Dự thảo tóm tắt luận án Nghiên cứu mô phỏng sự phát thải khí nhà kính (CH₄, N₂O) trong môi trường đất lúa lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN  
*****************  
NGÔ ĐỨC MINH  
NGHIÊN CỨU MÔ PHỎNG SỰ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH  
(CH4, N2O) TRONG MÔI TRƢỜNG ĐẤT LÚA  
LƢU VỰC SÔNG VU GIA – THU BỒN, TỈNH QUẢNG NAM  
Chuyên ngành: Khoa học môi trường  
Mã số: 62440301  
DỰ THẢO TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG  
Hà Nội - 2017  
Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học  
Quốc gia Hà Nội  
Người hướng dẫn khoa học:  
1. PGS.TS. Nguyễn Mạnh Khải  
2. PGS.TS. Mai Văn Trịnh  
Phản biện 1: …………………………………….  
Phản biện 2: …………………………………….  
Phản biện 3: …………………………………….  
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận án Tiến sĩ cấp Đại học  
Quốc gia tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội vào hồi…….giờ……., ngày  
………tháng……….năm…….....  
Có thể tìm hiểu Luận án Tiến sĩ tại:  
- Thư viện Quốc gia Việt Nam;  
- Trung tâm thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn (VG-TB) là một trong những lưu vực sông lớn nhất  
và cũng là vùng kinh tế và nông nghiệp trọng điểm ở khu vực Nam Trung Bộ. Lưu vực sông  
VG-TB có diện tích đất trồng trọt trên 120.000 ha, trong đó gần 50% được sử dụng cho  
canh tác lúa (tương đương 60.700 ha). Đây là vùng sản xuất lúa lớn thứ hai ở khu vực Nam  
Trung Bộ. Lúa được coi là cây lương thực quan trọng nhất tại khu vực này [Sở Nông nghiệp  
và PTNT Quảng Nam, 2014].  
Hiện nay, Việt Nam đã có khá nhiều các nghiên cứu về phát thải KNK (đặc biệt là  
các nghiên cứu trên đồng ruộng) nhưng tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng và đồng  
bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, các nghiên cứu về phát thải CH4, N2O tại các vùng trồng  
lúa nhỏ hơn, hầu như chưa được tiến hành. Ngoài ra, mặc dù kỹ thuật, quy trình đo và quan  
trắc KNK quy mô điểm trong canh tác lúa gần đây đã được cải thiện đáng kể, nhưng những  
dự báo phát thải KNK trong canh tác lúa quy mô vùng sinh thái hay toàn quốc vẫn còn  
nhiều khá hạn chế do thiếu phương pháp/công cụ tính toán đủ tin cậy và toàn diện. Cho đến  
nay, việc áp dụng mô hình DNDC để ước lượng phát thải CH4, N2O từ các hệ sinh thái nông  
nghiệp đã dần được quan tâm. Tuy nhiên, do thiếu dữ liệu/thông số thực tế để kiểm chứng  
và hiệu chỉnh mô hình cho phù hợp nên phần lớn các nghiên cứu trên vẫn phải sử dụng các  
thông số mặc định hay dữ liệu tham khảo để chạy mô hình DNDC.  
Xuất phát từ những vấn đề lý luận trên cùng với yêu cầu cấp bách về việc lựa chọn,  
hoàn thiện phương pháp tính toán đủ tin cậy, nhanh chóng, ít chi phí để phục vụ cho nghiên  
cứu động thái phát thải KNK trong đất lúa ở quy mô điểm, tính toán mức phát thải và phân  
bố không gian phát thải KNK từ canh tác lúa ở quy mô vùng, chúng tôi tiến hành đề tài:  
“Nghiên cứu mô phỏng sự phát thải khí nhà kính (CH4, N2O) trong môi trường đất lúa  
lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam”.  
2. Mục tiêu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
2.1. Mục tiêu nghiên cứu  
Nghiên cứu này được thực hiện với các mục tiêu sau:  
- Xác định động thái phát thải CH4 và N2O từ môi trường đất lúa nước trong mối  
quan hệ với một số yếu tố khí hậu, tính chất đất và biện pháp canh tác.  
- Xác định tác động tiềm năng của các biện pháp canh tác thay thế khác nhau đối với  
mức phát thải CH4 và N2O cũng như năng suất lúa (tập trung vào đánh giá ảnh hưởng của  
các biện pháp tưới tới sự phát thải CH4 và N2O).  
- Ước tính phát thải và lập bản đồ phát thải CH4 và N2O quy mô toàn vùng.  
- Đề xuất hệ số phát thải CH4 và hệ số tỷ lệ của các chế độ tưới cho vùng nghiên cứu  
và lộ trình áp dụng chế độ tưới tiết kiệm để vừa giảm phát thải KNK, vừa duy trì được năng  
suất lúa.  
1
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của các  
biện pháp tưới tới sự phát thải CH4 và N2O của các hệ canh tác có lúa thuộc lưu vực sông  
Vu Gia – Thu Bồn, làm cơ sở cho hiệu chỉnh mô hình sinh địa hóa DNDC.  
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trên 2 điểm thuộc hai  
vùng canh tác lúa chính, điển hình của lưu vực VG-TB: (i) huyện Đại Lộc - đại diện cho  
vùng trung du và (ii) huyện Duy Xuyên - đại diện cho vùng đồng bằng thấp. Sau đó, sử  
dụng mô hình DNDC đã hiệu chỉnh để tính toán tổng lượng phát thải toàn lưu vực sông Vu  
Gia – Thu Bồn.  
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn  
3.1. Ý nghĩa khoa học  
- Cung cấp bằng chứng khoa học và cơ sở dữ liệu cho việc hiệu chỉnh, thẩm định,  
kiểm tra độ chính xác của mô hình DNDC (phần mềm kiểm kê phát thải KNK từ canh tác  
lúa), trước khi sử dụng mô hình để tính toán mức phát thải và tiềm năng giảm phát thải của  
chế độ tưới tiết kiệm cho vùng nghiên cứu.  
- Cung cấp thêm các bằng cơ sở khoa học và dữ liệu tham khảo cho các nghiên cứu  
giảm thiểu phát thải KNK trong nông nghiệp ở Việt Nam.  
- Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và đề xuất biện  
pháp canh tác phù hợp cho canh tác lúa bền vững (vừa đảm bảo được năng suất, vừa giảm  
phát thải khí nhà kính) tại lưu vực sông Vu Gia Thu Bồn.  
3.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Những kết quả thu được từ nghiên cứu này sẽ là dữ liệu cơ sở có giá trị trong công  
tác kiểm kê KNK từ sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng của toàn vùng  
và các khu vực có điều kiện tương tự ở Việt Nam.  
Các kết quả nghiên cứu còn có thể được sử dụng trong lập kế hoạch quản lý đất đai  
với trọng tâm là các lồng ghép các chiến lược giảm nhẹ BĐKH vào trong các dự án, chương  
trình phát triển nông nghiệp ở khu vực ven biển miền Trung Việt Nam.  
4. Những đóng góp mới của đề tài:  
- Nghiên cứu này là một trong những nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam kết hợp 3  
thành phần trong một nghiên cứu điển hình ở Việt Nam: (i) dữ liệu thực địa về lượng phát  
thải KNK (ii) dữ liệu về phương canh tác được thu thập từ nông dân địa phương … (iii) các  
kết quả định lượng về lượng phát thải KNK bằng mô hình DNDC đã được hiệu chuẩn và  
kiểm định  
- Sử dụng kỹ thuật GIS để tích hợp kết quả tính toán từ mô hình DNDC vào hiện thị  
trên bản đồ để mô tả phân bố không gian các vùng với các mức độ phát thải CH4 và N2O  
khác nhau, dựa trên các chế độ tưới khác nhau.  
