Luận văn Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá nhân tại thành phố Tân An

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
------------------  
NGUYỄN NGỌC MINH SANG  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI  
TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN  
TẠI THÀNH PHỐ TÂN AN  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016  
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
-----------------  
NGUYỄN NGỌC MINH SANG  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI  
TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN  
TẠI THÀNH PHỐ TÂN AN  
Chuyên ngành  
Mã số  
:
:
Quản lý công  
60340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. Diệp Gia Luật  
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016  
LỜI CAM ĐOAN  
----------------  
Tôi cam đoan rằng Luận văn "Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ  
thuế thu nhập cá nhân tại Thành phố Tân An" là công trình nghiên cứu do chính tôi  
thực hiện.  
Các số liệu, tài liệu sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn hợp pháp, trung  
thực, được Tác giả thu thập qua phỏng vấn và điều tra trực tiếp tại Thành Phố Tân  
An từ tháng 7 năm 2015 đến tháng 12 năm 2015.  
Người thực hiện đề tài  
Nguyễn Ngọc Minh Sang  
MỤC LỤC  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
Nguyên chữ  
Viết tắt  
CT……………………………... Cục Thuế  
EFA……………………….Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor  
Anlalysis)  
MST…………………………… Mã số thuế  
NNT…………………………… Người nộp thuế  
NSNN.........................................Ngân sách nhà nước  
TNCN.........................................Thu nhập cá nhân  
TPTA………………………….Thành phố Tân An  
UBND………………………… Ủy ban nhân dân  
VPHC………………………… Vi phạm hành chính  
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU  
I. HÌNH VẼ-BIỂU ĐỒ  
II. BẢNG BIỂU  
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU  
1.1. Lý do chọn đề tài  
Kể từ lúc xuất hiện lần đầu tiên tại Anh vào năm 1799, thuế Thu nhập cá  
nhân đã có những bước phát triển vững chắc và ngày nay trở thành sắc thuế quan  
trọng, giữ vị trí trung tâm trong hệ thống thuế tại nhiều quốc gia trên thế giới. Và  
điều này là không ngoại lệ với nước ta. Đặc biệt là trong bối cảnh khi ta đã chính  
thức gia nhập WTO (2007) thì vai trò của nó ngày càng thể hiện rõ rệt. Việt Nam  
qua thời gian 18 năm thực hiện Pháp lệnh thuế thu nhập cao đã mang lại những kết  
quả khả quan nhưng mức huy động nguồn thu còn rất hạn chế và chiếm tỷ trọng  
thấp trong tổng cơ cấu nguồn thu từ thuế so với các nước khác. Ngày 20/11/2007,  
tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hoà Xã Hội chủ Nghĩa Việt Nam Khoá XII  
đã thông qua Luật thuế Thu nhập cá nhân. Luật này bắt đầu có hiệu lực từ ngày  
01/01/2009 nhằm khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh thuế thu nhập cao.  
Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) ra đời nhằm đảm bảo các mục tiêu và quan  
điểm: Thứ nhất, đảm bảo tính công bằng trong điều tiết thu nhập của các tầng lớp  
dân cư, góp phần hạn chế khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong  
xã hội. Thứ hai, đảm bảo động viên một cách hợp lý thu nhập dân cư, khuyến khích  
mọi cá nhân ra sức lao động, sản xuất kinh doanh, gia tăng thu nhập làm giàu chính  
đáng. Thứ ba, việc ban hành và áp dụng thuế Thu nhập cá nhân có tính đến những  
bước đi phù hợp với tình hình nước ta và thông lệ quốc tế; kế thừa có chọn lọc  
những quy định trong chính sách hiện hành. Thứ tư, góp phần cải cách cơ cấu  
nguồn thu ngân sách, đảm bảo tính cân đối, ổn định lâu dài. Theo lý thuyết kinh tế  
học về thuế thì ba nguyên tắc chính thiết kế một sắc thuế là: tính công bằng, tính  
hiệu quả, tính khả thi về mặt quản lý, (Quốc hội, 2007). Trong hệ thống thuế, thuế  
Thu nhập cá nhân liên quan trực tiếp đến con người thực hiện. Đây vừa là đối tượng  
thực thi nghĩa vụ thuế, vừa là chủ thể của xã hội. Vì vậy tương tác giữa cơ quan  
quản lý thuế với hàng triệu người nộp thuế phải bình đꢀng, khách quan và tôn trọng  
lẫn nhau, vừa tránh làm thiệt hại đến người nộp thuế có trách nhiệm vừa kiểm soát  
nghiêm ngặt những nguy cơ dẫn đến hành vi không tuân thủ Luật thuế Thu nhập cá  
   
2
nhân (Cục Thuế Tỉnh Long An, 2012). Từ năm 2012, Chi cục Thuế thành phố Tân  
An đã chuyển từ quản lý thuế Thu nhập cá nhân từ hộ khoán sang hộ kê khai đối với  
hộ kinh doanh cho thuê nhà. Với mong muốn tìm hiểu kỹ hơn về các nhân tố ảnh  
hưởng tính tuân thuế Thu nhập cá nhân đối với hộ kinh doanh cho thuê nhà nên em  
chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế Thu nhập cá  
nhân tại thành phố Tân An” làm đề tài nghiên cứu của mình. Đề tài này nghiên  
cứu những nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế gồm nhân tố từ môi trường  
kinh tế - xã hội, từ phía cơ quan thuế và từ phía người nộp, sau đó gợi ý giải pháp  
mà cơ quan thuế cần phải làm để khuyến khích người nộp thuế tuân thủ hiệu quả.  
Với mục tiêu tìm hiểu rõ vấn đề, qua đó tìm ra những phương pháp, cách thức giải  
quyết những mặt kém còn tồn tại, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của bản  
thân, gia đình và xã hội về việc tuân thủ chấp hành nộp thuế thu nhập cá nhân.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
1.2.1. Mục tiêu chung  
Đề tài này nghiên cứu những nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế Thu  
nhập cá nhân đối với hộ kinh doanh cho thuê nhà, sau đó gợi ý giải pháp mà cơ  
quan thuế cần phải làm để khuyến khích người nộp thuế tuân thủ hiệu quả.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
Để đạt được mục tiêu trên, nghiên cứu đề ra các mục tiêu cụ thể cần đạt được  
như sau:  
- Thiết lập mối quan hệ giữa hiểu biết thuế, nhận thức thuế và tính tuân thủ  
thuế TNCN của các hộ kinh doanh tại khu vực thành phố Tân An; với mục tiêu  
kiểm tra các mối quan hệ giữa hiểu biết thuế và tính tuân thủ thuế, cũng như giữa  
nhận thức thuế và tính tuân thủ của người nộp thuế Thu nhập cá nhân.  
- Xây dựng mô hình và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu nhằm xác định  
các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế Thu nhập cá nhân đối với hộ kinh  
doanh cho thuê nhà;  
- Đề xuất giải pháp nâng cao ý thức trách nhiệm của người nộp thuế về việc  
tuân thủ chấp hành nộp thuế thu nhập cá nhân.  
     
3
1.3. Câu hỏi nghiên cứu  
- Có những nhân tố nào tác động đến tính tuân thủ thuế Thu nhập cá nhân  
của người nộp thuế?  
- Sự hiểu biết về thuế, nhận thức thuế và tính tuân thủ thuế TNCN của các hộ  
kinh doanh tại khu vực thành phố Tân An như thế nào ?  
- Chi cục Thuế thành phố Tân An cần có các giải pháp gì để nâng cao tính  
tuân thủ thuế Thu nhập cá nhân đối với hộ kinh doanh cho thuê nhà tại thành phố  
Tân An trong thời gian tới ?  
1.4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thuế Thu nhập  
cá nhân đối với hộ kinh doanh cho thuê nhà khi chuyển từ hộ khoán sang hộ kê khai  
dưới sự quản lý của Chi cục Thuế thành phố Tân An.  
