Tóm tắt Luận án Luận án Nghiên cứu xu hướng nhập khẩu thuốc và một số yếu tố ảnh hưởng giai đoạn 2006-2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
BỘ Y TẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI  
Chu Quốc Thịnh  
NGHIÊN CỨU  
XU HƯỚNG NHẬP KHẨU THUỐC  
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG  
GIAI ĐOẠN 2006-2014  
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC  
MÃ SỐ: 62.72.04.12  
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC  
Hà Nội, năm 2017  
Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Dược Hà Nội  
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trương Quốc Cường  
PGS. TS. Nguyễn Thị Thái Hằng  
Phản biện 1: …………………………………..  
…………………………………..  
Phản biện 2: …………………………………..  
…………………………………..  
Phản biện 3: …………………………………..  
…………………………………..  
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá cấp Trường  
họp tại …………………………………………………….  
vào hồi ..…...giờ……..ngày….…tháng……năm……  
Có thể tìm hiểu thêm tại: Thư viện Quốc gia Việt Nam  
Thư viện Trường Đại học Dược HN  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Nhu cầu sử dụng thuốc của Việt Nam ngày càng tăng cao, tiền  
thuốc bình quân đầu người tăng gần 6 lần sau 15 năm từ 2000-2014,  
trong khi đó, công nghiệp dược trong nước mới chỉ chiếm 45% trong  
tổng chi phí thuốc và đang có xu hướng bị thay thế bởi thuốc nhập  
khẩu do năng lực cạnh tranh kém, thể hiện sự trùng lắp về dạng bào  
chế và các nhóm thuốc, không tận dụng hết năng lực sản xuất nhà  
máy. Sự phụ thuộc của ngành Dược vào thuốc nhập khẩu là một  
trong những nguyên nhân khiến cho chi phí tiền thuốc bình quân trên  
đầu người trong tổng chi y tế của Việt Nam năm 2009 ở mức cao gần  
2 lần so với trung bình của các quốc gia Châu Á và cao trên 3 lần so  
với trung bình của các quốc gia châu Âu.  
Để giảm gánh nặng của chi tiêu cho thuốc, Bộ Y tế luôn luôn  
nhấn mạnh mục đích của việc nhập khẩu là nhập khẩu bổ sung các  
thuốc trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng chưa  
đáp ứng đủ nhu cầu điều trị (nhập khẩu bổ sung) và nhập khẩu thay  
thế các thuốc sản xuất trong nước không có lợi bằng nhập khẩu (nhập  
khẩu thay thế). Để đạt được mục tiêu này, cần phải có các bằng  
chứng rõ ràng để hỗ trợ cho các nhà hoạch định chính sách trong việc  
xây dựng các chính sách nhằm điều tiết hoạt động nhập khẩu thuốc.  
Đề tài được thực hiện với các mục tiêu:  
1. Phân tích xu hướng nhập khẩu thuốc vào Việt Nam giai đoạn  
2006-2014.  
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng nhập khẩu  
thuốc vào Việt Nam giai đoạn 2006-2014.  
Từ đó đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm quản lý tốt  
hơn việc nhập khẩu thuốc và góp phần nâng cao việc đáp ứng nhu  
cầu tiêu thụ thuốc của ngành công nghiệp dược Việt Nam.  
1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN  
1.1. Thực trạng nhập khẩu thuốc của Việt Nam  
Tiền thuốc bình quân đầu người của Việt Nam tăng 6 lần sau 15  
năm từ 5,40 USD/người năm 2006 lên 32,22 USD/người năm 2014.  
Mặc dù xét về mặt số lượng, thị phần thuốc sản xuất trong nước tại  
Việt Nam đang ở mức cao nhất (74%) nếu so sánh với các quốc gia  
trong khu vực Đông Nam Á (Malaysia: 45%, Thailand: 72%,  
Indonesia: 70%, Philippines: 57%) nhưng xét về mặt giá trị, tỷ trọng  
thuốc sản xuất trong nước thấp hơn và đang có xu hướng bị thay thế  
bởi thuốc nhập khẩu; ngành công nghiệp dược trong nước đang thể  
hiện sự trùng lắp về dạng bào chế và nhóm thuốc (tập trung vào  
nhóm thuốc thông thường, dạng bào chế đơn giản), nhà máy trong  
nước vẫn chưa được sử dụng hết công suất thiết kế (mới đạt khoảng  
47%). Bối cảnh này dẫn đến việc nhập khẩu thuốc của Việt Nam là  
điều tất yếu và cần thiết.  
Việt Nam là quốc gia nhập siêu với khoảng hơn 50% thuốc thành  
phẩm và 90% nguyên liệu dùng để sản xuất trong nước phải nhập  
khẩu. Thuốc nhập khẩu bao phủ tất cả các nhóm tác dụng dược lý,  
trong đó tỷ trọng SĐK của nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn-ký sinh  
trùng chiếm tỷ lệ cao nhất là 28,89%; tiếp theo là nhóm thuốc tim  
mạch (7,05%), nhóm thuốc tác động lên dạ dày-ruột (6,68%). Về vấn  
đề vi phạm chất lượng của thuốc nhập khẩu đang là vấn đề đáng báo  
động, trong đó theo báo cáo của Cục Quản lý Dược, từ năm 2011 đến  
tháng 7/2014, hai quốc gia Ấn Độ và Hàn Quốc có tỷ lệ thuốc vi  
phạm chất lượng nhiều nhất (chiếm 73,78% và 11,59% tổng số 164  
lô thuốc nhập khẩu vi phạm chất lượng). Điều này đặt ra cho các nhà  
quản lý cần có các biện pháp để hạn chế nhập khẩu các thuốc từ các  
quốc gia này.  