2
- Đề xuất hệ số phát thải (EF) và hệ số tỷ lệ đối với các chế độ tưới (SFw) (sử dụng  
để tính toán kiêm kê KNK theo Tier 2 của IPCC) riêng cho khu vực nghiên cứu, một trong  
những vùng canh tác lúa chính ở duyên hải miền Trung Việt Nam.  
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU  
1.1. Khí nhà kính và hiệu ứng ấm lên toàn cầu  
Biến đổi khí hậu toàn cầu đang trở thành một vấn đề “thời sự” trong khoa học và chính trị  
hiện nay. Có rất nhiều tranh cãi về nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu: do hoạt động của  
con người hay hoạt động chính tự nhiên. Tuy nhiên, qua các quan trắc và nghiên cứu lâu dài  
trên phạm vi toàn thế giới, các nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng: sự thay đổi khí  
hậu đương đại (ví dụ như tăng nhiệt độ) chủ yếu là do sự phát thải các khí nhà kính (KNK)  
từ các hoạt động của con người, bao gồm: gồm hơi nước (H2O), cácbon điôxít (CO2), mê-  
tan (CH4), ôxit-nitơ (N2O), ozone (O3), các khí chlorofluorocacbon CFC… [IPCC, 2007].  
Nếu như sự gia tăng nồng độ và lượng khí CO2 trong khí quyển chủ yếu do sử dụng nhiên  
liệu hoá thạch và thay đổi sử dụng đất, thì CH4 và N2O phát thải chủ yếu từ hoạt động nông  
nghiệp [IPCC, 2007]. Cácbon điôxit (CO2), khí mê-tan (CH4), và ôxit nitơ (N2O) là các khí  
nhà kính quan trọng góp phần gây ra hiệu ứng ấm lên toàn cầu ở mức tương ứng là 60%,  
15% và 5% [IPCC 2007].  
1.2. Phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam  
1.2.1. Phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp trên thế giới  
Theo Ủy Ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), 3 loại KNK được quan  
tâm nhất trong nông nghiệp là CO2 (45%), CH4 (44%) và N2O (11%); trong đó 57,5% phát  
thải từ canh tác lúa; 21,8% phát thải từ đất; 17,2% phát thải từ chăn nuôi; 3,5% từ đốt phụ  
phẩm nông nghiệp, đốt đồng cỏ… Trong trồng trọt, lượng phát thải KNK trung bình từ canh  
tác lúa là 20 tấn CO2 quy đổi/ha, mía 28 tấn CO2 quy đổi /ha, đậu tương 17 tấn CO2 quy  
đổi/ha, sắn 12 tấn CO2 quy đổi/ha, lạc 10 tấn CO2 quy đổi/ha, ngô 7 tấn CO2 quy đổi/ha…  
[dẫn theo Nguyễn Văn Bộ và cs,, 2016]  
1.2.2. Phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp tại Việt Nam  
Tổng lượng KNK phát thải trong năm 2010 từ nông nghiệp là 88,35 triệu tấn CO2  
tương đương, trong đó canh tác trồng lúa đóng góp 44,6 triệu tấn CO2 tương đương (chiếm  
50,49%); còn lại 10,72% tổng lượng KNK phát thải từ quá trình lên men của động vật nhai  
lại trong chăn nuôi:, 9,69% từ phân chuồng, 26,95% từ đất nông nghiệp và 2,15% từ phế  
phụ phẩm nông nghiệp [MONRE, 2014].  
1.3. Phát thải khí nhà kính từ canh tác lúa trên thế giới và ở Việt Nam  
1.3.1. Phát thải khí nhà kính từ canh tác lúa trên thế giới  
Lúa là cây lương thực chính của gần 50% dân số thế giới (Fageria và cộng sự, 2011).  
Các cánh đồng lúa và các hệ thống canh tác có lúa được coi là một nguồn phát thải KNK  
3
quan trọng. Sản xuất lúa gạo là nguồn phát thải CH4 chính (loại KNK nhân tạo lớn thứ hai  
sau CO2) (IPCC 2007), có tiềm năng gây hiệu ứng ấm lên toàn cầu lớn gấp 25 lần so với  
CO2. Hệ canh tác lúa nước cung cấp gần 80% sản lượng gạo toàn cầu (Fageria và cộng sự,  
2011) nhưng cũng là nguồn phát thải khí CH4 chính khi đóng góp 80% tổng lượng CH4 phát  
thải từ tất các loại hình canh tác lúa trên thế giới [Deepanjan Majumdar, 2003] và 18% vào  
sự ấm lên toàn cầu [Denman và cộng sự, 2007].  
1.3.2. Phát thải khí nhà kính từ canh tác lúa tại Việt Nam  
Canh tác lúa là nguồn phát thải KNK lớn nhất trong ngành nông nghiệp ở Việt Nam.  
Tổng lượng KNK phát thải trong sản xuất lúa chủ yếu từ việc canh tác lúa nước có tưới với  
41,3 triệu tấn CO2 tương đương. Sản xuất lúa dự kiến sẽ vẫn là nguồn phát thải khí nhà kính  
lớn nhất trong lĩnh vực nông nghiệp với 39,1 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2020, và  
40,0 triệu tấn CO2 tương đương năm 2030.  
1.4. Cơ chế hình thành và phát thải khí CH4 và N2O trong môi trƣờng đất lúa  
1.4.1. Cơ chế hình thành và giải phóng khí CH4 trong đất lúa  
Mê-tan (CH4) được sản sinh trong đất khi chất hữu cơ bị phân hủy dưới điều kiện kị  
khí. Thông thường, môi trường có ôxy đầy đủ, hầu hết các C trong chất hữu cơ đang phân  
huỷ sẽ chuyển thành CO2. Tuy nhiên, trong trường hợp không có ôxy, quá trình phân hủy  
chất hữu cơ sẽ không được thực hiện triệt để và C được giải phóng dưới dạng CH4. Sau khi  
hình thành, CH4 được giải phóng vào khí quyển thông qua sự khuếch tán, sủi bọt khí và  
thông qua hệ thống mô khí của cây.  
1.4.2. Cơ chế hình thành và giải phóng khí N2O trong đất lúa  
Khí N2O trong ruộng lúa là sản phẩm trung gian và được hình thành từ quá trình  
nitrat hóa (trong điều kiện hiếu khí (ôxy hóa)) và quá trình phản nitrat hóa (trong điều kiện  
bán kị khí (khử)) [Khalil et al., 2004]. Trong quá trình nitrat hóa, N2O được hình thành  
trong điều kiện hạn chế oxy bằng cách chuyển hóa nitrite hoặc hydroxylamine. Trong quá  
trình phản nitrat, tỷ lệ N2O hình thành liên quan đến lượng N2 tăng khi O2 tăng lên và  
cacbon giảm xuống [Kirk, 2004]. N2O được tạo ra tối đa ở khoảng Eh từ 200 đến 500 mV  
[Yu và cộng sự, 2007].  
1.5. Các yếu tố ảnh hƣởng đến phát thải CH4 và N2O.  
Một số yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hình thành và phát  
thải CH4 và N2O là chế độ nước (tưới tiêu), quản lý chất hữu cơ (tàn dư cây trồng, rơm rạ và  
các chất hữu cơ khác), khí hậu (nhiệt độ), tính chất đất (Hàm lượng OM, pH và Eh, các hoạt  
động của vi sinh vật), các giống lúa và các hoạt động canh tác khác như làm đất, bón  
phân… .  
