Luận văn Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi

LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn  
toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.  
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.  
Học viên  
Phan Thị Sa  
MỤC LỤC  
Mꢀ ĐꢁU ....................................................................................................................1  
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN  
CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ .......8  
1.1. Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự..........8  
1.2. Nội dung, quy trình thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn xét  
xử sơ thꢀm vụ án hình sự ..........................................................................................18  
1.3. Những yếu tố đảm bảo thực hành quyền công tố của VKSND trong giai  
đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự............................................................................25  
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG  
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM  
SÁT NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI ...........................31  
2.1. Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự của  
VKSND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi ...............................................................31  
2.2. Những kết quả đạt được của công tác thực hành quyền công tố trong giai  
đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự của VKSND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng  
Ngãi...........................................................................................................................35  
2.3. Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế............................................................44  
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC  
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ  
THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH  
QUẢNG NGÃI ........................................................................................................52  
3.1. Quan điểm tăng cường công tác thực hành quyền công tố của VKSND  
huyện Mộ Đức trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự..................................52  
3.2. Các giải pháp tăng cường công tác hành quyền công tố của VKSND huyện  
Mộ Đức trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự thời gian tới........................57  
KꢂT LUẬN..............................................................................................................75  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
DANH MỤC CÁC TỪ VIꢂT TẮT  
BLHS  
Bộ luật Hình sự  
CB, CC  
CQĐT  
ĐTV  
Cán bộ, công chức  
Cơ quan điều tra  
Điều tra viên  
HĐXX  
KSV  
Hội đồng xét xử  
Kiểm sát viên  
TAND  
TNHS  
TTHS  
Tòa án nhân dân  
Trách nhiệm hình sự  
Tố tụng hình sự  
VKS  
Viện kiểm sát  
VKSND  
VKSNDTC  
Viện kiểm sát nhân dân  
Viện kiểm sát nhân dân tối cao  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Bảng 2.1. Thống kê số vụ án/bị cáo bị truy tố được đưa ra xét xử giai đoạn 2011-  
2017 và 6/2018..........................................................................................................39  
Bảng 2.2. Thống kê số vụ án/bị cáo bị truy tố được đưa ra xét xử giai đoạn 2011-  
2017...........................................................................................................................41  
Bảng 2.3. Thống kê số vụ án/bị can Tòa trả hồ sơ điều tra bổ sung.........................43  
Mꢀ ĐꢁU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Thực hành quyền công tố của VKSND là một dạng thực hành quyền lực nhà  
nước trong lĩnh vực tư pháp. Không có cá nhân, cơ quan nhà nước nào có thể thay  
thế VKSND trong việc truy tố kẻ phạm tội ra trước Toà. Thực hành quyền công tố  
của VKSND nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát  
hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội,  
đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm  
tội, không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con  
người, quyền công dân trái luật. Với vị trí, vai trò quan trọng đó, Đảng ta đã dành  
sự quan tâm lớn đến công tác thực hành quyền công tố của VKSND như: Nghị  
quyết số 08-NQ/TW ngày 01/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng  
tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới đã chỉ rõ: "Nâng cao chất lượng công  
tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người  
bào chữa và những người tham gia tố tụng khác…". Nghị quyết Đại hội Đảng toàn  
quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Viện kiểm sát nhân dân tập trung làm tốt chức năng công  
tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị  
về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 khẳng định: “Trước mắt, viện kiểm  
sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và  
kiểm sát hoạt động tư pháp... tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động  
điều tra”. "Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu  
đột phá của hoạt động tư pháp" [3]. Các chủ trương, quan điểm đó đã được cụ thể  
hóa trong Hiến pháp năm 2013, tại khoản 1, Điều 107 và khoản 2, Điều 3 Luật tổ  
chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 khẳng định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan  
thực hành quyền công tố…của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [15].  
“Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng  
hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực  
hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong  
1
suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [19].  