Phạm vi thu thập dữ liệu: Luận văn chỉ nghiên cứu sự cảm nhận và chấp  
hành về nghĩa vụ nộp thuế đối với đối tượng người nộp thuế TNCN là hộ kinh  
doanh cho thuê nhà trên địa bàn thành phố Tân An.  
- Phạm vi nghiên cứu  
Đối với đối tượng cho thuê nhà có chịu thuế TNCN hiện nay Cục Thuế tỉnh  
Long An phân cấp cho các Chi cục Thuế quản lý thu, do đó tác giả không thể  
nghiên cứu Thuế TNCN đối với hộ kinh doanh cho thuê nhà trên địa bàn toàn tỉnh  
được. Thành phố Tân An là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa… của tỉnh. Trong  
những năm gần đây, số lượng cá nhân chịu thuế TNCN từ việc cho các Doanh  
nghiệp, tổ chức tín dụng, cá nhân thuê nhà đã tăng lên rất nhanh, đến năm 2015  
thành phố Tân An có 8.231 người chịu thuế, nên tác giả chọn địa bàn thành phố Tân  
An để nghiên cứu cho đề tài của mình.  
1.5. Mô hình nghiên cứu  
Nghiên cứu "Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá  
nhân tại Thành phố Tân An" dựa trên mô hình lý thuyết và đánh giá các nhân tố  
ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế thu nhập trên cơ sở gợi ý hai nhân tố ảnh hưởng  
trong tài liệu nghiên cứu được thực hiện bởi Trường Đại học Makerere, với đề tài  
     
4
Tax Knowledge, Perceived Tax fairness and Tax Compliance tại Uganda năm 2008;  
kết hợp với những đặc thù riêng của tính tuân thủ thuế Thu nhập cá nhân của hộ  
kinh doanh cho thuê nhà để xây dựng nên mô hình lý thuyết và thang đo tính tuân  
thủ thuế thu nhập cá nhân thông qua hai phương pháp nghiên cứu định tính và định  
lượng. Tiếp sau đó công cụ hệ số tin cậy Cronbach - Alpha được sử dụng để đánh  
giá độ tin cậy của thang đo và phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA được  
thực hiện để điều chỉnh mô hình lý thuyết. Trên cơ sở mô hình lý thuyết đã điều  
chỉnh, tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy bội nhằm xác định mức độ  
ảnh hưởng của từng nhân tố trong mô hình đến tính tuân thủ thuế thu nhập cá nhân  
đối với hộ kinh doanh cho thuê nhà kê khai tại Chi cục Thuế Thành Phố Tân An.  
Theo kết quả nghiên cứu này có bằng chứng cho thấy tính tuân thủ thuế thu nhập cá  
nhân đối với hộ kinh doanh cho thuê nhà chịu tác động bởi 3 nhân tố với 9 biến  
quan sát như sau: (1) Hiểu biết thuế; (2) Nhận thức về tính công bằng; (3) Thu nhập  
người nộp thuế. Trong đó, hai thành phần đầu tiên có ý nghĩa quan trọng và ảnh  
hưởng lớn đến tính tuân thủ thuế thu nhập của người nộp thuế. Tuy nhiên, theo kết  
quả đánh giá thì tính tuân thủ thuế là trên mức trung bình. Điều này đòi hỏi cơ quan  
thuế cần phải nổ lực hơn nữa trong tuyên truyền, hướng dẫn chính sách thuế cho  
người nộp thuế nói chung và việc nộp thuế thu nhập cá nhân nói riêng thông qua  
nhiều hình thức. Và trong luận văn tác giả đã nêu ra các giải pháp, kiến nghị theo  
từng nhân tố nhằm hướng đến mục tiêu nâng cao tối đa tính tuân thủ của người nộp  
thuế.  