1.6. Sử dụng mô hình hóa trong mô phỏng phát thải KNK từ nông nghiệp  
Gần đây, một số phương pháp đã được sử dụng để dự đoán lượng phát thải CH4 và  
N2O từ các canh tác nông nghiệp. Sử dụng mô hình mô phỏng là một trong những cách tiếp  
4
cận phổ biến đang được áp dụng rộng rãi để ước tính mức phát thải khí nhà kính từ nông  
nghiệp và lâm nghiệp. Định lượng phát thải KNK từ đất là cần thiết cho các nghiên cứu quy  
mô toàn cầu trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra trên quy mô lớn [Li et al., 1997].  
Trong những năm gần đây, các mô hình sinh địa hóa này đóng một vai trò quan trọng  
trong việc mô tả động thái quá trình hình thành CH4 và N2O trong đất lúa và có thể ước  
lượng mức phát thải CH4 và N2O ở quy mô khu vực hoặc toàn cầu. Trong số các mô hình  
hiện có, mô hình DNDC được coi là mô hình ứng rộng phổ biến nhất trên thế giới.  
CHƢƠNG 2. NỘI DUNG, ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Nội dung nghiên cứu  
- Rà soát, điều tra và thu thập các tài liệu, số liệu và dữ liệu liên quan xây dựng CSDL đầu  
vào của mô hình: số liệu khí tượng, đất đai, phương thức canh tác tại các vùng lúa chính của  
tỉnh Quảng Nam phục vụ việc mô phỏng và tính toán lượng CH4 và N2O trong đất lúa vùng  
nghiên cứu.  
- Xây dựng thí nghiệm đồng ruộng để quan trắc số liệu phát thải khí CH4 và N2O và năng  
suất lúa trên đất phù sa cổ (dưới các chế độ tưới và bón phân khác nhau), và sử dụng để hiệu  
chỉnh mô hình.  
- Kiểm định mô hình DNDC và đánh giá động thái phát thải CH4 và N2O từ môi trường đất  
lúa nước trong mối quan hệ với một số yếu tố khí hậu, tính chất đất và biện pháp canh tác.  
- Sử dụng mô hình DNDC đã hiệu chỉnh và kiểm định để xác định lượng CH4 và N2O phát  
thải trên quy mô toàn vùng và lập bản đồ phát thải CH4 và N2O (dưới ảnh hưởng các các  
biện pháp canh tác khác nhau - tập trung vào biện pháp tưới);  
- Đề xuất thông số phát thải (EF) CH4 và N2O cho vùng nghiên cứu; và đề xuất một số biện  
pháp canh tác tổng hợp hướng tới canh tác lúa bền vững, phát thải thấp cho vùng nghiên  
cứu.  
2.2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm:  
(1) Hệ canh tác lúa nước trên lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam;  
(2) Khí CH4 và N2O phát thải từ hệ canh tác lúa nước lưu vực sông Vu Gia – Thu  
Bồn, tỉnh Quảng Nam;  
(3) Mối quan hệ giữa phương thức canh tác (tập trung vào chế độ tưới) với phát thải  
CH4 và N2O từ hệ canh tác lúa nước lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam.  
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Về không gian: luận án tập trung vào lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn, tỉnh Quảng  
Nam.  
5
- Về thời gian: nghiên cứu tính toán sự lượng phát thải CH4 và N2O từ các hệ canh  
tác có lúa ở lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam trong thời điểm nghiên cứu  
(2012–2017).  
- Về nội dung: luận án tập trung nghiên cứu phát thải CH4 và N2O trong đất lúa dưới  
tác động của 2 chế độ tưới (tưới tiết kiệm-ướt khô xen kẽ và tưới ngập).  
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu:  
2.3.1. Phương pháp thu thập thông tin và điều tra nông hộ:  
Thu thập thông tin, dữ liệu cơ bản: thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội về sản  
xuất nông nghiệp và canh tác lúa, dữ liệu về không gian, số liệu khí tượng, về đất  
Thu thập thông tin thứ cấp:  
Đánh giá nhanh có sự tham gia của nông dân (PRA):  
Điều tra nông hộ:  
2.3.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng  
2.3.2.1. Địa điểm và thời gian thực hiện thí nghiệm  
- Các thí nghiệm đồng ruộng được tiến hành trong hai vụ Hè Thu 2012 và Đông  
Xuân 2013 tại xã Đại Quang – huyện Đại Lộc (đại diện cho cùng trung du) và thị trấn Nam  
Phước – huyện Duy Xuyên (đại diện cho vùng đồng bằng).  
2.3.2.2. Bố trí thí nghiệm  
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn chỉnh (CBD) với 3 lần nhắc lại, kích  
thước mỗi ô thí nghiệm (5mx5m=25 m2) với 12 ô thí nghiệm (4 công thức x 3 lần nhắc lại)  
nhằm đánh giá ảnh hưởng của chế độ tưới nước và mức phân bón đến phát thải CH4 và N2O.  
Thí nghiệm được bố trí với 2 yếu tố:  
Chế độ tưới (yếu tố chính): (1) tưới ngập nước thường xuyên (TN); (2) Tưới nước ướt khô  
xen kẽ (TTK).  
2 kiểu/chế độ bón phân (yếu tố phụ): (1) Bón theo mức bón phổ biến của nông dân (MB1):  
120 N + 70 P2O5 + 60 K2O; (2) Bón theo khuyến cáo của Sở NN&PTNT (MB2): 10 tấn phân  
chuồng + 100 N + 60 P2O5 + 80 K2O;  
2.3.2.3. Lấy mẫu và phân tích khí CH4 và N2O  
a. Phương pháp thu mẫu khí: Theo quy trình của IRRI và IPCC  
b. Phương pháp phân tích khí: Phân tích khí CH4 và N2O bằng máy sắc khí (GC) -  
SRI6810C với 2 đầu dẫn FID (phân tích CH4) và ECD (phân tích N2O) kết hợp máy vi tính.  
2.3.3. Phương pháp mô hình hoá  
2.3.3.1. Giới thiệu về mô hình DNDC  
Mô hình DNDC 9.5 được sử dụng cho nghiên cứu này. Mô hình DNDC là mô hình  
sinh địa hóa trong đất, cho phép dự báo lượng cacbon được giữ lại trong đất, hàm lượng  
đạm bị mất, sự phát thải một số khí nhà kính như CO2, CH4, N2O từ các hệ sinh thái nông  
nghiệp (Giltrap et al, 2010).  
6
Mô hình DNDC có 2 chế độ chạy: theo điểm (site mode) và theo vùng (regional mode).  
* Các dữ liệu đầu vào của mô hình: Các dữ liệu về khí tượng thủy văn (nhiệt độ,  
lượng mưa, tốc độ gió, bức xạ mặt trời, độ ẩm); Các dữ liệu về canh tác (giống, thời gian  
gieo cấy, thu hoạch, phân bón, tưới nước, quản lý mùa vụ, cỏ hại…); Các dữ liệu về đất đai  
-
+
(pH, tỷ trọng, hàm lượng sét, hàm lượng OC, NO3 , NH4 …).  
* Các dữ liệu đầu ra của mô hình: Lượng phát thải khí CH4, N2O trên một đơn vị  
diện tích canh tác lúa, nhiều chỉ số khác liên quan đến OC, Eh, độ ẩm đất…  
2.3.3.2. Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình  
Mô hình được kiểm chứng bằng cách so sánh kết quả ước lượng phát thải của mô  
hình với kết quả phân tích mẫu khí lấy từ thí nghiệm đồng ruộng. Tiếp theo, các thông số và  
biến số của mô hình được hiệu chỉnh (calibration) để kết quả tính toán của mô hình gần với  
kết quả đo thực địa trong cùng điều kiện khí tựợng, đất đai, cây trồng và canh tác.  