Thời gian qua, công tác thực hành quyền công tố của VKSND đã đạt được  
những kết quả quan trọng, đã hạn chế tình trạng truy tố oan sai, đã phát hiện, khởi  
tố, xử lý kịp thời các hành vi phạm tội và tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,  
quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân góp phần hiệu quả trong công cuộc đấu  
tranh phòng và chống tội phạm, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh  
đó, thực tiễn cho thấy công tác thực hành quyền công tố vẫn còn những hạn chế, bất  
cập như: vẫn còn một số vụ án truy tố oan, sai gây bức xúc trong nhân dân, tình  
trạng bỏ lọt tội phạm, chất lượng xét hỏi của KSV còn hạn chế, KSV chưa làm tốt  
công tác chuꢀn bị cho hoạt động xét xử, chất lượng tranh tụng trong nhiều phiên tòa  
hưa thực sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp... Nhận thức được vấn đề đó, Nghị  
quyết Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Viện Kiểm sát nhân dân thực  
hành quyền công tố…; được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án; tăng  
cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra” [11, tr.179]. Vì vậy, cải cách  
tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố của VKSND là  
một đòi hỏi cấp bách của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.  
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, phức tạp  
của công cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa vi phạm pháp luật, bảo vệ các quyền  
và lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức và công dân, với trách nhiệm là một công  
chức trong ngành, công tác ở một địa bàn cụ thể, học viên đã chọn đề tài: “Thực  
hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện  
Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật hình sự là cần  
thiết về lý luận cũng như thực tiễn.  
2. Tình hình nghiên cꢃu liên quan đến đề tài  
Qua tìm hiểu về vấn đề này, tác giả nhận thấy, có khá nhiều công trình khoa  
học đề cập đến vấn đề này, bước đầu tập hợp được một số công trình tiêu biểu sau:  
- Luận án tiến sĩ Luật học, “Quyền công tố ở Việt Nam” của Lê Thị Tuyết Hoa,  
(2005) [16]. Đã đề cập đến những vấn đề lý luận về vấn đề quyền công tố ở một số  
nước trên thế giới và trong TTHS ở Việt Nam và thực trạng tổ chức thực hành  
2
quyền công tố trong TTHS ở Việt Nam và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp  
luật về hoạt động công tố ở trước Tòa án.  
- Luận văn thạc sỹ Luật hình sự, “Nâng cao chất lượng thực hành quyền  
công tố của Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện trong cải cách tư pháp ở nước ta”  
của Lương Thúy Hà (2012) [13]. Đã đề cập đến một số vấn đề lý luận về thực hành  
quyền công tố của VKSND, pháp luật về thực hành quyền công tố của VKSND cấp  
huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao  
chất lượng thực hành quyền công tố của VKSND cấp huyện.  
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Chức năng thực hành quyền công tố của Viện  
kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Nông)” của Lê  
Thanh Hưng (2015) [17]. Đã đề cập một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố  
trong TTHS. Đánh giá thực trạng thực hành quyền công tố ở địa bản tỉnh Đăk Nông  
và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố.  
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét  
xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định”, của  
Nguyễn Hữu Phước (2016). Đã đề cập đến một số vấn đề lý luận về quyền công tố  
và thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự, đánh giá  
thực trạng vấn đề này tại địa phương huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định và đề xuất  
một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả hơn nội dung này tại địa phương.  
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên thực  
hành quyền công tố trong các vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu áp dụng nguyên tắc  
tranh tụng ở Việt Nam hiện nay” của Bùi Thị Thúy Hằng (2016) [14]. Đề cập đến  
cơ sở lý luận, thực trạng vấn đề năng lực tranh tụng của KSV thực hành quyền công  
tố trong vụ án hình sự và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tranh  
tụng của KSV thực hành quyền công tố trong vụ án hình sự.  
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét  
xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi”, của  
Trương Thị Thu Thắm (2017). Đã phân tích rõ thêm một số vấn đề lý luận về thực  
hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự, thực trạng pháp  
3
luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm và đề xuất một số  
giải pháp tăng cường công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ  
thꢀm vụ án hình sự.  