Ý tưởng của mô hình này là phát triển từ một bài đánh giá về các nghiên cứu  
hiện nay về các biến nhân tố. Nó thu hút rất nhiều nghiên cứu của các tác giả như  
Chung (2002); Eriksen và Fallan (1996); Harris và Associates (1988); Jackson và  
Milliron (1986). Bài nghiên cứu giải thích tính tuân thủ của người nộp thuế (biến  
Phụ thuộc) được quyết định đáng kể bởi hiểu biết người nộp thuế về hệ thống thuế  
và nhận thức của họ về sự công bằng thuế (biến độc lập). Hơn nữa, nó còn giải thích  
hiểu biết thuế như là một yếu tố xác định nhận thức thuế, được cho rằng sẽ nâng cao  
trình độ về kiến thức tài chính, cải thiện được tính tuân thủ vì có thêm nhiều nhận  
5
thức tích cực về hệ thống thuế nộp thuế về hệ thống thuế, hiểu biết thuế càng nhiều  
thì nhận thức về sự công bằng thuế sẽ được cải thiện.  
Theo như Harris và Associates (1988), có một nhóm người nộp thuế nhưng  
việc kê khai thuế của họ bị tác động chủ yếu do nhận thức về sự công bằng của hệ  
thống thuế.  
Chung (2002) đã giải thích thêm rằng tầm quan trọng về sự tác động của trao  
đổi lợi ích hai bên trong việc kê khai thu nhập, điều này sẽ phụ thuộc vào mức độ  
những NNT nhận thức về tính công bằng, từ đó ảnh hưởng đến những quyết định kê  
khai của họ. Họ khằng định rằng do việc tăng trình độ hiểu biết tài chính nói chung,  
hiểu biết thuế nói riêng mà tính tuân thủ được cải thiện bởi lúc này nhận thức tích  
cực về hệ thống thuế. Tuy nhiên, hiểu biết về trốn thuế tăng lên cũng chính là cơ hội  
cho những phần tử xấu, sẽ tác động ngược chiều đến tính tuân thủ thuế vì nó hổ trợ  
cho việc không tuân thủ những quy định về Thuế ((Jackson & Milliron, 1986).  
(Richardson & Sawyer, 2001). Ngoài ra, Eriksen và Fallan (1996) đã khꢀng định  
rằng có một tác động rất lớn của hiểu biết thuế lên nhận thức về tính công bằng của  
những NNT.  
6
Ý tưởng thực hiện được trình bày như sơ đồ dưới đây:  
Hiểu biết thuế:  
- Chi tiết  
- Tổng quát  
Tính tuân thủ  
- Không cư trú  
- Nợ thuế  
- Thu nhập tính  
thuế  
Nhận thức về thuế  
tính công bằng  
thuế  
- Thời gian nộp  
thuế  
- Công bằng chung  
- Trao đổi lợi ích  
với nhà nước  
- Những điều  
khoản đặc biệt  
- Cấu trúc thuế  
Động cơ và mục tiêu nghiên cứu  
Xây dựng giả thuyết  
nghiên cứu ban đầu  
Tìm khung lý thuyết và lược khảo  
công trình nghiên cứu liên quan  
Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn  
chuyên gia.  
Chọn biến, mô tả chi tiết thuộc tính  
của biến, và xây dựng thang đo.  
Thu thập và xử lý số liệu:  
- Khảo sát;  
- Làm sạch dữ liệu;  
- Mã hóa, nhập dữ liệu.  
Điều chỉnh giả thuyết  
Kiểm định giả thuyết  
Phân tích số liệu và diễn giải  
- Thống kê mô tả;  
- Phân tích nhân tố khám phá;  
- Phân tích hồi quy;  
- Phân tích khác.  