2
1.2. Chính sách quản lý nhập khẩu thuốc tại Việt Nam  
Kể từ khi gia nhập chính thức Tổ chức thương mại thế giới  
(WTO) vào tháng 11/2006, chính sách quản lý nhập khẩu thuốc của  
Việt Nam đã có những điều chỉnh nhất định để có thể vừa đảm bảo  
mục đích của việc nhập khẩu (nhập khẩu bổ sung những mặt hàng  
trong nước không sản xuất được hoặc không đủ nhu cầu; hoặc nhập  
khẩu thay thế các mặt hàng trong nước sản xuất kém hiệu quả, không  
có lợi bằng nhập khẩu) vừa phải cân đối một cách hợp lý việc bảo hộ  
thị trường nội địa, đồng thời vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản  
của hệ thống thương mại theo quy định của WTO.  
Chính sách quản lý nhập khẩu thuốc tại Việt Nam được tóm tắt  
trong sơ đồ sau:  
Tác động lên  
thương nhân  
Chính sách  
Hàng rào kỹ  
thuật  
Chính sách  
quản lý nhập  
khẩu thuốc  
thuế  
Chính sách  
phi thuế quan  
Hạn chế số  
lượng  
Thương mại  
tạm thời  
Hành chính  
Hình 1.1: Các chính sách quản lý nhập khẩu thuốc tại Việt Nam  
1.3. Tổng quan về phương pháp phân tích xu hướng  
Trong lĩnh vực y tế, mục tiêu cơ bản của phân tích xu hướng là để  
dự báo cho sự thay đổi của sự kiện/hiện tượng, chẳng hạn như chi  
tiêu cho thuốc, cho y tế trong tương lai. Các phương pháp sau đây  
thường được áp dụng:  
3
1.3.1. Mô tả chuỗi số thời gian  
Mô tả chuỗi thời gian sử dụng các chỉ số như: giá trị trung bình  
qua thời gian; lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn, lượng tăng  
(giảm) tuyệt đối định gốc, lượng tăng (giảm) tuyệt đối trung bình; tốc  
độ phát triển liên hoàn, tốc độ phát triển định gốc, tốc độ phát triển  
trung bình, tốc độ tăng (giảm) liên hoàn, tốc độ tăng (giảm) định gốc,  
tốc độ tăng (giảm) trung bình. Sau đó, sử dụng các chỉ số này để dự  
báo cho các giá trị trong tương lại, với giả định các chỉ số này ít có  
sự thay đổi trong giai đoạn tiếp theo.  
1.3.2. Sử dụng các mô hình xu hướng  
Đối với mô hình xu hướng đơn biến, có 3 mô hình phổ biến  
thường được sử dụng bao gồm mô hình xu hướng tuyến tính (linear  
trend model); xu hướng lũy thừa (exponential trend model) và xu  
hướng bậc hai (quadratic trend model). Bên cạnh đó, mô hình tự  
tương quan (AR–autoregressive model), trung bình động (MA–  
moving average) và ARIMA cũng là các mô hình xu hướng đơn biến  
thường được nhắc đến.  
Đối với mô hình xu hướng đa biến, người ta cũng sử dụng hồi  
quy tuyến tính (linear regression), mô hình vector tự hồi quy VAR  
(vector autoregressive model) hay Mô hình vector hiệu chỉnh sai số  
VEC (vector error correction).  
1.3.3. Một số phân tích đặc thù khác  
Ngoài các phương pháp trên, phân tích chuỗi số thời gian theo  
giai đoạn (interrupted time series analysis) là một trong các phương  
pháp phân tích phổ biến trong các nghiên cứu liên quan đến y dược  
để đánh giá tác động của một can thiệp/chính sách đối với chuỗi số  
thời gian. Để có thể áp dụng phương pháp này, chuỗi thời gian cần  
tối thiểu 9 quan sát và kiểm định điểm gãy (chow test) phải cho kết  
4
quả ý nghĩa. Trong các nghiên cứu về sử dụng thuốc, mô hình hồi  
quy từng phần (segmented regression model) là cách tiếp cận thống  
kê hay được sử dụng do phù hợp với dữ liệu có số lượng quan sát  
nhỏ để lượng giá các thay đổi về xu hướng (trend) và mức độ (level)  
tiêu thụ thuốc.  
1.4. Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam  
Hầu hết các nghiên cứu về xu hướng thuốc nhập khẩu thuốc trên  
thế giới đều nằm trong các nghiên cứu về thị trường thuốc nói chung.  
Ngay cả các nghiên cứu với trọng tâm là thuốc nhập khẩu thì các kết  
quả cũng được so sánh, bàn luận với các dữ liệu của thuốc sản xuất  
trong nước, để từ đó có cái nhìn tổng quát về thị trường dược phẩm.  
Các phân tích này đều đưa ra dự báo cho nền công nghiệp dược.  