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố đối với tội cố ý gây  
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luật tố tụng  
hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi” của Lý Tường Vy  
(2017) [42]. Đề cập đến một số vấn đề lý luận và thực trạng thực hành quyền công  
tố đối với loại tội phạm này tại địa phương và đề xuất một số giải pháp, kiến nghị  
nhằm nâng cao hiệu quả công tác này.  
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu là sách, đề tài khoa học cấp bộ,  
luận văn, bài viết…liên quan đến các nội dung của luận văn như: Sách, “Một số vấn  
đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với  
hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp”, của Nguyễn Hải Phong chủ  
biên, Nxb Tư Pháp 2013; Sách,“Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự  
năm 2015”, Nxb Chính trị quốc gia của Lê Hữu Thể; Bài viết: Một số vấn đề lý  
luận cơ bản về quyền công tố của tác giả Lê Cảm trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số  
6/2000; Một số vấn đề về quyền công tố của tác giả Trần Văn Độ trên Tạp chí Luật  
học, Số 3/2001; Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta  
hiện nay của tác giả Đỗ Văn Đương, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 79/2006);  
Viện kiểm sát hay Viện công tố của tác giả Nguyễn Thái Phúc, Tạp chí Khoa học  
Pháp luật, số 2/2007.  
Các công trình nghiên cứu trên với những cách tiếp cận khác nhau, đã làm rõ  
một số vấn đề liên quan trực tiếp và gián tiếp đến các vấn đề lý luận, thực tiễn cũng  
như định hướng, giải pháp giải quyết vấn đề liên quan đến đề tài. Một số công trình  
nghiên cứu đã tập trung vào nội dung thực hành quyền công tố của VKSND trong  
giai đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự tại một số địa phương cụ thể, và đề xuất các  
giải pháp gắn liền với điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương đó. Các kết quả nêu  
trên sẽ được tác giả tiếp tục kế thừa có chọn lọc, vận dụng hợp lý vào các nội dung  
cụ thể của luận văn. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy, thực hành quyền công tố của  
4
VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự cần tiếp tục được làm rõ thêm  
một số vấn đề, đặc biệt là trong quá trình thực thi Bộ luật Hình sự 2015 và Bộ luật  
Tố tụng hình sự 2015, cũng như yêu cầu thực hiện chiến lược cải cách tư pháp hiện  
nay. Do vậy, việc nghiên cứu về công tác thực hành quyền công tố trong hoạt động  
xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi là rất cần thiết, trên  
cơ sở đó sẽ đưa ra các giải pháp để tiếp tục tăng cường hoạt động này nhằm đáp ứng  
được yêu cầu của địa phương và tiến trình cải cách tư pháp hiện nay.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cꢃu  
3.1. Mục đích nghiên cứu  
Đề xuất giải pháp tăng cường công tác thực hành quyền công tố trong giai  
đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự tại VKSND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi  
trong thời gian đến.  
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
- Làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động thực hành quyền công tố của VKSND  
trong hoạt động xét xử vụ án hình sự ở nước ta.  
- Đánh giá thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm  
vụ án hình sự tại VKSND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua.  
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác thực hành quyền công tố  
trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự của VKSND huyện Mộ Đức, tỉnh  
Quảng Ngãi.  
4. Đối tượng và phꢄm vi nghiên cꢃu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
Là công tác thực hành quyền công tố trong hoạt động xét xử sơ thꢀm các vụ  
án hình sự của VKSND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.  
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu công tác thực hành quyền công tố của  
VKSND cấp huyện trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm các vụ án hình sự theo quy định  
của BLTTHS về vấn đề này.  
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu công tác thực hành quyền công tố của  
5
VKSND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.  
- Phạm vi về thời gian: Số liệu được sử dụng nghiên cứu được tổng hợp từ  
kết quả thống kê từ năm 2011-2017 và đến tháng 6 năm 2018.  