Kiến nghị từ kết quả nghiên cứu  
Báo cáo nghiên cứu  
7
Hiểu biết thuế - Chi tiết -Tổng quát  
Tính tuân thủ - Không Cư trú -Nợ thuế -Thu nhập tính thuế -Thời gian nộp  
Nhận thức về tính công bằng Thuế - Công bằng chung - Trao đổi lợi ích  
với nhà nước -Những điều khoản đặc biệt -Cấu trúc thuế suất -Tính tư lợi  
(Dựa trên bài đánh giá nghiên cứu bởi các nhà nghiên cứu Chung (2002), Erisksen  
và Fallan (1996), Harris và Associates (1988); Jackson và Milliron (1986))  
1.6. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu được tiến hành thông qua hai phương pháp:  
Phương pháp định tính: Từ mục tiêu ban đầu, dựa trên cơ sở lý thuyết, tài  
liệu nước ngoài, xây dựng nên bản phỏng vấn sơ bộ. Tiếp đến sẽ trao đổi với các  
chuyên gia, thực hiện phỏng vấn sâu cán bộ thuế, phỏng vấn thử một số cá nhân là  
hộ kinh doanh cho thuê nhà lên kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân để điều chỉnh và  
bổ sung thang đo cho hoàn chỉnh. Từ đó, tiến hành khảo sát thu thập dữ liệu sơ cấp  
với mẫu được lấy từ những người nộp thuế tại Chi cục Thuế thành phố Tân An.  
Phương pháp định lượng: Dựa trên kết quả khảo sát bằng phiếu tham dò ý  
kiến cá nhân người nộp thuế là các hộ kinh doanh cho thuê nhà. Thang đo được  
kiểm định bằng hệ số tin cậy Cronbach alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA.  
Cuối cùng, đánh giá sự tuân thủ của tổ chức, cá nhân người nộp thuế thông qua  
chương trình hồi quy. Tất cả các kỹ thuật bằng phần mềm SPSS 20.0  
1.7. Bố cục luận văn  
Gồm 5 chương:  
Chương 1: Phần mở đầu;  
Chương 2: Cơ sở lý luận về tuân thủ thuế Thu nhập cá nhân tại Chi cục  
Thuế  
thành phố Tân An;  
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu;  
Chương 4: Kết quả nghiên cứu;  
Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị  
   
8
CHƯƠNG 2:  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CHI  
CỤC THUẾ THÀNH PHỐ TÂN AN  
2.1. Tổng quan về Thuế Thu nhập cá nhân  
2.1.1. Hệ thống thuế  
Hệ thống thuế ở Việt Nam là một hệ thống thuế gồm khoảng 8 loại thuế và  
khoảng hơn 100 loại phí và lệ phí được quản lý tập trung. Mọi nguồn thu từ thuế và  
lệ phí ở Việt Nam đều do Quốc hội Việt Nam hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt  
ra bằng luật và pháp lệnh, và được thu bởi Tổng cục Thuế Việt Nam thông qua các  
cơ quan thu của nó là các Cục thuế, Chi cục thuế, Phòng thuế, Đội thuế và Tổng cục  
Hải quan Việt Nam thông qua các cơ quan của nó là Cục hải quan, Chi cục hải  
quan, và các cán bộ chuyên môn được ủy quyền khác ở khắp các địa phương trong  
cả nước. Đối với các phí và lệ phí, các cơ quan thu thuộc các bộ, ngành, chính  
quyền địa phương có liên quan được ủy quyền thu.  
2.1.2. Thuế Thu nhập cá nhân  
Định nghĩa  
Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) là loại thuế trực thu, thu vào thu nhập của  
cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định. Đây là loại thuế được áp dụng từ rất  
lâu và phổ biến ở nhiều quốc gia nhằm mục tiêu tập trung thu nhập cho Ngân sách  
nhà nước (NSNN) và thực hiện điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư. Thông  
qua điều tiết một phần thu nhập vào NSNN, những cá nhân có thu nhập cao đã đóng  
góp nhiều hơn những người có thu nhập thấp vào việc trang trải những nhu cầu chi  
tiêu của nhà nước, nhu cầu chi tiêu chung của xã hội; các khoản đóng góp này mang  
lại cho người nghèo những tiện ích phúc lợi mà bản thân họ không lo liệu được.  
Đặc điểm  
Nhìn chung thuế TNCN bao hàm một số đặc điểm sau:  
- Là một loại thuế trực thu nên thuế TNCN luôn tạo cảm giác gánh nặng về  
thuế đối với người chịu thuế. Người chịu thuế khó có thể chuyển gánh nặng về thuế  
       
9
cho người khác. Đây là loại thuế liên quan trực tiếp đến lợi ích của người chịu thuế,  
do đó rất nhạy cảm và dễ bị phản ứng.  