2.3.3.3. Đánh giá độ nhạy mô hình  
Trong mỗi kịch bản, một thông số đầu vào tăng hoặc giảm so với giá trị thực tế,  
trong khi các thông số còn lại không đổi (giữ nguyê ở giá trị nền). Cơ sở lựa chọn giá trị này  
là khoảng thay đổi này đủ lớn để kết quả ước lượng ở kịch bản thực tế tạo ra sự khác biệt để  
có thể so sánh được.  
2.3.4. Hệ thống thông tin địa lý và phương pháp bản đồ  
Phương pháp xây dựng bản đồ: - Phân tích chồng xếp và Hiển thị  
2.3.5. Phương pháp kiểm soát độ không chắc chắn của mô hình  
Trong nghiên cứu này, độ không chắc chắn này hạn chế bằng cách sử dụng phương  
pháp MSF (Model Significant/Sensitive Factor): mô hình DNDC tính toán lượng CH4 và  
lượng N2O phát thải hàng năm cho hai kịch bản: (1) phát thải tối thiểu và (2) phát thải tối  
đa. Các kịch bản phát thải tối thiểu sử dụng giá trị OC, pH, tỷ trọng nhỏ nhất và giá trị của  
hàm lượng sét cao nhất trong đất; trong khi kịch bản phát thải tối đa bao gồm các giá trị  
SOC, pH và mật độ cao nhất và giá trị nhỏ nhất của hàm lượng sét  
2.3.6. Phương pháp xử lý thống kê  
Số liệu điều tra và thí nghiệm được xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS (Statistical  
Package for Social Science – Ver.19) và Statistic 9.0. Đồ thị được vẽ theo phần mềm Excel.  
2.4. Đặc điểm tự nhiên và sản xuất lúa vùng nghiên cứu:  
2.4.1. Đặc điểm về tự nhiên  
2.4.1.1. Địa hình, địa mạo  
Địa hình Quảng Nam đa dạng, có đầy đủ các dạng địa hình: đồi núi, vùng bán sơn địa  
và đồng bằng ven biển.  
2.4.1.2. Khí hậu và thủy văn  
Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa khu vực Nam Trung bộ,  
nóng ẩm, mưa nhiều và mưa theo mùa, chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh.  
7
2.4.1.3. Tài nguyên đất  
Quảng Nam có 10 nhóm đất chính: Nhóm đất đỏ vàng: chiếm 76,31% tổng diện tích  
tự nhiên, còn lại là các nhóm khác (đất mùn vàng đỏ trên núi, Nhóm đất phù sa, Nhóm đất  
cát, Đất dốc tụ; Nhóm đất xám bạc màu; Nhóm đất phèn…)  
2.4.2. Đặc điểm hiện trạng sản xuất lúa  
2.4.2.1. Đất sản xuất lúa:  
Quảng Nam có tổng diện tích đất lúa là 56.409 ha, trong đó có 41.160 ha đất chuyên  
lúa nước (lúa-lúa), 7.124 ha đất trồng lúa nương và 8.125 ha đất trồng lúa khác (lúa-cây  
màu). Đất trồng lúa nước chiếm 87,46% tổng diện tích đất trồng lúa phân bố tập trung chủ  
yếu ở các huyện đồng bằng, vùng trung du chủ động nước tưới  
2.4.2.2. Đặc điểm về canh tác lúa ở Quảng Nam  
a. Thời vụ: Từ năm 2001, Quảng Nam chuyển từ 3 vụ lúa sang 2 vụ lúa. Nng dân được  
khuyến khích trồng các giống lúa ngắn hạn vào vụ hè thu với thời gian ngắn hơn 105 ngày  
để thu hoạch vụ hè thu trước ngày 15 tháng 9 để tránh mùa lũ.  
b. Phân bón: Các loại phân vô cơ được sử dụng phổ biến tại Quảng Nam là đạm urê, lân  
super, DAP, KCl, và phân hỗn hợp NPK 5-10-3, 20-20-15, và 16-16-8.  
c. Quản lý rơm rạ sau thu hoạch: Nông dân Quảng Nam hiện đang sử dụng rơm rạ sau thu  
hoạch theo một số cách chính như sau: (1) đốt trên ruộng, (2) để tự phân hủy và cày vùi vào  
đất và (3) dùng để chăn nuôi gia súc/độn chuồng, (4) sử dụng đun nấu, ủ phân compost,  
hoặc trồng nấm.  
d. Giống lúa: Các giống lúa được trồng phổ biến ở Quảng Nam là Xi23, Xiec13.2 (giống  
dài ngày tăng trưởng), QN1, VL20, Nhi Uu 838, TBR1 (giống trung ngày) và HT1, Q5,  
GL102, IR325 (giống ngắn ngày)...  
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Kiểm định khả năng áp dụng mô hình DNDC  
3.1.1. Khả năng áp dụng mô hình DNDC ước lượng phát thải khí CH4  
Khi áp dụng chế tưới ướt khô xen kẽ có tiềm năng giảm phát thải CH4 lớn hơn (15-  
45%) nhưng làm tăng phát thải N2O (12-32%) so với biện pháp tưới ngập truyền thống.  
Cường độ phát thải và tổng phát thải/vụ của CH4 và N2O ở vụ HT cao hơn ở vụ ĐX từ 9-  
35%. Các công thức sử dụng mức phân bón khuyến cáo phát thải CH4 và N2O nhiều hơn  
mức phân bón của nông dân từ 9-22%. Cường độ phát thải CH4 cao nhất thường xuất hiện  
vào giai đoạn từ khi lúa đẻ nhánh tối đa đến kết thúc phân hóa đòng, khoảng 45-60 ngày sau  
khi cấy, trong cường độ phát thải N2O khá biến động, trong khoảng thời gian kéo dài (từ 25-  
85 ngày sau gieo).  
Công thức áp dụng biện pháp tưới tiết kiệm (234-460 kg CH4/ha/vụ) sẽ giúp giảm  
15-45% (p<0,05) khí CH4 so với công thức áp dụng chế độ tưới ngập thường xuyên (234-  
8
698 kgC/ha/vụ). Trong cùng một chế độ tưới, bón theo mức khuyến cáo tạo ra tổng lượng  
phát thải cao hơn 9-18% (ở vụ ĐX) và 12-22% (ở vụ HT) so với mức bón theo nông dân.  
Hệ số tương quan (R2) giữa giá trị CH4 ước lượng và đo đạc là khá cao (dao động  
0,91-0,97 ở điểm 1 và 0,92-0,98 ở điểm 2). Đáng chú ý, hệ số tương quan của 2 nhóm số  
liệu (ước lượng và đo đạc) của các công thức trong vụ đông xuân (0,91-0,97) thấp hơn vụ hè  
thu (>0,97). Giá trị sai số tiêu chuẩn trung bình (RMSE) ở các công thức của hai điểm thí  
nghiệm đều nhỏ (dao động từ 0,16-0,23) cho thấy độ chính xác của kết quả/giá trị ước lượng  
so với kết quả quan trắc/đo đạc trên thực tế tương đối cao. Ngoài ra, hệ số hiệu quả/phù hợp  
(EF) của mô hình trong ước lượng CH4 đạt khá cao, từ 0,78-0,85.  