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cꢃu  
5.1. Cơ sở lý luận  
Nghiên cứu trên cơ sở của phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện  
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác- Lênin và quan điểm của Đảng  
Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, về cải cách tư pháp.  
5.2. Phương pháp nghiên cứu  
Luận văn kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu và sử dụng ở mức độ  
khác nhau trong những nội dung khác nhau như: Phương pháp phân tích - tổng  
hợp; Phương pháp luật học so sánh; Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển  
hình, khảo sát thực tiễn; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp lịch sử.  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn  
6.1. Ý nghĩa lý luận  
Làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố  
của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự.  
Nhận thức được những kết quả đạt được, hạn chế yếu kém trong thực hành  
quyền công tố của VKSND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn xét xử  
sơ thꢀm vụ án hình sự. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành quyền công tố  
của VKSND cấp huyện trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự hiện nay.  
6.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Kết quả nghiên cứu còn là nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan có thꢀm  
quyền trong việc xây dựng, hoạch định chính sách khi xem xét sửa đổi, bổ sung các  
quy định liên quan đến công tác thực hành quyền công tố của VKSND, là nguồn tư  
liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và các  
địa phương khác, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành kiểm  
sát trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ liên quan đến vấn đề này.  
6
7. Kết cấu của luận văn  
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của  
luận văn gồm 3 chương:  
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố của trong giai  
đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự.  
Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ  
thꢀm vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.  
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường thực hành quyền công tố  
trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân huyện  
Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi thời gian đến.  
7
CHƯƠNG 1  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN  
CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ  
1.1. Thực hành quyền công tố trong giai đoꢄn xét xử sơ thꢅm vụ án  
hình sự  
1.1.1. Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự  
1.1.1.1. Khái niệm xꢀt xử và xꢀt xử sơ thẩm vụ án hình sự  
Từ điển Tiếng Việt "Xét xử là việc xem xét và xử các vụ án" [20, tr.148].  
Đây là một trong những hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các Tòa  
án, các Tòa án là những cơ quan duy nhất của một nước được đảm nhiệm chức năng  
xét xử, chức năng này còn được gọi là chức năng bảo vệ pháp luật có mối quan hệ  
trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của con người, quyền của công dân.  
Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý cho rằng: “Xꢀt xử là hoạt động  
xem xꢀt, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhꢁm đưa ra một phán xꢀt về tính  
chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đꢂ nhân danh Nhà nước đưa ra một pháp quyết  
tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc (xꢀt xử vụ  
án hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính...)” [30, tr.869].  
Như vậy, có thể hiểu xét xử là quá trình áp dụng các biện pháp cần thiết do  
luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà  
CQĐT, VKS đã thông qua trước khi chuyển vụ án hình sự sang Tòa án, nhằm loại  
trừ các những hậu quả tiêu cực do sơ suất, sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bỏ lọt tội  
trong ba giai đoạn tố tụng hình sự trước đó (khởi tố, điều tra và truy tố), chuꢀn bị  
đưa vụ án ra xét xử, hoặc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ (hay tạm  
đình chỉ) vụ án.  
Dưới góc độ khoa học pháp lý, hiện nay khái niệm xét xử sơ thꢀm có nhiều  
cách tiếp cận khác nhau. Từ điển Luật học giải thích: “xét xử sơ thẩm là lần đầu  
tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm quyền” [30, tr.870]. Theo đó,  
phạm vi rộng xét xử sơ thꢀm bao gồm các vụ án dân sự, hình sự, hành chính...  