Các nghiên cứu về xu hướng tiêu thụ thuốc hay chi tiêu cho thuốc  
trên thế giới cũng đã chỉ ra mối liên quan giữa các yếu tố thuộc về  
kinh tế, xã hội (như: tổng sản phẩm quốc dân (GDP), chỉ số giá tiêu  
dùng (CPI), kỳ vọng sống khi sinh, dân số, cấu trúc dân số, chất  
lượng cuộc sống, sự thay đổi công nghệ kỹ thuật, hành vi sử dụng  
thuốc…); các yếu tố thuộc về bệnh tật (tỷ lệ hiện mắc, tỷ lệ mới mắc,  
tỷ lệ chết, tỷ lệ tử vong…) và các yếu tố thuộc về chính sách có ảnh  
hưởng với xu hướng tiêu thụ, chi tiêu cho thuốc nói chung và thuốc  
nhập khẩu nói riêng.  
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Thiết kế nghiên cứu: phân tích dọc sử dụng bộ số liệu hồi cứu,  
kết hợp định tính và định lượng theo 2 giai đoạn. Trong đó giai đoạn  
1 là nghiên cứu định lượng nhằm phân tích xu hướng nhập khẩu, giai  
đoạn 2 kết hợp định tính và định lượng nhằm phân tích một số yếu tố  
ảnh hưởng đến xu hướng nhập khẩu  
2.2. Nghiên cứu định lượng  
5
- Đối tượng nghiên cứu: toàn bộ số liệu về thuốc, được quy đổi theo  
tên hoạt chất, nhập khẩu vào Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2014,  
trừ các hoạt chất thuộc nhóm đông y, sinh phẩm chẩn đoán invitro,  
dịch chạy thận nhân tạo.  
- Thời gian và địa điểm nghiên cứu: từ tháng 12/2010 đến tháng  
12/2016 tại Hà Nội, Việt Nam.  
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu toàn bộ, gồm:  
Năm  
2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014  
Số hoạt  
chất  
997 1049 1181 1247 1226 1059 1063 1059 1056  
- Thu thập số liệu: dựa trên mẫu trích xuất số liệu được thiết kế sẵn  
trên định dạng excel do Tổng cục Hải quan cung cấp, bổ sung trường  
thông tin “hoạt chất”. Gắn các mã: ATC từ bậc 1 đến bậc 5; thuốc  
mang tên gốc/tên thương mại; thuốc thuộc/không thuộc Danh mục  
thuốc thiết yếu; mã quốc gia xuất xứ (nhóm 1: thuốc sản xuất tại các  
nước tương tự Việt Nam về tiêu chuẩn chất lượng và trình độ công  
nghệ sản xuất; nhóm 2: thuốc sản xuất tại các nước này có nguyên  
tắc, tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc cao hơn các nhà máy tại  
Việt Nam). Thu thập các biến số bổ sung về dân số, cơ cấu dân số, kỳ  
vọng sống khi sinh, GDP, CPI, tỷ lệ hiện mắc, tỷ lệ chết do bệnh từ  
năm 2006 đến năm 2014 từ các nguồn báo cáo chính thống.  
- Nhập liệu, quản lý số liệu: Số liệu định lượng sau khi thu thập  
được làm sạch, nhập vào máy tính với phần mềm Excel và được xử  
lý bằng phần mềm STATA 10.0.  
- Phân tích số liệu:  
+ Tính toán các chỉ số: liều DDD/DID thuốc nhập khẩu/sản xuất  
trong nước; kim ngạch nhập khẩu (KNNK), KNNK bình quân đầu  
người, KNNK hiệu chỉnh lạm phát, tỷ lệ KNNK/DDD giữa thuốc  
xuất xứ từ quốc gia nhóm 1 và nhóm 2.  
6
+ Sử dụng các chỉ số mô tả chuỗi số thời gian (tốc độ tăng tổng và  
tốc độ tăng trung bình năm), mô hình đơn biến hồi quy tuyến tính  
y=at+b để phân tích xu hướng nhập khẩu thuốc vào Việt Nam.  
+ Sử dụng mô hình phân tích xu hướng đa biến để phân tích các yếu  
tố thuộc về kinh tế, xã hội, bệnh tật và năng lực sản xuất trong nước  
đến xu hướng nhập khẩu thuốc theo các bước như sơ đồ:  
Biến có đặc tính không dừng  
Đồng liên kết ở cùng cấp (biến  
gốc hoặc cùng ở sai phân bậc 1)  
Định lượng mối liên hệ ngắn/dài hạn  
Có  
Không  
Không có đồng liên kết  
Có đồng liên kết  
Mô hình VAR  
Mô hình VEC  
Kiểm định nhân quả Granger  
+ Sử dụng mô hình hồi quy từng phần (segmented regression  
model) để phân tích ảnh hưởng của yếu tố chính sách:  
2.3. Cấu phần nghiên cứu định tính  
7
- Đối tượng nghiên cứu: bao gồm 4 nhóm đại diện cho: nhà hoạch  
định chính sách; chuyên gia; doanh nghiệp dược, bệnh viện.  
- Địa điểm và thời gian nghiên cứu: từ tháng 10/2016-12/2016 tại  
thành phố Hà Nội, Việt Nam.  
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu có chủ đích, mỗi  
nhóm 2 người như sau:  
Stt Nhóm  
Đối tượng cụ thể  
1.  
2.  
3.  
Nhà hoạch định  
chính sách  
Chuyên gia  
1 lãnh đạo Cục quản lý Dược  
1 lãnh đạo cấp phòng  
1 chuyên gia dược  
1 chuyên gia kinh tế y tế  
Doanh nghiệp  
Bệnh viện  
1 lãnh đạo doanh nghiệp nhập khẩu thuốc  
1 lãnh đạo văn phòng đại diện của công ty  
dược đa quốc gia  
1 lãnh đạo khoa dược bệnh viện trung ương  
1 lãnh đạo khoa dược bệnh viện tỉnh/thành phố  
4.  