Bảng 3.3: Phân tích thống kê so sánh mức độ tương quan giữa giá trị phát thải CH4 ước  
lượng bằng mô hình và đo đạc tại các điểm nghiên cứu  
Vụ  
Điểm  
Công thức  
TN-MB1  
TN-MB2  
TTK-MB1  
TTK-MB2  
TN-MB1  
TN-MB2  
TTK-MB1  
TTK-MB2  
TN-MB1  
TN-MB2  
TTK-MB1  
TTK-MB2  
TN-MB1  
TN-MB2  
TTK-MB1  
TTK-MB2  
Số mẫu  
13  
RMSE  
EF  
0,199  
0,211  
0,225  
0,203  
0,218  
0,219  
0,230  
0,202  
0,181  
0,193  
0,179  
0,183  
0,209  
0,219  
0,190  
0,196  
0,861  
0,845  
0,832  
0,852  
0,841  
0,841  
0,828  
0,853  
0,889  
0,879  
0,891  
0,889  
0,881  
0,843  
0,885  
0,880  
13  
Điểm 1  
13  
Đông  
Xuân  
2012  
13  
13  
13  
Điểm 2  
Điểm 1  
Điểm 2  
13  
13  
12  
12  
12  
12  
12  
12  
12  
12  
Hè Thu  
2012  
3.1.2. Khả năng áp dụng mô hình DNDC ước lượng phát thải khí N2O  
Các giá trị phát thải lớn nhất đo được ở các công thức áp dụng chế độ tưới ướt khô  
xen kẽ (0,036 mgN2O/m2/giờ ở điểm 1 và 0,039 mgN2O/m2/giờ ở điểm 2) cao hơn (có ý  
nghĩa ở p<0,1) các công thức áp dụng chế độ tưới ngập (0,025 mgN2O/m2/giờ ở điểm 1 và  
0,030 mgN2O/m2/giờ ở điểm 2). Lượng khí N2O thu được ở chế độ tưới ngập thường xuyên  
luôn thấp nhất. Cường độ phát thải N2O ở cả hai chế độ tưới trong vụ hè thu cao hơn vụ  
đông xuân. Giá trị trung bình dao động 0,014-0,024 mgN2O/m2/giờ ở vụ hè thu và 0,015-  
0,018 mgN2O/m2/giờ ở vụ đông xuân. Cường độ phát thải khí N2O khá biến động và mạnh  
nhất từ giai đoạn lúa đẻ nhánh rộ (30 ngày sau gieo) cho đến khi chắc xanh (80-85 ngày sau  
9
gieo) thậm chí đến trước thu hoạch. Chính vì vậy, tổng lượng phát thải trong giai đoạn 25-  
85 ngày sau gieo chiếm trên 80-90% tổng lượng phát thải N2O.  
Bảng 3.7: Phân tích thống kê so sánh mức độ tương quan giữa giá trị phát thải N2O ước  
lượng bằng mô hình và đo đạc tại các điểm nghiên cứu  
Vụ  
Điểm  
Công thức  
TN-MB1  
TN-MB2  
TTK-MB1  
TTK-MB2  
TN-MB1  
TN-MB2  
TTK-MB1  
TTK-MB2  
TN-MB1  
TN-MB2  
TTK-MB1  
TTK-MB2  
TN-MB1  
TN-MB2  
TTK-MB1  
TTK-MB2  
Số mẫu  
13  
RMSE  
0,192  
EF  
0,727  
13  
0,189  
0,201  
0,712  
0,760  
Điểm 1  
13  
Đông  
Xuân  
2012  
13  
0,198  
0,215  
0,745  
0,812  
13  
13  
0,208  
0,188  
0,780  
0,711  
Điểm 2  
Điểm 1  
Điểm 2  
13  
13  
0,189  
0,197  
0,713  
0,744  
12  
12  
12  
12  
12  
12  
12  
12  
0,206  
0,203  
0,789  
0,768  
Hè Thu  
2012  
0,211  
0,208  
0,783  
0,786  
0,198  
0,207  
0,750  
0,783  
0,192  
0,726  
Sự tương quan chặt giữa giữa số liệu ước lượng và đo đạc ở cả hai điểm thí nghiệm  
hệ số hồi quy tuyến tính R2 dao động từ 0,84-0,93 đối với chế độ tưới ngập và từ 0,86-0,92  
đối với chế độ tưới tiết kiệm. Giá trị sai số tiêu chuẩn trung bình (RMSE) ở các công thức  
của hai điểm thí nghiệm đều nhỏ (dao động từ 0,16-0,22) cho thấy độ chính xác của kết  
quả/giá trị ước lượng so với kết quả quan trắc/đo đạc trên thực tế tương đối cao. Ngoài ra,  
hệ số hiệu quả/phù hợp (EF) của mô hình trong ước lượng N2O tuy thấp hơn ước lượng CH4  
nhưng vẫn đạt khá cao, từ 0,72-0,81. Như vậy, mặc dù vẫn còn tồn tại sự sai khác giữa kết  
quả ước lượng và đo đạc ở một số trường hợp, nhưng thông số thống kê và phân tích cho  
thấy rằng mô hình DNDC hoàn toàn phù hợp cho ước lượng N2O từ các hệ canh tác HCT có  
lúa ở lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn.  
3.1.3. Đánh giá độ nhạy cảm của các yếu đầu vào đối với ước lượng phát thải CH4 và  
N2O  
Phân tích độ nhạy của mô hình là kiểm tra hiệu năng của mô hình khi các đầu vào khác  
nhau được thay đổi, nhằm xác định các thông số đầu nhạy cảm nhất, mức độ ảnh hưởng đến  
lượng phát thải dự đoán sẽ được sử dụng để định lượng và/hoặc giảm mức độ không chắc  
chắn trong các dự đoán phát thải của mô hình, phát sinh từ sai số trong các tham số đầu vào  
10  
3.1.3.1. Độ nhạy cảm của các yếu đầu vào đối với ước lượng phát thải khí CH4  
Hình 3.51: Đánh giá độ nhạy của các yếu tố đầu vào với ước lượng phát thải CH4  
Nhiệt độ tăng và giảm từ 1 đến 2oC so với giá trị nền (năm 2011). Kết quả mô phỏng  
chỉ ra rằng sự thay đổi lượng mưa không cho thấy sự thay đổi đáng kể đến phát thải CH4.  
Hàm lượng SOC là yếu tố nhạy cảm thứ hai đối với sự phát thải CH4 do ảnh hưởng  
của SOC đối với hàm lượng cacbon hữu cơ hòa tan trong đất (DOC) cũng như mật độ vi  
khuẩn mêtan: Khi tăng hàm lượng SOC nền (1%) lên mức 1,6% đến 2,1% thì lượng phát  
thải CH4 tăng lần lượt là 15 và 28%.  
Trong số những biện pháp canh tác lúa, chế độ tưới, bón phân hữu cơ và tỷ lệ rơm rạ  
cày vùi vào đất là ba hoạt động chủ yếu của con người có tác động đáng kể đến lượng khí  
thải CH4 theo mùa. Kết quả chạy kiểm tra độ nhạy cho thấy phát thải CH4 đã giảm 20% và  
35% khi số lần thoát nước trong giai đoạn giữa vụ tăng từ 1 đến 2 và 3 lần. Nhìn chung,  
nhiệt độ, thành phần cơ giới, lượng SOC trong đất, chế độ quản lý nước, mức phân hữu cơ  
(phân chuồng) là yếu tố chính tác động lớn đến phát thải CH4.  
3.1.3.2. Độ nhạy cảm của các yếu đầu vào đối với ước lượng phát thải khí N2O  
Khi lượng mưa tăng ở mức 10 và 20% sẽ làm giảm phát thải N2O ở mức 8 và 16 %  
do lượng mưa tăng lên có xu hướng làm tăng thời gian của điều kiện đất kị khí và sau đó tỷ  
lệ phản ứng khử nitơ càng lớn. Khi nhiệt độ tăng hay giảm mức 1 và 2oC thì lượng phát thải  
N2O tăng hoạch giảm tương ứng 15%.  