8
điểm quan trọng nhất ở đây là đã thể hiện được đặc trưng của xét xử sơ thꢀm là  
“lần đầu tiên” đưa vụ án ra xét xử và do “một Tòa án có thẩm quyền” thực hiện,  
tuy nhiên, hạn chế là chưa phân định sự khác biệt và đặc trưng riêng của việc xét  
xử sơ thꢀm các vụ án, trong đó có việc xét xử sơ thꢀm các vụ án hình sự - một  
trong những hoạt động được coi là trung tâm của hoạt động tố tụng hình sự, bởi lẽ  
nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất trong tố tụng hình sự là “không ai bị coi là có  
tội và phải chịu hình phạt khi chưa cꢂ bản án kết tội của Tòa án đã cꢂ hiệu lực  
pháp luật”, do đó, có thể nói hoạt động truy tố của VKS hướng tới việc tạo căn cứ  
cho hoạt động xét xử, bản án và các quyết định của Tòa án là căn cứ pháp lý để tiến  
hành hoạt động thi hành án, biến việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội của các  
cơ quan tiến hành tố tụng phát huy tác dụng trên thực tế [23, tr.58].  
Như vậy, có thể khái quát xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự là giai đoạn tiếp theo  
của quá trình tố tụng hình sự mà Tòa án được giao thꢀm quyền, sau khi nghiên cứu  
hồ sơ vụ án, lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xem xét công khai tại phiên tòa, nhằm  
xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm tội hay  
không để từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất của vụ án mà VKS  
đã truy tố. Từ phân tích trên, có thể nhận thấy xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự có  
những đặc trưng cơ bản như sau: i) là một giai đoạn tố tụng hình sự có tính chất bắt  
buộc; ii) là xét xử lần đầu vụ án, do đó vụ án được đưa ra giải quyết công khai  
với sự có mặt đầy đủ các người tham gia tố tụng; iii) có kết quả là một bản án,  
quyết định công minh, có căn cứ và đúng pháp luật; iv) góp phần vào việc xử lý  
triệt để và dứt điểm vụ án hình sự, qua đó, giảm thiểu tối đa tình trạng giải quyết  
kéo dài vụ án, duy trì công lý, tạo công bằng trong xã hội, trấn an dư luận và bảo  
đảm quyền lợi của công dân, tổ chức và nhà nước.  
1.1.1.2. Khái niệm giai đoạn xꢀt xử sơ thẩm vụ án hình sự  
Trên phương diện luật học, cách hiểu về giai đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình  
sự tương đối rõ, tác giả đồng tình với quan điểm của một số tác giả về vấn đề này  
được trình bày tại công trình [22, tr.13] và [8, tr.12]. Theo đó, có thể hiểu giai đoạn  
xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự là một giai đoạn trong tố tụng hình sự, trong đó Tòa án  
9
có thꢀm quyền thay mặt Nhà nước tiến hành việc xét xử lần đầu, toàn diện, tổng thể  
vụ án hình sự trên cơ sở bản cáo trạng của VKS, xem xét đánh giá chứng cứ và dựa  
trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm cơ sở để ra các phán quyết công minh, có căn  
cứ và đúng pháp luật bằng bản án và quyết định của mình.  
Thời điểm của giai đoạn xét xử sơ thꢀm được bắt đầu từ khi Tòa án nhận  
được hồ sơ vụ án hình sự (với quyết định truy tố bị can trước Tòa án kèm theo bản  
cáo trạng) do VKS chuyển sang và kết thúc bằng một bản án (quyết định) có hiệu  
lực pháp luật của Tòa án. Như vậy, giai đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự là một  
giai đoạn tố tụng độc lập, trong đó bao gồm chuꢀn bị xét xử và phiên tòa sơ thꢀm.  
Chuꢀn bị xét xử là tiền đề cần thiết, quan trọng cho việc mở phiên tòa và tiến hành  
phiên tòa, còn phiên tòa sơ thꢀm là hình thức đặc trưng của giai đoạn này, là nơi thể  
hiện đậm nét nhất nội dung của các nguyên tắc tố tụng hình sự.  