- Phương pháp thu thập: Phỏng vấn sâu đối tượng dựa trên Bộ câu  
hỏi hướng dẫn phỏng vấn sâu dành cho từng nhóm đối tượng. Mỗi  
cuộc phỏng vấn sâu kéo dài từ 45 đến 90 phút, thông tin được ghi  
chép hoặc ghi âm tuỳ thuộc vào yêu cầu của đối tượng.  
- Thu thập, quản lý và phân tích số liệu: Tiến hành gỡ băng thu các  
cuộc phỏng vấn sâu, tổng hợp các thông tin đã ghi chép. Các thông  
tin dược mã hóa, dãn nhãn và làm sạch. Các thông tin sau khi được  
mã hóa được phân tích theo chủ đề.  
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Xu hướng nhập khẩu thuốc thành phẩm vào Việt Nam  
3.1.1. Tình hình nhập khẩu thuốc giai đoạn 2006-2014  
Trong cả giai đoạn 2006-2014, thuốc nhập khẩu vào nước ta có  
nguồn gốc xuất xứ từ 75 quốc gia, chứa 1.811 hoạt chất và tổng số  
công ty nhập khẩu thuốc là 119 công ty. KNNK thuốc tăng nhanh, từ  
502 triệu USD năm 2006 đến 1.767 triệu USD năm 2014 (R2 = 0,98),  
8
tương ứng với mức tăng tổng là 252,0% và mức tăng trung bình năm  
là 17,5%, KNNK tính theo bình quân đầu người và đã điều chỉnh  
theo lạm phát tăng từ 6,28 USD năm 2006 lên đến 19,48USD năm  
2014 (R2 = 0,97) tương ứng với tổng mức tăng và mức tăng trung  
bình năm là 210,19% và 15,7%. Kết quả này cho thấy nhu cầu về  
thuốc nhập khẩu của người dân Việt Nam là tăng thực tế, không phải  
do tác động của các yếu tố về trượt giá hay tăng dân số.  
Các nhóm thuốc nhập khẩu chiếm tỷ trọng cao trong các năm từ  
2006 đến 2014 đều không có sự thay đổi, bao gồm cả những nhóm  
thuốc chữa bệnh thông thường (nhóm J-hệ kháng khuẩn với tỷ trọng  
từ 21,10- 26,89%; nhóm A-thuốc đường tiêu hóa và chuyển hóa với  
tỷ trọng từ 18,83- 20,31% và nhóm N- thuốc hệ thần kinh với tỷ  
trọng từ 8,03- 9,10%) và nhóm thuốc chữa bệnh chuyên khoa đặc trị  
(nhóm C-thuốc hệ tim mạch với tỷ trọng từ 9,05- 10,95%; nhóm L-  
thuốc chống ung thư và tác nhân điều hòa miễn dịch với tỷ trọng từ  
5,14- 9,35%; và nhóm B-thuốc hệ máu và cơ quan tạo máu với tỷ  
trọng từ 7,21- 8,19%).  
Xét về mặt xu hướng, các nhóm J-hệ kháng khuẩn, N-Thuộc hệ  
thần kinh và P-chống ký sinh trùng (là những nhóm thuốc chữa bệnh  
thông thường) có xu hướng giảm tỷ trọng KNNK (hệ số góc a<0, hệ  
số R2 tương ứng là 0,67; 0,77 và 0,84). Ngược lại, các nhóm C-thuốc  
tim mạch và L-thuốc chống ung thư và tác nhân điều hòa miễn dịch  
(là những nhóm thuốc điều trị các bệnh chuyên khoa đặc trị) có xu  
hướng tăng tỷ trọng KNNK (hệ số góc a>0, hệ số R2 tương ứng là  
0,86 và 094).  
Mười quốc gia có KNNK lớn nhất có cả các các quốc gia thuộc  
nhóm 1 (Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan, Hong Kong, Singapore) và  
nhóm 2 (Pháp, Đức, Thuỵ Sỹ, Italy, Anh, Mỹ, Bỉ, Australia), chiếm  
9
72,98-76,85% tổng KNNK. Trong đó, tỷ trọng KNNK của các thuốc  
sản xuất tại các quốc gia thuộc nhóm 1 có xu hướng tăng, thuốc sản  
xuất tại các quốc gia thuộc nhóm 2 có xu hướng giảm (p<0,05).  
Thuốc nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu mang tên thương mại  
(trên 90%) và có xu hướng ngày càng tăng (R2=0,76). Thuốc biệt  
dược gốc chiếm tỷ trọng từ 46,36–57,72%; thuốc thuộc danh mục  
thuốc thiết yếu lần 6 chiểm 30-35%. Không có sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê giữa hai nhóm thuốc xuất xứ từ quốc gia nhóm 1 và  
nhóm 2 khi phân tích theo các cách phân loại này.  
3.1.2. Xu hướng nhập khẩu một số nhóm thuốc điển hình  
- Nhóm kháng khuẩn tác dụng toàn thân:  
Nhóm kháng sinh có xu hướng nhập khẩu ngày càng tăng, cả về  
mặt giá trị (KNNK tăng từ 96,3 triệu USD năm 2006 lên 367,1 triệu  
USD năm 2014 tương ứng mức tăng tổng là 281,2% và mức tăng  
trung bình năm là 18,9%) và số lượng tiêu thụ (liều DDD tăng từ  
157,4 triệu liều năm 2006 lên 479,0 triệu liều năm 2014 tương ứng  
mức tăng tổng là 204,3% và mức tăng trung bình năm là 16,2%).  