11  
Hình 3.62: Đánh giá độ nhạy của các yếu tố đầu vào với ước lượng phát thải N2O  
Hàm lượng SOC có tác động lớn nhất đến phát thải N2O. Tương tự như với phát thải  
CH4, hàm lượng SOC là yếu tố rất nhạy cảm đối với sự phát thải N2O : Khi tăng hàm lượng  
SOC ban đầu (1%) lên mức 1,6% đến 2,1% thì mức phát thải N2O tăng lần lượt là 12% và  
25%. Tăng hoặc giảm lượng phân N vào đất mức 25% và 50% so với mức nền (120  
kgN/ha) sẽ làm tăng hoặc giảm phát thải N2O ở mức tương ứng là 15% và 25%. Phát thải  
N2O tăng 14%, 25% và 42% khi thoát nước 1, 2 và 3 lần giữa vụ. Sự thay đổi tỉ lệ rơm rạ để  
lại trên ruộng (cày vùi vào đất) cho thấy ảnh hưởng ngược đến phát thải N2O dù ở mức  
thấp: ở mỗi mức tăng 20% tỷ lệ rơm rạ cày vùi vào đất thì lượng N2O phát thải giảm trung  
bình 8%. Nhìn chung, nhiệt độ, lượng SOC trong đất, chế độ quản lý nước, mức phân  
khoáng N, phân hữu cơ là yếu tố chính tác động lớn đến phát thải N2O.  
3.1.3.3. Hạn chế trong đánh giá độ nhạy mô hình DNDC  
Mô hình DNDC đã được áp dụng cho nhiều nghiên cứu đánh giá lượng phát thải  
CH4, N2O và các khí khác từ các hệ sinh thái nông nghiệp, ở nhiều khu vực khác nhau trên  
thế giới. Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình ở vùng nhiệt đới ẩm chưa nhiều và có tính hệ  
thống. Kết quả đánh giá độ nhạy trong nghiên cứu này cho thấy mức độ phù hợp khi áp  
dụng mô hình DNDC ước lượng phát thải KNK ở các hệ canh tác có lúa vùng nhiệt đới.  
12  
3.2. Ứng dụng mô hình DNDC trong ƣớc lƣợng phát thải CH4 và N2O quy mô vùng  
3.2.1. Ước lượng phát thải CH4 và N2O quy mô vùng  
3.2.1.1. Chế độ tưới và phát thải CH4 và N2O  
Bảng 3.10: Mức phát thải CH4 ở các chế độ tưới khác nhau  
Vụ  
Mức phát thải CH4 (kgC/ha)  
1RN 2RN  
TN  
3RN (TTK)  
112 (±11,3)  
139 (±15,3)  
292 (±18,6)  
173 (±16,3)  
218 (±23,6)  
451 (±53,8)  
139 (±12,6) 128 (±14,8)  
181 (±18,1) 163 (±18,2)  
371 (±37,8) 337 (±25,9)  
ĐX  
HT  
ĐX-HT  
Hệ canh tác lúa-lúa có mức phát thải CH4 cao nhất đạt mức 451 kgC/ha/năm ở chế độ  
tưới ngập (TN). Mức phát thải giảm xuống còn 371, 337 và 292 kgC/ha/năm khi áp dụng  
chế độ tưới 1 lần rút nước giữa vụ (1RN), 2 lần rút nước giữa vụ (2RN) và 3 lần rút nước  
giữa vụ (3RN, hay tưới ướt khô xen kẽ đầy đủ-TTK). Như vậy, mức phát thải CH4 khi áp  
dụng chế độ tưới 1RN giảm 17%, 2RN giảm 26%, 3RN giảm 42% so với TN.  
Bảng 3.11: Mức phát thải N2O ở các chế độ tưới khác nhau  
Vụ  
Mức phát thải N2O (kgN/ha)  
TN  
1RN  
2RN  
3RN (TTK)  
1,09 (±0,18)  
1,32 (±0,20)  
3,45 (±0,56)  
0,72 (±0,12)  
0,95 (±0,12)  
2,61 (±0,32)  
0,80 (±0,12)  
1,09 (±0,10)  
2,84 (±0,48)  
0,88 (±0,15)  
1,19 (±0,14)  
3,07 (±0,59)  
ĐX  
HT  
ĐX-HT  
Khác với phát thải CH4, hệ canh tác lúa-lúa có mức phát thải N2O thấp nhất đạt mức  
2,16 kgN/ha/năm ở chế độ tưới ngập (TN) và tăng lên 2,84, 3,07, 3,45 kgN/ha/năm khi áp  
dụng chế độ tưới 1RN, 2RN và 3RN. Như vậy, mức phát thải N2O khi áp dụng chế độ tưới  
1RN tăng 8%, 2 lần RN tăng 17%, 3 lần RN tăng 32% so với tưới ngập. Cường độ phát thải  
N2O trung bình trong vụ HT cao hơn vụ ĐX nhưng tỷ lệ tăng phát thải (giữa TN với các chế  
độ tưới rút nước) của vụ ĐX lại cao hơn vụ HT.  
3.2.1.2. Loại đất và phát thải CH4 và N2O  
Kết quả chạy mô hình DNDC cho thấy, lượng phát thải CH4 của nhóm đất đất phù sa  
(Fluvisols) dao động từ 87 đến 425 kg CH4/ha/năm (ở các theo chế độ tưới), thấp hơn lượng  
phát thải CH4 từ nhóm đất xám (Acrisols), dao động từ 91-527 kgC/ha/năm.  
Bảng 3.12: Mức phát thải CH4 của các nhóm đất lúa khác nhau  
Chế độ tưới  
Vụ  
Loại đất  
TN  
1RN  
2RN  
3RN  
148 (±16,3) 124 (±17,4) 112 (±15,2)  
91 (±9,5)  
ĐX  
HT  
ĐX-HT  
ĐX  
HT  
Areni- Stagnic  
Acrisol  
177 (±17,2) 144 (±13,6) 135 (±17,1) 117 (±12,6)  
349 (±43,4) 282 (±34,2) 261 (±34,0) 224 (±26,2)  
176 (±18,9) 125 (±13,4) 126 (±18,0) 111 (±11,6)  
221 (±27,5) 185 (±20,5) 165 (±20,1) 142 (±16,3)  
527 (±87,6) 425 (±67,8) 387 (±65,8) 329 (±45,8)  
Hyperdystri-  
Arenic  
Acrisol  
ĐX-HT  
13  
154 (±13,5) 128 (±10,9) 116 (±11,2) 101 (±12,8)  
202 (±18,4) 156 (±11,7) 156 (±15,3) 123 (±12,9)  
425 (±67,2) 348 (±54,1) 316 (±45,9) 269 (±37,9)  
ĐX  
HT  
ĐX-HT  
ĐX  
HT  
ĐX-HT  
ĐX  
HT  
ĐX-HT  
ĐX  
HT  
Dystri- Arenic  
Fluvisol  
172 (±15,6) 134 (±14,2)  
118 (±9,2) 110 (±17,0)  
Eutri- Arenic  
Fluvisol  
204 (±19,0) 166 (±16,3) 154 (±12,3) 129 (±17,7)  
468 (±66,8) 380 (±62,9) 346 (±53,1) 292 (±25,7)  
180 (±17,1)  
148 (±9,9) 126 (±11,6)  
104 (±9,2)  
Areni- Dystric  
Fluvisol  
248 (±32,4) 203 (±31,2) 179 (±24,7) 144 (±12,5)  
408 (±63,6) 339 (±59,3) 297 (±59,1) 265 (±41,7)  
176 (±20,7) 136 (±12,3) 124 (±10,6) 109 (±13,2)  
218 (±25,8) 181 (±18,6) 163 (±12,5) 132 (±16,3)  
431 (±58,9) 352 (±62,1) 320 (±43,7) 271 (±26,5)  
Stagni-  
Dystric  
Fluvisol  
Areni-  
ĐX-HT  
ĐX  
135 (±16,2) 110 (±10,7) 101 (±11,8)  
87 (±9,8)  
169 (±20,3) 143 (±11,3) 126 (±15,2) 107 (±11,8)  
376 (±45,5) 312 (±56,8) 275 (±37,2) 227 (±23,6)  
Thionic  
Fluvisol  
HT  
ĐX-HT  
Trong nhóm đất xám, loại đất Areni-Stagnic Acrisol phát thải thấp hơn nhóm  
Hyperdystri- Arenic Acrisol trong cả vụ ĐX (dao động từ 91-148 kg CH4C/ha so với 111-  
176 kg CH4/ha) và HT (dao động từ 117-177 kg CH4/ha so với 142-221 kg CH4/ha) và trong  
hai vụ (dao động từ 224-349 kg CH4/ha/năm so với 329-527 kg CH4/ha/năm) ở các chế độ  
tưới khác nhau. Trong nhóm đất phù sa, loại đất Dystri- Arenic Fluvisol có lượng phát thải  
CH4 cao nhất (dao động từ 329 kg CH4/ha/năm đến 527 kg CH4/ha/năm) và loại đất Areni-  
Thionic Fluvisol có lượng phát thải CH4 thấp nhất (dao động từ 227 kg CH4/ha/năm đến 376  
kg CH4/ha/năm).  
