nhà nước và ngoài Nhà  
nước, cụ thể giá trị năng suất lao động của khu vực FDI năm 2015 gấp 2,29 lần khu  
vực Nhà nước và gấp 4,91 lần khu vực ngoài Nhà nước.  
Xét về giá trị tuyệt đối, GDP tỉnh Bình Định có khoảng cách chênh lệch thấp  
hơn so với các tỉnh trong khu vực, trong khi xét về điều kiện tự nhiên thì các tỉnh  
này có rất nhiều điểm thuận lợi tương đồng: cùng thuộc các tỉnh duyên hải miền  
Trung, nằm trong Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung. Tuy nhiên nếu so sánh thì  
tỉnh Khánh Hòa có bước phát triển khá bền vững so với Bình Định. Vậy thì tại sao  
Bình Định không làm được như vậy? Điều đó chắc chắn nằm ở những chính sách  
phát triển khác nhau giữa các tỉnh. Vậy chính sách nào thích hợp cho Bình Định  
trong bối cảnh hiện nay để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực và cả  
nước, nhất là đạt được mục tiêu đã đề ra “Xây dựng Bình Định cơ bản trở thành  
một tỉnh công nghiệp vào năm 2020 với hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội  
tương đối hiện đại và đồng bộ, gắn liền với sự phát triển kết cấu hạ tầng của vùng  
kinh tế trọng điểm miền Trung... Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền  
vững, tạo chuyển biến mạnh về tốc độ phát triển, hiệu quả và sức cạnh tranh của  
nền kinh tế”.  
Cụ thể hơn là phải đạt được “Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn  
2016 - 2020 khoảng 9,5 - 10%. Trong đó nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình  
quân 4 - 4,5%, công nghiệp và xây dựng tăng bình quân khoảng 12 - 14%, khu vực  
dịch vụ khoảng 11 - 13%; ....” Nhìn chung, tỉnh Bình Định vẫn còn nhiều tiềm  
năng phát triển bền vững hơn nữa, nâng cao năng lực cạnh tranh để hoàn thành mục  
tiêu của tỉnh và theo kịp sự phát triển của các tỉnh trong khu vực. Tuy nhiên đó là  
một thách thức rất lớn cho tỉnh. Chính vì vậy, đề tài “Phân tích năng lực cạnh  
tranh tỉnh Bình Định” được chọn nghiên cứu để tìm ra chính sách phù hợp cho  
tỉnh nhằm đạt được mục tiêu phát triển trong giai đoạn 2016 – 2020.  
3
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
1.2.1. Mục tiêu tổng quát  
Đánh giá năng lực cạnh tranh của tỉnh Bình Định.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
Đánh giá những nhân tố quyết định nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tỉnh Bình  
Định; nhận dạng những điểm yếu làm cho tỉnh Bình Định chưa phát huy hết tiềm  
năng phát triển, từ đó nghiên cứu đề xuất một số giải pháp về chính sách để khắc  
phục những điểm yếu, phát huy những thế mạnh nhằm nâng cao năng lực cạnh  
tranh cho tỉnh Bình Định.  
1.3. Câu hỏi nghiên cứu  
- Nhân tố nào quyết định đến năng lực cạnh tranh của tỉnh Bình Định?  
- Tỉnh Bình Định cần có những chính sách nào để nâng cao năng lực cạnh  
tranh?  
1.4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu  
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đánh giá năng lực cạnh tranh của địa phương  
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Các vấn đề cốt lõi nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh  
- Thời gian nghiên cứu từ năm 2010-2015, một số nội dung cập nhật số liệu  
sẵn có từ năm 2005-2015 để nghiên cứu diễn biến của nền kinh tế tại địa phương.  
1.5. Khung phân tích và phương pháp nghiên cứu  
Luận văn sử dụng khung phân tích NLCT địa phương, do TS. Vũ Thành Tự  
Anh điều chỉnh từ khung phân tích NLCT quốc gia Michael E. Porter  
(1990,1998,2008) cho phù hợp với điều kiện địa phương ở Việt Nam (Hình 1.1).  
Theo khung lý thuyết, khái niệm NLCT được định nghĩa là năng lực của một nền  
kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh  
tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân. NLCT được đo lường bằng năng suất  
sử dụng nguồn lực vốn, con người và nguồn lực tự nhiên. NLCT của một địa  
phương sẽ được quyết định bởi ba nhóm nhân tố: Lợi thế tự nhiên sẵn có của địa  
               
4
phương; NLCT ở cấp độ địa phương và NLCT ở cấp độ doanh nghiệp.  