Phân tích theo mã ATC bậc 3 và bậc 4, các nhóm được nhập khẩu  
nhiều nhất là J01DD-Cephalosporin thế hệ 3; J01DB-Cephalosporin  
thế hệ 1; J01DC-Cephalosporin thế hệ 2, J01CR-Các penicilin khác,  
J01CA-Các penicilin phổ rộng, các penicillin; J01M- Quinolon; và  
J01F-Macrolid và lincosamid. Về mặt xu hướng, các nhóm kháng  
sinh thế hệ cao và thế hệ mới có xu hướng nhập khẩu ngày càng tăng  
trong khi nhóm kháng sinh kinh điển, thế hệ thấp có xu hướng giảm.  
Kháng sinh nhập khẩu chủ yếu có nguồn gốc từ quốc gia nhóm 1,  
mức độ chênh lệch giữa thuốc nhập khẩu xuất xứ từ quốc gia nhóm 1  
so với nhóm 2 về cả KNNK và DDD đều có xu hướng tăng theo thời  
gian (R2 tương ứng = 0,36 và 0,59). Các quốc gia nhóm 2 cung cấp  
10  
vào Việt Nam chủ yếu nhóm J01CR-Dạng kết hợp của penicilin bao  
gồm ức chế beta-lactamase; J01DC-Cephalosporin thế hệ 2 và  
J01DH-Carbapenem, các quốc gia nhóm 1 cung ứng vào Việt Nam  
chủ yếu các nhóm kháng sinh Cephalosporin thế hệ 1, thế hệ 3 và thế  
hệ 4 (J01DB, J01DD và J01DE) và nhóm penicillin phổ rộng  
(J01CA), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05).  
- Thuốc điều trị đái tháo đường  
Thuốc điều trị đái tháo đường có xu hướng nhập khẩu ngày càng  
tăng về cả giá trị (KNNK năm 2006 là 15,05 triệu USD tăng lên  
57,43 triệu USD năm 2014, với mức tăng tổng 281,59% và mức tăng  
trung bình năm 18,78%) và số lượng (liều DDD tăng từ 103,38 triệu  
liều năm 2006 lên 261,82 triệu liều năm 2014, với mức tăng tổng  
153,26% và mức tăng trung bình năm 13,22%).  
Ba nhóm nhập khẩu nhiều nhất là Sulphonylurea, Biguanid và  
Insulin (chiếm 94,22-98,46%liều DDD và 77,26-98,18% KNNK).  
Về mặt xu hướng, nhóm Sulphonylurea, Insulin, thuốc điều trị đái  
tháo đường thế hệ mới như nhóm Ức chế men DPP-4 và Meglitinide  
có xu hướng tăng (R2>0,05, a>0 với p<0,05). Nhóm Biguanid và  
Thiazolidinedione có xu hướng giảm (R2>0,05, a<0 với p<0,05).  
Thuốc điều trị đái tháo đường chủ yếu được nhập khẩu từ các quốc  
gia nhóm 2.  
- Thuốc điều trị tăng huyết áp  
Thuốc điều trị tăng huyết áp có xu hướng nhập khẩu tăng cả về  
giá trị (KNNK tăng 320,22% sau 9 năm, mức tăng trung bình năm là  
20,2%) và số lượng (liều DDD tăng từ 9,28 triệu liều năm 2006 lên  
26,00 triệu liều năm 2014, với mức tăng tổng 180,17% và mức tăng  
trung bình năm 14,66%).  
11  
Ba nhóm có tỷ trọng KNNK và tỷ trọng DDD cao nhất là  
nhóm thuốc ức chế men chuyển (C09A và C09B), thuốc chẹn kênh  
canxi (C08) và thuốc ức chế thụ thể angiotensin 1 (C09C và C09D).  
Xét về mặt giá trị nhập khẩu, thuốc điều trị tăng huyết áp có xuất xứ  
từ quốc gia nhóm 1 thấp hơn khoảng 2-5 lần so với quốc gia nhóm 2  
nhưng xét về liều DDD, thuốc có xuất xứ từ quốc gia nhóm 1 đang  
dần chiếm ưu thế hơn so với quốc gia nhóm 2.  
3.2. Một số yếu tố ảnh hưởng tới xu hướng nhập khẩu thuốc  
Kết quả kiểm định tính dừng cho thấy toàn bộ các biến số nghiên  
cứu quan tâm đều không dừng tại điểm gốc nhưng có tính dừng khi  
điều chỉnh bằng cách lấy sai phân bậc 1 (trừ biến kỳ vọng sống khi  
sinh). Kết quả kiểm định tính đồng liên kết (sử dụng phương pháp  
Johansen) giữa các biến số giả thuyết là có mối liên quan cho thấy  
các biến này có tính đồng liên kết. Từ đó, mô hình VEC đã được áp  
dụng để phân tích về mối liên quan giữa các chuỗi số thời gian.  
3.2.1. Mối liên quan của KNNK với các yếu tố về kinh tế - văn hóa  
– xã hội  
Kết quả phân tích mối liên quan giữa KNNK và các biến số  
KNNK tại độ trễ 1 chu kì, dân số, CPI và GDP sử dụng mô hình  
VEC cho thấy trong cả ngắn hạn và dài hạn, không có yếu tố nào  
được chỉ ra là có mối liên quan một cách có ý nghĩa thống kê đối với  
biến số KNNK nói chung (p>0,05).  