Tương tự như phát thải CH4, mức phát thải N2O khá biến động ở các nhóm và loại  
đất khác nhau. Kết quả ước lượng từ mô hình DNDC cho thấy, lượng phát thải N2O của  
nhóm đất đất phù sa (Fluvisols) dao động từ 2,36 đến 4,18 kg N2O/ha/năm (ở các chế độ  
tưới khác nhau), cao hơn lượng phát thải CH4 từ nhóm đất xám (Acrisols), dao động từ  
2,32-3,47 kg N2O/ha/năm (ở các chế độ tưới khác nhau).  
Bảng 3.13: Mức phát thải N2O của các nhóm đất lúa khác nhau  
Chế độ tưới  
Vụ  
Loại đất  
TN  
1RN  
2RN  
3RN  
ĐX  
HT  
ĐX-HT  
ĐX  
HT  
ĐX-HT  
ĐX  
HT  
ĐX-HT  
ĐX  
HT  
Areni- Stagnic  
Acrisol  
0,77 (±0,11)  
1,07 (±0,25)  
3,04 (±0,75)  
0,63 (±0,11)  
0,79 (±0,13)  
2,32 (±0,72)  
0,55 (±0,09)  
0,87 (±0,13)  
2,54 (±0,81)  
0,72 (±0,14)  
1,16 (±0,23)  
2,58 (±0,67)  
0,84 (±0,13)  
1,17 (±0,27)  
3,21 (±0,81)  
0,70 (±0,07)  
0,91 (±0,16)  
2,57 (±0,63)  
0,65 (±0,07)  
0,98 (±0,09)  
2,62 (±0,78)  
0,77 (±0,09)  
1,30 (±0,15)  
2,71 (±0,83)  
0,94 (±0,16)  
1,31 (±0,35)  
3,37 (±1,02)  
0,75 (±0,16)  
1,00 (±0,21)  
2,73 (±0,81)  
0,70 (±0,13)  
1,02 (±0,18)  
2,79 (±0,53)  
0,83 (±0,08)  
1,41 (±0,13)  
2,96 (±0,67)  
1,09 (±0,18)  
1,49 (±0,26)  
3,47 (±1,06)  
1,07 (±0,20)  
1,27 (±0,19)  
3,29 (±0,98)  
0,95 (±0,15)  
1,51 (±0,27)  
3,78 (±1,06)  
1,22 (±0,11)  
2,05 (±0,18)  
4,04 (±1,11)  
Hyperdystri- Arenic  
Acrisol  
Dystri- Arenic  
Fluvisol  
Eutri- Arenic  
Fluvisol  
ĐX-HT  
14  
ĐX  
HT  
ĐX-HT  
ĐX  
HT  
ĐX-HT  
ĐX  
HT  
Areni- Dystric  
Fluvisol  
0,68 (±0,09)  
0,86 (±0,11)  
2,36 (±0,59)  
0,66 (±0,08)  
0,78 (±0,07)  
2,52 (±0,63)  
0,76 (±0,08)  
1,00 (±0,09)  
2,41 (±0,68)  
0,77 (±0,09)  
0,97 (±0,11)  
2,68 (±0,76)  
0,75 (±0,08)  
0,85 (±0,08)  
2,81 (±0,81)  
0,85 (±0,11)  
1,19 (±0,16)  
2,73 (±0,86)  
0,84 (±0,11)  
0,99 (±0,18)  
2,81 (±0,79)  
0,79 (±0,09)  
0,92 (±0,09)  
2,97 (±0,81)  
0,92 (±0,11)  
1,26 (±0,16)  
2,95 (±1,01)  
1,14 (±0,16)  
1,50 (±0,20)  
3,89 (±1,02)  
1,12 (±0,17)  
1,36 (±0,19)  
3,68 (±0,86)  
1,17 (±0,09)  
1,54 (±0,27)  
4,18 (±0,98)  
Stagni- Dystric  
Fluvisol  
Areni- Thionic  
Fluvisol  
ĐX-HT  
Trong nhóm đất xám, loại đất Areni-Stagnic Acrisol phát thải N2O cao hơn nhóm  
Hyperdystri- Arenic Acrisol trong cả vụ ĐX (dao động từ 0,77-1,07 kg N2O/ha so với 0,63-  
1,07 kg N2O/ha), HT (dao động từ 1,07-1,49 kg N2O/ha so với 0,79-1,27 kg N2O/ha) và  
trong hai vụ (dao động từ 3,04-3,47 kg N2O/ha so với 2,32-3,29 kg N2O/ha) ở các chế độ  
tưới khác nhau. Trong nhóm đất phù sa, loại đất Eutri- Arenic Fluvisol và Areni- Thionic  
Fluvisol có lượng phát thải N2O cao nhất (dao động từ 2,4 kg N2O/ha/năm đến 4,1  
kgN/ha/năm). Các loại đất phù sa khác có lượng phát thải N2O dao động từ 2,5kg  
N2O/ha/năm đến 3,9 kg N2O/ha/năm.  
Xét theo khía cạnh thời vụ trồng, tất cả các nhóm/loại đất canh tác lúa trong nghiên  
cứu này đều có lượng N2O phát thải (ước lượng bằng mô hình) trong vụ HT cao hơn vụ ĐX  
có ý nghĩa về thống kê. Xu hướng này tương tự như kết quả thực nghiệm trên đồng ruộng.  
3.2.2. Bản đồ cường độ phát thải CH4 và N2O  
4 kịch bản về phương thức tưới như sau:  
(1) Kịch bản nền (đối chứng-TN): Chế độ tưới ngập toàn bộ thời gian canh tác (10 ngày sau  
gieo cho đến 85-90 ngày sau gieo).  
(2) Kịch bản 1 (1RN): Chế độ tưới: áp dụng 1 lần rút nước giữa vụ vào giai đoạn lúa đẻ  
nhánh (25-35 ngày sau gieo).  
(3) Kịch bản 2 (2RN): Chế độ tưới: áp dụng 2 lần rút nước giữa vụ vào giai đoạn lúa đẻ  
nhánh (27-35 ngày sau gieo) và sau đón đòng (50-57 ngày sau gieo).  
(4) Kịch bản 3 (3RN): Chế độ tưới: áp dụng 3 lần rút nước giữa vụ vào giai đoạn lúa đẻ  
nhánh (27-35 ngày sau gieo), sau bón đón đòng (50-57 ngày sau gieo) và ngậm sữa-vào  
chắc (72-80 ngày sau gieo).  