NĂNG LỰC CẠNH TRANH Ở CẤP ĐỘ DOANH NGHIỆP  
Trình độ phát triển cụm,  
Hoạt động và chiến lược  
của DN  
Môi trường kinh doanh  
ngành  
NĂNG LỰC CẠNH TRANH Ở CẤP ĐỘ ĐỊA PHƯƠNG  
Hạ tầng văn hóa, giáo dục,  
y tế, xã hội  
Hạ tầng kỹ thuật (GTVT,  
điện, nước, viễn thông)  
Chính sách tài khóa, đầu  
tư, tín dụng, cơ cấu  
CÁC YẾU TỐ SẴN CÓ CỦA ĐỊA PHƯƠNG  
Tài nguyên tự nhiên  
Vị trí địa lý  
Quy mô của địa phương  
Hình 1.1: Khung phân tích năng lực cạnh tranh địa phương  
Nguồn: Vũ Thành Tự Anh (2013)  
Nhóm nhân tố thứ nhất: Các yếu tố lợi thế sẵn có của địa phương, bao gồm tài  
nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và quy mô địa phương. Những nhân tố này không  
chỉ là số lượng mà còn bao gồm sự phong phú, chất lượng, khả năng sử dụng, chi  
phí đất đai, điều kiện khí hậu, diện tích và địa thế vùng, nguồn khoáng sản, nguồn  
nước, các nguồn lợi thuỷ sản, v.v. Đây là những nhân tố đầu vào cần thiết cho việc  
cạnh tranh của bất kỳ địa phương nào và cho cả các DN hoạt động trong địa  
phương đó.  
Nhóm nhân tố thứ hai: Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương. Nhóm này  
 
5
bao gồm các nhân tố cấu thành nên môi trường hoạt động của doanh nghiệp. Có thể  
chia các yếu tố này thành hai nhóm chính bao gồm: chất lượng của hạ tầng xã hội  
và các thể chế chính trị, pháp luật, văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế; các thể chế, chính  
sách kinh tế như chính sách tài khoá, tín dụng và cơ cấu kinh tế. Ở nghiên cứu này,  
tác giả nhấn mạnh vào nhân tố hạ tầng xã hội, chính sách tài khóa và cơ cấu kinh tế  
để phản ánh môi trường hoạt động của DN và sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ  
Niên giám thống kê Việt Nam và của tỉnh Bình Định, cùng với các báo cáo hàng  
năm của các sở, ban, ngành trong tỉnh nhằm phân tích hiện trạng môi trường hoạt  
động cho các doanh nghiệp trong tỉnh.  
Nhóm nhân tố thứ ba: Năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp. Đây là  
những nhân tố tác động trực tiếp tới năng suất của doanh nghiệp, bao gồm chất  
lượng môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trình độ phát triển cụm  
ngành, hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp. Nhân tố môi trường kinh doanh  
sẽ được tác giả đánh giá thông qua chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) do  
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Cơ quan Phát triển Quốc  
tế Hoa Kỳ hợp tác nghiên cứu. Nhân tố trình độ phát triển cụm ngành sẽ được tác  
giả đánh giá dựa trên tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng so với cả nước, sự tập trung về  
mặt địa lý và tính liên kết giữa các doanh nghiệp trong cụm ngành thông qua dữ liệu  
thống kê thứ cấp về sản lượng, tốc độ tăng trưởng và các nghiên cứu khác có liên  
quan tới cụm ngành trong tỉnh Bình Định. Hoạt động và chiến lược của doanh  
nghiệp đánh giá các điều kiện bên trong nhằm giúp doanh nghiệp đạt được mức  
năng suất và trình độ đổi mới, sáng tạo cao nhất dựa trên độ tinh thông, những kỹ  
năng, năng lực và thực tiễn quản lý của doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp có  
khả năng cải tiến năng lực để đạt được mức năng suất cao nhất. Trình độ phát triển  
của cụm ngành được đánh giá bởi bốn yếu tố theo mô hình kim cương của Porter  
(Hình 1.2), đó là: (i) Điều kiện về yếu tố đầu vào, (ii) điều kiện cầu, (iii) chiến lược  
và hoạt động của doanh nghiệp và (iv) các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên  
quan.  
6
Hình 1.2. Mô hình kim cương Porter  
Nguồn: Vũ Thành Tự Anh (2013)  
Phương pháp nghiên cứu  
Tác giả sử dụng phương pháp định tính và nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ  
Tổng cục thống kê, Cục thống kê của các địa phương nằm trong khu vực duyên hải  
miền Trung, thông tin từ các báo cáo của tỉnh Bình Định, báo cáo của các sở, ban,  
ngành của tỉnh và các nghiên cứu có liên quan để đánh giá lợi thế của những nhóm  
nhân tố này. Trên cơ sở đó, tác giả sử dụng phương pháp định lượng trong việc tính  
toán, so sánh các chỉ tiêu kinh tế qua các thời kỳ để đánh giá năng lực cạnh tranh  
của tỉnh Bình Định.  
1.6. Cấu trúc của luận văn  
Gồm 5 chương  
Chương 1: Giới thiệu bối cảnh của vấn đề nghiên cứu như: mục tiêu, câu hỏi,  
đối tượng, phạm vi nghiên cứu, khung phân tích và phương pháp nghiên cứu.  