Kết quả phân tích mối liên quan giữa cơ cấu dân số, thể hiện  
thông quan chỉ số tỷ trọng người dân dưới 15 tuổi và tỷ lệ người dân  
từ 65 tuổi trở lên với KNNK cho thấy có mối liên hệ tỷ lệ thuận có ý  
nghĩa thống kê giữa KNNK và tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên trong  
cả ngắn hạn và dài hạn (p<0,0001). Kiểm định nhân quả Granger cho  
12  
thấy tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên gây ra nhân quả Granger đối  
với KNNK (p<0,0001), không có mối liên hệ theo chiều ngược lại.  
Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy yếu tố thuộc về văn hoá,  
hành vi sử dụng thuốc (của cả người dân, người bán thuốc và bác sỹ  
kê đơn thuốc) cũng có tác động rất lớn đến xu hướng nhập khẩu  
thuốc.  
3.2.2. Mối liên quan của KNNK với các yếu tố về tình hình bệnh tật  
Sử dụng mô hình VEC và kiểm định Granger phân tích mối liên  
quan giữa KNNK với các biến số liên quan đến tình hình bệnh tật  
(biến số về tỷ lệ hiện mắc và tỷ lệ chết do bệnh) của 3 nhóm bệnh:  
nhiễm khuẩn, tim mạch và ung thư.  
Đối với bệnh tim mạch: trong ngắn hạn tại độ trễ 1 kì, sự gia tăng  
của KNNK nhóm thuốc tim mạch, tỷ lệ chết và tỷ lệ hiện mắc trước  
đó 1 năm sẽ dẫn đến sự giảm đi của giá trị KNNK nhóm thuốc tim  
mạch tại thời điểm hiện tại (p<0,0001). Trong dài hạn, các biến số về  
tỷ lệ chết và hiện mắc của bệnh tim mạch giảm (hoặc tăng) lên 1% sẽ  
dẫn tới KNNK thuốc tim mạch giảm (hoặc tăng) lên tương ứng là  
11,35% và 3,08% (p<0,0001).  
Đối với bệnh ung thư: trong ngắn hạn tại độ trễ 1 kì, KNNK  
nhóm thuốc ung thư trước đó 1 năm giảm 1% thì KNNK thuốc ung  
thư tại thời điểm hiện tại tăng 4,623% (p<0,001); tỷ lệ chết do ung  
thư giảm 1% thì KNNK thuốc ung thư tăng 0,105% (p <0,0001) và  
tỷ lệ hiện hiện mắc ung thư tăng 1% thì KNNk thuốc ung thư tăng  
0,4778% (p=0,001). Trong dài hạn, khi tỷ lệ chết do ung thư giảm đi  
1% thì KNNK thuốc ung thư tăng lên khoảng 0,64% (p=0,051).  
Đối với bệnh nhiễm khuẩn: trong ngắn hạn tại độ trễ 1 kì, các  
biến số về KNNK nhóm thuốc kháng khuẩn, tỷ lệ hiện mắc và tỷ lệ  
chết do các bệnh truyền nhiễm ở kỳ trước đó không có mối liên quan  
13  
có ý nghĩa thống kê đối với KNNK nhóm thuốc kháng khuẩn hiện tại  
(p>0,05). Trong dài hạn, tỷ lệ chết do các bệnh truyền nhiễm và tỷ lệ  
hiện mắc các bệnh truyền nhiễm có liên quan có ý nghĩa thống kê với  
KNNK thuốc kháng khuẩn ở mức ý nghĩa lần lượt là p<0,0001 và  
p<0,10. Sự gia tăng 1% tỷ lệ chết do các bệnh truyền nhiễm được chỉ  
ra là dẫn đến sự gia tăng của 3,979% KNNK thuốc kháng khuẩn  
trong dài hạn (p<0,0001). Sự gia tăng 1% tỷ lệ hiện mắc các bệnh  
truyền nhiễm dẫn đến sự gia tăng 0,6152% KNNK thuốc kháng  
khuẩn.  
Nghiên cứu định tính đưa ra các lý giải về chiều ảnh hưởng (tỷ lệ  
thuận hay tỷ lệ nghịch) về mối liên quan giữa các yếu tố về bệnh tật  
với KNNK nhóm thuốc là do bản chất của bệnh (cấp tính hay mãn  
tính, khả năng phát hiện bệnh, có hay không có biện pháp dự phòng  
bằng thuốc…).  
3.2.3. Ảnh hưởng của công nghiệp dược trong nước đến nhập  
khẩu thuốc  
Ba nhóm thuốc được phân tích là thuốc kháng sinh, thuốc điều trị  
đái tháo đường và thuốc điều trị huyết áp.  