3.3.2.1. Bản đồ cường độ phát thải CH4  
15  
(a) TN  
(b) 1RN  
(c) 2RN  
(d) 3RN  
Hình 3.7 (a, b, c, d)3: Bản đồ phát thải CH4 trong đất lúa ở các chế độ tưới khác nhau  
Ở chế độ TN, mức phát thải CH4 dao động trong khoảng 126 – 558 kg CH4/ha/năm.  
Khu vực trồng lúa phía Tây (thuộc huyện trung du) có mức phát thải CH4 cao, chủ yếu ở  
mức 200-300 và 300-400 kg CH4/ha/năm, chiếm 35% diện tích. Vùng lúa ven biển (phía  
đông các huyện đồng bằng), mức phát thải CH4 thấp hơn chủ yếu ở mức 100 – 200 kg  
CH4/ha/năm và <100 kg CH4/ha/năm, chiếm 65% diện tích. Mức phát thải trung bình của  
toàn vực là 265 kg CH4/ha, cao hơn giá trị phát thải mặc định là 200 kg CH4/ha/mùa (Tier 1)  
đề xuất bởi IPCC (IPCC, 2001).  
Mức phát thải CH4 ở kịch bản 1RN của toàn lưu vực dao động trung bình là 215 kg  
CH4/ha, tương đương giá trị phát thải mặc định của IPCC theo Tier 1. Khu vực có mức phát  
thải CH4 là 200-300 và 300-400 kg CH4/ha/năm chỉ chiếm 22% diện tích đất đất lúa. Phần  
diện tích còn lại có mức phát thải 100 – 200 kgC/ha/năm và <100 kg CH4/ha/năm. Mức phát  
thải CH4 ở kịch bản 2RN và 3 RN dao động từ 82-423 kg CH4/ha/năm, trung bình lần lượt  
là 194 và 165 kg CH4/ha, thấp hơn giá trị phát thải mặc định của IPCC theo Tier 1 và thấp  
nhất trong các kịch bản. Trên 90% diện tích có mức phát thải CH4 từ 100 – 200 kg  
CH4/ha/năm và <100 kg CH4/ha/năm.  
16  
3.3.2.2. Bản đồ cường độ phát thải N2O  
(a) TN  
(b) 1RN  
(c) 2RN  
(d) 3RN  
Hình 3.8 (a, b, c, d): Bản đồ phát thải N2O trong đất lúa ở chế độ tưới khác nhau.  
Ở kịch bản nền chế độ TN, mức phát thải N2O dao động trong khoảng 0,52 – 3,11  
kgN/ha/năm, mức phát thải trung bình của toàn vực là 1,38 kg N2O/ha. Khu vực trồng lúa  
phía Tây có mức phát thải N2O cao hơn, chủ yếu ở mức 1,0-1,5 kg N2O/ha/năm, chiếm 61%  
diện tích. Vùng lúa gần biển (phía đông các huyện đồng bằng), mức phát thải N2O thấp hơn  
chủ yếu ở mức 0,5-1,0 kg N2O/ha/năm và <0,5 kg N2O/ha/năm, chiếm 39% diện tích.  
Mức phát thải N2O ở kịch bản 1RN của toàn lưu vực dao động từ 0,57-3,29 kg  
N2O/ha/năm, trung bình là 1,53 kg N2O/ha. Mức phát thải N2O ở kịch bản 2RN và 3 RN  
dao động từ 0,6-4,39 kg N2O/ha/năm, trung bình lần lượt là 1,63 và 2,13 kg N2O/ha, cao  
nhất trong các kịch bản.  
3.2.3. Bản đồ tổng lượng phát thải CH4, N2O và GWP  
3.2.3.1. Bản đồ tổng lượng phát thải CH4  
Bảng 3.14: Tổng lượng phát thải khí CH4 từ canh tác lúa  
Huyện  
Diện  
tích đất  
lúa (ha)  
Tổng phát thải khí CH4  
(1000 tấn CH4/năm)  
Lượng phát thải CH4 thay đổi  
do thay đổi chế độ tưới  
TN  
1RN  
(1000  
(1000 tấn  
17  
Mina Maxb Mina  
5400 0,77 0,64  
Maxb  
2,39  
1,00  
0,37  
5,11  
3,42  
6,52  
3,39  
3,98  
2,94  
3,30  
0,99  
1,72  
0,93  
0,79  
0,86  
1,11  
0,57  
0,66  
0,92  
tấnC/năm) CO2tđ /năm)  
-6,28  
Hòa Vang  
Tam Kỳ  
Hội An  
Điện Bàn  
Duy Xuyen  
Thăng Bình  
Quế Sơn  
3,01  
1,26  
0,46  
6,44  
4,31  
8,21  
4,27  
5,01  
3,71  
4,15  
1,25  
2,16  
1,18  
0,99  
1,09  
1,40  
0,72  
0,83  
1,16  
-0,251  
-0,105  
-0,038  
-0,537  
-0,359  
-0,684  
-0,356  
-0,417  
-0,309  
-0,346  
-0,104  
-0,180  
-0,098  
-0,083  
-0,090  
-0,116  
-0,060  
-0,069  
-0,097  
-4,301  
2260 0,32  
827 0,12  
0,27  
0,10  
1,37  
0,91  
1,74  
0,91  
1,06  
0,79  
0,88  
0,26  
0,46  
0,25  
0,21  
0,23  
0,30  
0,15  
0,18  
0,25  
-2,63  
-0,95  
-13,43  
-8,98  
-17,10  
-8,90  
-10,43  
-7,73  
-8,65  
-2,60  
-4,50  
-2,45  
-2,08  
-2,25  
-2,90  
-1,50  
-1,73  
-2,43  
-107,53  
11539 1,65  
7718 1,10  
14714 2,10  
7660 1,10  
8974 1,28  
6641 0,95  
7445 1,06  
2232 0,32  
3875 0,55  
2109 0,30  
1783 0,25  
1945 0,28  
2503 0,36  
1297 0,19  
1491 0,21  
2077 0,30  
Đại Lộc  
Phú Ninh  
Núi Thành  
Hiệp Đức  
Tiên Phước  
Nông Sơn  
Đông Giang  
Tây Giang  
Nam Giang  
Phước Sơn  
Nam Trà Mi  
Bắc Trà Mi  
Tổng cộng  
Kết quả về tổng lượng phát thải khí CH4 từ canh tác lúa ở các huyện trình bày  
trong bảng 3.14 cho thấy: cho hệ thống canh tác lúa nước ở đây. Khi chuyển sang chế độ  
tưới rút nước giữa vụ, tổng lượng phát thải khí CH4 toàn lưu vực sẽ giảm hơn 4.300 tấn  
CH4/năm (tương đương 107.530 tấn CO2tđ/năm tương đương), mang lai lợi ích về môi  
trường rất lớn.  
(a) CH4-TN  
(b) CH4-1RN  
Hình 3.9 (a, b): Bản đồ tổng mức phát thải CH4 dưới hai chế độ tưới  
Khu vực có lượng phát thải khí CH4 từ canh tác lúa lớn là các huyện Điện Bàn, Duy  
Xuyên, Thăng Bình, Đại Lộc, Phú Ninh (có giá trị trung bình của tổng lượng phát thải CH4  
từ canh tác lúa > 2,000 tấn CH4/năm), nơi diện tích đất lúa lớn và đất lúa có hàm lượng SOC  
18  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 28 trang yennguyen 16000 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Dự thảo tóm tắt luận án Nghiên cứu mô phỏng sự phát thải khí nhà kính (CH₄, N₂O) trong môi trường đất lúa lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_nghien_cuu_mo_phong_su_phat_thai_khi_nha_kin.pdf