- Do thực hiện vai trò điều tiết công bằng thu nhập giữa các tầng lớp dân cư,  
thuế TNCN thực hiện điều tiết thu nhập theo nguyên tắc phù hợp với khả năng trả  
thuế. Do đó, thuế suất thường được thiết kế theo biểu thuế lũy tiến.  
- Khác hꢀn với thuế gián thu, thuế TNCN là loại thuế có chú trọng đến gia  
cảnh của người chịu thuế thông qua các quy định giảm trừ cho cá nhân người chịu  
thuế thông qua các quy định giảm trừ cho cá nhân người chịu thuế và những người  
phụ thuộc. Các quy định giảm trừ góp phần cho thuế TNCN thực hiện nguyên tắc  
công bằng theo chiều dọc trong điều tiết thu nhập của người dân. Mặt khác còn tạo  
sự đồng thuận của xã hội nói chung khi áp dụng luật thuế.  
- Đối tượng chịu thuế, thu nhập chịu thuế của thuế TNCN rất đa dạng và  
phức tạp. Ngoài ra, do phải thực hiện mục tiêu điều tiết công bằng thu nhập nên  
thuế TNCN có biểu thuế khá phức tạp. Công tác quản lý thu thuế cũng không đơn  
giản và đòi hỏi nhiều về tính trung thực của người chịu thuế. Từ đó làm chi phí  
hành thu của thuế gia tăng, để giảm bớt chi phí thường áp dụng biện pháp khấu trừ  
thuế tại nguồn chi trả.  
2.1.3. Vai trò  
- Vai trò kinh tế: Góp phần tạo nguồn thu cho NSNN và nhằm điều tiết, định  
hướng sự phát triển kinh tế với sự xuất hiện của cơ chế đánh thuế thu nhập thuế suất  
kép.  
- Vai trò điều tiết xã hội: Luật thuế TNCN phân phối lại của cải, thu nhập  
trong xã hội; việc đánh thuế đối với cá nhân được thiết kế phù hợp với khả năng  
đóng góp và có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế; thuế TNCN  
làm tăng ý thức của công dân trong việc giám sát nguồn chi tiêu ngân sách của Nhà  
nước.  
2.1.4. Một số mặt trái của việc đánh thuế TNCN  
- Thứ nhất: về mặt thủ tục hành chính, việc áp dụng thuế TNCN đòi hỏi  
những thủ tục hành chính khá phức tạp. Thuế TNCN, về bản chất là một sắc thuế có  
   
10  
nội dung khó hiểu, nhất là trong việc xác định khoản thu nhập chịu thuế và các  
khoản chiết trừ gia cảnh.  
- Thứ hai: mặc dù thuế TNCN được xem là công cụ để điều tiết thu nhập, tạo  
ra sự công bằng trong xã hội nhưng vẫn có những lo ngại cho rằng trong quá trình  
xây dựng đạo luật thuế này đòi hỏi phải có nhiều cuộc tranh cãi về mặt chính trị mà  
trong các cuộc tranh luận đó, những người giàu có trong xã hội thường giành được  
những đặc quyền đặc biệt và do vậy sẽ làm giảm tính hiệu quả về tính công bằng  
của việc thu thuế thu nhập và làm tăng các khoản chi phí về lòng tin khi tiến hành  
thu thuế TNCN. Hơn thế nữa, trong việc thu thuế TNCN, người ta thường dựa vào  
thu nhập của đối tượng và đặc tính của đối tượng (ví dụ như người độc thân và  
người có gia đình) để xem xét sự công bằng. Tuy nhiên, điều này sẽ phải đối mặt  
với một khó khăn rất lớn trong việc xác định sự công bằng giữa những người làm  
việc trong các hoạt động kinh tế chính thức và những người làm việc trong các hoạt  
động kinh tế phi chính thức. Ví dụ, một người thanh niên độc thân làm cho công ty  
nhà nước có thể sẽ phải chịu thuế (do thu nhập của anh được thể hiện trên bảng  
lương) còn một người thanh niên độc thân làm việc trong thị trường phi chính thức  
như giúp việc gia đình, tự môi giới nhà đất... có thể không bị đánh thuế do cán bộ  
thuế không biết được thu nhập của anh ta. Sự công bằng không tồn tại trong trường  
hợp này. Trong nền kinh tế phổ biến các hoạt động kinh tế phi chính thức, tình trạng  
này vi phạm đến nguyên tắc công bằng theo chiều ngang. Xét đến nguyên tắc công  
bằng theo chiều dọc, sự vi phạm nguyên tắc công bằng có thể trầm trọng hơn nếu bộ  
máy quản lý và thu thuế có năng lực kém. Khi hệ thống đó không kiểm soát được  
thu nhập thực tế của công dân thì những người thu nhập cao sẽ có cơ hội thuê  
những chuyên gia tư vấn để sắp xếp lại các báo cáo tài chính của mình để trốn thuế.  