Thuốc kháng sinh: đối với 4 nhóm kháng sinh thông thường là  
J01CA-penicillin phổ rộng, C01CR-kết hợp của penicillin với thuốc  
ức chế beta-lactamase, J01DB-Cephalosporin thế hệ 1 và J01DC-  
Cephalosporin thế hệ 2, không tìm thấy có mối liên quan ngắn hạn  
nào có ý nghĩa thống kê (p>0,05) nhưng lại có mối liên quan dài hạn  
giữa DID thuốc sản xuất trong nước với DID thuốc khẩu khẩu có  
xuất xứ từ quốc gia nhóm 1 (p<0,05) theo chiều tỷ lệ nghịch. Cụ thể:  
DID của thuốc kháng sinh nhóm J01CA, J01CR, J01DB, J01DC  
trong nước cứ tăng 1% thì DID của thuốc kháng sinh nhập khẩu có  
xuất xứ từ quốc gia nhóm 1 giảm tương ứng 0,73%; 0,66%; 4,86%  
và 1,56% (p<0,05). Riêng nhóm J01DD-cephalosporin thế hệ 3, về  
14  
mặt ngắn hạn và dài hạn, DID thuốc trong nước được chỉ ra là có mối  
liên quan có ý nghĩa thống kê với DID thuốc nhập khẩu xuất xứ từ  
quốc gia nhóm 1 (p<0,0001) theo chiều hướng tỷ lệ thuận: DID trong  
nước của nhóm kháng sinh J01DD tăng lên 1% thì DID nhập khẩu  
xuất xứ từ quốc gia nhóm 1 cũng tăng lên với mức tăng cao hơn là  
1,425% (về mặt ngắn hạn) và 0,520% (về mặt dài hạn).  
Thuốc điều trị tăng huyết áp: DID của thuốc huyết áp trong nước  
có mối liên hệ tỷ lệ thuận với DID của thuốc huyết áp nhập khẩu có  
xuất xứ từ quốc gia nhóm 1. DID của thuốc huyết áp trong nước tăng  
1% thì DID của thuốc huyết áp nhập khẩu nhóm 1 cũng tăng và mức  
tăng lên đến 15,6%, tuy nhiên mối liên quan này không có ý nghĩa  
thống kê (p>0,05).  
Thuốc điều trị đái tháo đường: Trong dài hạn, nếu DID của  
thuốc tiểu đường trong nước tăng 1% thì DID của thuốc tiểu đường  
nhập khẩu có xuất xứ từ quốc gia nhóm 1 cũng tăng nhưng mức tăng  
là rất nhỏ bằng 0,164%.  
Nghiên cứu định tính đưa ra các lý giải về sự khác nhau về chiều  
của mối liên quan: đối với thuốc thông thường hoặc có dạng bào chế  
thông thường, sự tăng trưởng của thuốc sản xuất trong nước sẽ dẫn  
tới giảm nhập khẩu thuốc có nguồn gốc từ quốc gia nhóm 1; ngược  
lại, nếu thuốc chuyên khoa đặc trị hoặc có dạng bào chế hiện đại, sự  
tăng trưởng của thuốc sản xuất trong nước ít ảnh hưởng tới nhập  
khẩu thuốc có nguồn gốc từ quốc gia nhóm 1, cả hai nhóm đều tăng  
trưởng theo nhu cầu sử dụng.  
3.2.4. Ảnh hưởng của các chính sách lên nhập khẩu thuốc  
Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy, trong giai đoạn 2006-  
2012, các chính sách tác động tới thuốc nhập khẩu theo hướng thúc  
đẩy toàn diện việc nhập khẩu thuốc, đảm bảo mục tiêu cung ứng  
thuốc và giai đoạn 2012-2016, các chính sách quản lý nhập khẩu tập  
15  
trung vào định hướng cơ cấu nhập khẩu thuốc, đảm bảo mục đích  
nhập khẩu thuốc là nhập khẩu bổ sung những thuốc trong nước chưa  
đáp ứng nhu cầu hay nhập khẩu thay thế thuốc mà sản xuất trong  
nước không ưu việt hơn thuốc nhập khẩu về giá và hiệu quả điều trị.  
Sự ra đời của các chính sách liên quan đến đấu thầu thuốc vào năm  
2011-2012 đã thể hiện những nỗ lực của việc điều chỉnh cơ cấu này.  
Sử dụng mô hình hồi quy từng phần để đánh giá sự tác động của  
chính sách đấu thầu thuốc. Kết quả cho thấy: các quy định về đấu  
thầy có tác dụng điều chỉnh lại cơ cấu thuốc nhập khẩu theo hướng  
giảm tỷ trọng các nguồn gốc từ các quốc gia như Ấn Độ, Hàn Quốc;  
tăng tỷ trọng các thuốc có nguồn gốc từ Châu Âu, Mỹ. Kết luận này  
có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) ở các nhóm thuốc: B-Máu và cơ quan  
tạo máu, C-Hệ tim mạch, J-Hệ kháng khuẩn, R-Hệ hô hấp, S-Giác  
quan. Đây là các nhóm được sử dụng chủ yếu tại bệnh viện và cũng  
là các nhóm thuốc có sự cạnh tranh giữa quốc gia nhóm 1 và nhóm 2.  
Nghiên cứu định tính cũng chỉ ra các chính sách khác như: chính  
sách thuốc mang tên gốc, thuốc generic, thuốc thiết yếu còn yếu và  
chưa được được triển khai đầy đủ trên thực tế.  
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN  
4.1. Xu hướng nhập khẩu thuốc tại Việt Nam  
So với các quốc gia đang phát triển, mức tăng trưởng thị trường  
thuốc nhập khẩu của Việt Nam đứng ở mức trung bình, thấp hơn so  
với Iran hay Bangladesh, nhưng lại cao hơn so với Ấn Độ. So với  
thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu có mức tăng nhanh hơn  
và như vậy, mục tiêu phát triển ngành Dược Việt Nam đến năm 2020  
sản xuất trong nước chiếm 80% tổng giá trị thuốc là rất khó đạt được.  