Chương 2: Đánh giá tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Bình Định giai đoạn  
2010-2015 thông qua các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh tế - xã hội và các chỉ tiêu  
   
7
trung gian khác. So sánh với với các tỉnh duyên hải miền Trung, đặc biệt là tỉnh  
Khánh Hòa.  
Chương 3: Phân tích các nhân tố quyết định NLCT tỉnh Bình Định, dựa vào  
khung lý thuyết và các số liệu thứ cấp, tác giả từng bước phác họa bức tranh NLCT  
của tỉnh Bình Định.  
Chương 4: Đánh giá năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh Bình Định.  
Chương 5: Kết luận và đưa ra các kiến nghị chính sách. Tác giả sẽ gợi ý một  
số chính sách theo thứ tự ưu tiên để nâng cao NLCT theo định hướng phát triển của  
tỉnh.  
8
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH  
BÌNH ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2010 – 2015  
2.1. Các chỉ tiêu phản ánh mức độ phát triển kinh tế  
2.1.1. Tổng sản phẩm quốc nội và thu nhập bình quân đầu người  
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Trong giai đoạn 2010 – 2015 tăng trưởng  
tổng sản phẩm địa phương GDP trung bình đạt 14%/năm, cao hơn so với mức tăng  
GDP bình quân cùng giai đoạn này của cả nước (5,82%/năm).  
60,000  
40,000  
20,000  
-
40.0%  
30.0%  
20.0%  
10.0%  
34.8%  
30.0%  
26.0%  
25.4%  
24.8%  
21.7%  
18.7%  
18.4%  
11.9%  
13.1%  
10.8%  
12.7%  
10.6%  
8.7%  
7.1%  
0.0%  
GDP giá hiện hành  
Tốc độ tăng trưởng  
Hình 2.1: Tốc độ tăng GDP giai đoạn 2001 – 2015  
Nguồn: Niên giám Thống kê các tỉnh duyên hải miền Trung năm 2015  
Giá trị GDP theo giá hiện hành có chiều hướng gia tăng qua các năm, trong  
giai đoạn 2001 đến 2015, đạt giá trị trung bình là 24,015 triệu USD, điều này phản  
ánh sự phát triển của tỉnh Bình Định các năm qua.  
Phản ánh rõ hơn đó là tốc độ tăng trưởng của GDP, trong giai đoạn 2001 –  
2015, tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm đều tăng trên 7%, trung bình đạt mức độ  
tăng trưởng 18,3%. Năm có tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất là năm 2010 (đạt  
34,8%) và năm thấp nhất là năm 2001 (đạt 7,1%).  
       
9
70,000.00  
60,000.00  
50,000.00  
40,000.00  
30,000.00  
20,000.00  
10,000.00  
-
61,575.29  
46,957.27  
2010  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
42,177.32  
38,355.67  
36,360.00  
35,546.25  
35,073.00  
32,753.40  
26,884.00  
Phú Yên Khánh  
Hòa  
Gia Lai  
Đà  
Nẵng  
Quảng Quảng Bình  
Nam Ngãi Định  
Ninh  
Thuận Thuận  
Bình  
Hình 2.2: GDP bình quân đầu người/năm 2010 – 2015 (triệu đồng)  
Nguồn: Niên giám Thống kê các tỉnh duyên hải miền Trung năm 2015  
Mặc dù có tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm cao hơn so với cả nước, tuy  
nhiên xét về giá trị GDP bình quân đầu người/năm của tỉnh Bình Định lại thấp hơn  
một số tỉnh, thành khác trong khu vực. Cụ thể, giá trị GDP bình quân đầu người/  
năm của tỉnh Bình Định luôn thấp hơn các tỉnh thành như: Đà Nẵng, Quảng Ngãi và  
Khánh Hòa. Nếu vào năm 2015, giá trị GDP bình quân đầu người/năm của tỉnh  
Bình Định là 36,36 triệu đồng/người thì các tỉnh thành Đà Nẵng, Quảng Ngãi và  
Khánh Hòa lần lượt là: 61,58 triệu đồng/người, 46,95 triệu đồng/người và 42,18  
triệu đồng/người.  
- Thu nhập bình quân đầu người: Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế khá  
nhanh và có GDP bình quân đầu người cao hơn mức trung bình cả nước, nhưng thu  
nhập bình quân đầu người của Bình Định vẫn thấp hơn mức bình quân của cả nước.  
Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 9,36 triệu đồng năm 2010 tăng lên 12,86  
triệu đồng năm 2015. Mặc dù mức thu nhập này cao hơn bình quân vùng duyên hải  
miền Trung nhưng lại cách biệt khá lớn so với Đà Nẵng, đến năm 2015 Đà Nẵng và  
Khánh Hòa có mức thu nhập bình quân đầu người là 17,56 triệu đồng và 16,05 triệu  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 104 trang yennguyen 19820 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Phân tích năng lực cạnh tranh tỉnh Bình Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_phan_tich_nang_luc_canh_tranh_tinh_binh_dinh.pdf