Điều này là khó xảy ra hơn đối với những người thu nhập thấp thuộc diện đóng  
thuế. Do vậy, hệ thống quản lý và thu thuế yếu kém sẽ hạn chế tính ưu việt của thuế  
TNCN trong việc xác định sự công bằng theo chiều dọc.  
- Thứ ba: việc thu thuế TNCN có thể làm tăng NSNN nhưng cũng có thể tạo  
ra những tác động làm giảm động lực làm việc và tiết kiệm. Việc phải nộp cho nhà  
11  
nước một phần thu nhập do mình bỏ sức lao động để làm ra sẽ làm cho bản thân  
người nộp thuế cảm thấy lao động bị giảm giá trị (nhất là trong sự so sánh giữa  
người nộp nhiều thuế và nộp ít thuế) dẫn đến người lao động không còn nhiều hứng  
thú trong việc làm việc, tạo ra thu nhập cao. Đồng thời, việc đánh thuế đối với thu  
nhập có được đối với lãi suất trên vốn sẽ có xu hướng làm giảm lượng tiết kiệm  
trong dân chúng và điều này có thể làm ảnh hưởng tới tốc độ phát triển kinh tế của  
đất nước.  
2.1.5. Hộ kinh doanh cho thuê nhà  
Theo quy định trước 01/01/2015, Hộ kinh doanh cho thuê nhà được định  
nghĩa là: Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm  
người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm,  
sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn  
bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Do đó, có thể hiểu cơ bản hộ  
kinh doanh là đối tượng kinh doanh nhỏ, có thể do 1 hoặc nhiều thành viên làm chủ,  
các hoạt động kinh doanh thường là ăn uống, buôn bán nhỏ lẻ, kinh doanh nhà trọ,  
cho thuê mặt bằng, cho thuê xe và các phương tiện vận tải... . Căn cứ theo quy định  
hiện hành thì việc cho thuê cá nhân người Việt Nam, người nước ngoài hay công ty  
(Việt Nam hay nước ngoài) thuê nhà để ở, làm văn phòng.v.v… là một hoạt động  
kinh doanh và phải tiến hành làm thủ tục đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ  
kinh doanh – hộ kinh doanh cho thuê nhà.  
2.2. Nhận thức về thuế  
Sau hơn 10 năm qua, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính, cùng các cơ  
quan chức năng nói chung, ngành Thuế cả nước nói riêng đã và đang nỗ lực thực  
hiện chương trình cải cách, hiện đại hoá hệ thống thuế Việt Nam theo mục tiêu  
hướng tới xây dựng chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, thực  
sự là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực, phù hợp  
với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN:“Đóng thuế là nghĩa vụ của mọi  
công dân, ai có thu nhập người đó phải đóng thuế”. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 95 trang yennguyen 10680 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá nhân tại thành phố Tân An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_cac_nhan_to_anh_huong_den_hanh_vi_tuan_thu_thue_thu.pdf