So sánh danh mục hoạt chất thuốc nhập khẩu với số lượng hoạt  
chất thực tế của thuốc sản xuất trong nước, nhận thấy vẫn còn 843  
hoạt chất có trong danh sách hoạt chất của thuốc nhập khẩu nhưng  
16  
không có trong danh sách hoạt chất thuốc sản xuất trong nước, trong  
đó có 67 hoạt chất là thuốc thiết yếu. Danh sách hoạt này có ý nghĩa  
rất lớn đối với cả nhà quản lý và các doanh nghiệp dược.  
Thuốc nhập khẩu vào Việt Nam trùng lắp với sản xuất trong nước  
gồm các nhóm: chống nhiễm khuẩn; thuốc đường tiêu hóa và chuyển  
hóa bao gồm vitamin, thuốc bổ, thuốc tác dụng trên dạ dày, ruột. Một  
số nhóm là cần do sản xuất trong nước còn hạn chế như thuốc tim  
mạch, thuốc chống ung thư và thuốc hệ máu và cơ quan tạo máu. Cơ  
cấu và xu hướng nhập khẩu phù hợp xu hướng về mô hình bệnh tật  
tại Việt Nam (bệnh truyền nhiễm giảm, không truyền nhiễm tăng)  
Thuốc sản xuất tại các quốc gia nhóm 1 ngày càng đóng vai trò  
quan trọng trong việc cung cấp thuốc vào Việt Nam. Thực trạng này  
cũng tương tự như một số quốc gia kém hoặc đang phát triển trên thế  
giới (Malaysia, Bangladesh, Iran...). Các nhà quản lý cần phải lưu ý  
điều này vì thuốc xuất xứ từ quốc gia nhóm 1 (Ấn Độ, Hàn Quốc) có  
tỷ lệ vi phạm chất lượng cao nhất.  
Đối với nhóm thuốc điều trị bệnh truyền nhiễm, sản xuất trong  
nước hiện vẫn đóng góp chính vào nhu cầu tiêu thụ của người dân  
Việt Nam. Tuy nhiên, nhóm kháng sinh nhập khẩu đang có tốc độ  
tăng nhanh hơn so với kháng sinh sản xuất trong nước. Đây là một  
chỉ báo đáng lo ngại cho ngành công nghiệp dược trong nước vì  
kháng sinh là mặt hàng đang được các doanh nghiệp trong nước tập  
trung sản xuất và có năng lực sản xuất.  
So sánh liều DID của nhóm thuốc này sử dụng tại Việt Nam với  
các quốc gia Châu Âu và Hàn Quốc, mức độ tiêu thụkháng sinh ở  
Việt Nam cao gấp 2- 3 lần so với trung bình các quốc gia Châu Âu,  
gấp 3,5-6,5 lần so với nước Châu Âu có mức tiêu thụ kháng sinh thấp  
nhất (Hà Lan), gấp gần 2 lần so Hàn Quốc. Việc sử dụng quá mức  
17  
nhóm kháng khuẩn tác dụng toàn thân là một trong nguyên nhân gây  
ra tình trạng kháng thuốc. Vì vậy, cần có những chính sách để hạn  
chế nhập khẩu và sử dụng thuốc nhập khẩu kháng sinh, đặc biệt với  
những nhóm trong nước đã đáp ứng hầu hết nhu cầu điều trị.  
Đối với nhóm điều trị đái tháo đường và tăng huyết áp, khi so  
sánh với dữ liệu thuốc sản xuất trong nước nhận thấy, năng lực sản  
xuất trong nước còn hạn chế, Việt Nam vẫn phụ thuộc vào thuốc  
nhập khẩu. Thuốc nhập khẩu đái tháo đường và tăng huyết áp đã bao  
phủ tất cả các nhóm điều trị theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của  
Bộ Y tế. Kết quả phân tích theo nguồn gốc xuất xứ cho thấy, đối với  
cả hai nhóm này, nhập khẩu chủ yếu có nguồn gốc từ quốc gia nhóm  
2, tuy nhiên ngày càng có xu hướng chuyển dịch sang các quốc gia  
nhóm 1. Điều này thể hiện sự bất hợp lý trong việc nhập khẩu nhóm  
thuốc này và sự bất cập của nền công nghiệp dược trong nước. Ngay  
cả đối với các nhóm thuốc năng lực sản xuất trong nước có khả năng  
đáp ứng nhu cầu như Biguanid, Sulphonylurea và thuốc chẹn kênh  
canxi, liều DDD thuốc sản xuất trong nước vẫn giảm nhanh.  
4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng tới nhập khẩu thuốc tại Việt Nam  
Một trong các yếu tố được chỉ ra là có liên quan một cách có ý  
nghĩa thống kê đến KNNK thuốc nói chung trong nghiên cứu này là  
cơ cấu dân số trên 65 tuổi (thể hiện mức độ dân số “già” của một  
quốc gia). Trong nghiên cứu này, trong cả ngắn hạn và dài hạn, tỷ  
trọng dân số trên 65 tuổi được chỉ ra là có mối liên hệ thuận chiều  
với KNNK nói chung, hay nói cách khác, sự gia tăng dân số ở nhóm  
tuổi từ 65 trở lên sẽ dẫn đến sự gia tăng về KNNK thuốc nói chung.  
Kết quả này khá tương đương với một số kết luận về mối liên quan  
giữa sự già hóa và chi tiêu y tế đã được nghiên cứu trên thế giới.  
18  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 28420 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Luận án Nghiên cứu xu hướng nhập khẩu thuốc và một số yếu tố ảnh hưởng giai đoạn 2006-2014", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_luan_an_nghien_cuu_xu_huong_nhap_khau_thuoc.pdf