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn xét xử sơ  
thẩm vụ án hình sự  
1.1.2.1. Chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự  
Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: "Chức năng là phương diện hoạt  
động có tính chất cơ bản, xuất phát từ bản chất của sự vật, hiện tượng, từ mục đích,  
ý nghĩa xã hội của việc giải quyết các nhiệm vụ đꢂ đặt ra" [20, tr.62]. Theo đó có  
thể hiểu, chức năng của cơ quan nhà nước là những phương diện hoạt động chủ yếu  
có tính chất cơ bản và lâu dài của riêng cơ quan đó, nhằm thực hiện những mục tiêu  
nhất định trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn luật định để phục vụ việc thực hiện  
chức năng chung của bộ máy nhà nước. Hiến pháp năm 2013, Điều 109 quy định:  
“Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư  
pháp”. Trên cơ sở đó, tại Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã làm rõ đặc  
trưng chức năng của VKSND thể hiện trên hai phương diện: i) “Thực hành quyền  
công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện  
việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải  
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố,  
điều tra, truy tố, xꢀt xử vụ án hình sự” [19]. Có thể khẳng định, VKS thực hành  
10  
quyền công tố ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố  
và trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, trong đó có chức năng  
thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự; ii) “Kiểm  
sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp  
pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư  
pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội  
phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc  
giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,  
thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt  
động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật” [19]. Đây  
là một chức năng mang tính đặc thù của hệ thống cơ quan VKS ở Việt Nam, trong  
đó có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp đối với việc giải quyết vụ án hình sự  
trong giai đoạn sơ thꢀm.  
Như vậy, trên phương diện pháp luật thực định, chức năng thực hành quyền  
công tố (về bản chất là chức năng buộc tội của Nhà nước) được giao cho VKS các  
cấp thực hiện trong tố tụng hình sự, từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và thực  
hành công tố tại các phiên toà xét xử vụ án hình sự, trong giai đoạn này VKSND,  
KSV thay mặt nhà nước thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát  
hoạt động tư pháp.  
1.1.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án  
hình sự  
Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự  
là những hoạt động cụ thể của VKS từ khi Tòa án thụ lý xét xử cho đến khi bản án  
có hiệu lực pháp luật không bị kháng cáo, kháng nghị nhằm thực hiện chức năng  
thực hành quyền công tố. Ở nước ta, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành  
quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm vụ án hình sự bao gồm: Công bố cáo  
trạng, công bố quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc  
tội đối với bị cáo tại phiên tòa; Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ; Luận  
tội, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về tội khác  
11  
bằng hoặc nhẹ hơn; phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án tại phiên  
tòa; Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội  
phạm, người phạm tội; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác khi thực hành quyền  
công tố trong giai đoạn xét xử sơ thꢀm.  
1.1.3. Thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm  
vụ án hình sự  
1.1.3.1. Quyền công tố và thực hành quyền công tố  
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, công tố có nghĩa là "điều tra, truy tố và buộc tội  
kẻ phạm pháp trước Tòa án" [43, tr.204]. Theo đó, công tố bao gồm cả hoạt động  
điều tra và truy tố, buộc tội kẻ phạm tội trước Tòa án. Theo Từ điển Luật học, công  
tố "là quyền của nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội"  
[30, tr.188], tiếp cận này chưa rõ ràng, bởi khái niệm "truy cứu trách nhiệm hình  
sự" còn bao gồm cả hoạt động xét xử của Tòa án.  
Về mặt nguồn gốc, việc ra đời quyền công tố cũng có những quan điểm khác  
nhau, tác giả thống nhất với Võ Thành Đủ và một số nhà nghiên cứu khác về giải  
thích nguồn gốc của quyền công tố, tập trung vào hai hướng là: i) quyền công tố ra  
đời gắn liền với nền dân chủ tư sản và hình thành từ cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ thứ  
XIV, khi Nhà nước phong kiến tan rã, với học thuyết tam quyền phân lập trong tổ  
chức và thực hiện quyền lực Nhà nước đã dẫn đến tách hệ thống Tòa án ra khỏi hệ  
thống cơ quan hành pháp và hình thành nhánh quyền lực thứ ba là quyền xét xử.  
Cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật, quyền công tố mới xuất hiện với tính  
chất là buộc tội trước Tòa án khi Tòa án xét xử các tội phạm hình sự. Như vậy,  
quyền công tố là một quyền độc lập tồn tại song song với quyền xét xử của Tòa án;  
ii) quyền công tố ra đời gắn liền với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật, do đó  
quyền công tố tồn tại trong tất cả các Nhà nước từ Nhà nước chiếm hữu nô lệ đến  
Nhà nước ngày nay. Quyền công tố ban đầu chỉ mang tính xã hội và dần phát triển  
và đòi hỏi phải có một cơ quan nhà nước thực hiện đó là Cơ quan công tố hoặc  
VKS, tác giả đồng tình với quan điểm thứ nhất về vấn đề này. Ở Việt Nam, tác giả  
đồng tình rằng thuật ngữ "công tố", "quyền công tố" đã xuất hiện từ thời Pháp thuộc  
12  
và tiếp tục được sử dụng trong khá nhiều văn bản pháp luật, chủ yếu là các sắc lệnh  
vào giai đoạn đầu của chính thể Việt Nam Dân chủ cộng hòa với tên gọi là Viện  
Công tố. Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Đề án của Hội đồng Chính  
phủ về việc thành lập hệ thống Viện Công tố và đến năm 1960 mới chuyển thành  
VKSND [7, tr.581]. Trong tiến trình thực hiện cải cách bộ máy nhà nước, cải cách  
hoạt động tư pháp, khi đề cập đến chức năng của VKSND thì khái niệm "công tố",  
"quyền công tố" lại được các nhà nước nghiên cứu đề cập nhiều hơn.  
Khát quát các công trình nghiên cứu về vấn đề này, tác giả đồng tình với một  
số quan điểm là sự khác nhau chủ yếu tập trung vào các nhóm các cơ bản sau:  
Thứ nhất: công tố không phải là chức năng độc lập của VKS, mà chỉ là hình  
thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chỉ có trong giai đoạn  
xét xử các vụ án hình sự, tức là khi kiểm sát việc xét xử các vụ án hình sự thì KSV  
thực hành quyền công tố để buộc tội bị cáo tại phiên tòa [31, tr85-86], quan điểm  
này phổ biến từ những năm trước đây và cũng là quan điểm cơ bản của một số nhà  
khoa học pháp lý Xô viết. Nhìn nhận như vậy đã đồng nhất quyền công tố với chức  
năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật khi xét xử hình sự tại phiên tòa, thu hẹp  
phạm vi quyền công tố, chưa thấy hết vị trí, vai trò của VKS khi thực hành quyền  
công tố được Nhà nước giao cho, vì hoạt động truy tố và buộc tội của VKS tại phiên  
tòa xét xử vụ án hình sự chỉ là một trong số các quyền hạn của VKS khi thực hành  
quyền công tố.  
Thứ hai: quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKSND truy tố  
người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử. Quan điểm này nhấn mạnh vai trò duy  
nhất của quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, [24] hạn chế của quan  
điểm này là thu hẹp phạm vi của quyền công tố là truy tố và buộc tội của VKSND  
tại Tòa án.  
Thứ ba: quyền công tố là quyền của VKS nhân danh Nhà nước để bảo vệ lợi  
ích công (lợi ích của Nhà nước, xã hội và của công dân) khi có các hành vi vi phạm  
pháp luật. Do đó, quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà còn  
có cả trong lĩnh vực tố tụng dân sự và tố tụng hành chính [29]. Quan điểm này đã  
13  
mở rộng phạm vi quyền công tố sang cả lĩnh vực tố tụng dân sự và lĩnh vực tố tụng  
hành chính là chưa thật sự chuꢀn xác, bởi lẻ, đối với các vụ án dân sự, hôn nhân và  
gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính thì VKS không khởi tố vụ án  
trong một số trường hợp như trước đây mà việc khởi kiện vụ án này thuộc trách  
nhiệm của đương sự (dựa trên nguyên tắc tự nguyện), đồng thời khi đơn khởi kiện  
của đương sự hợp lệ thì Tòa án phải thụ lý và đưa ra xét xử không lệ thuộc vào  
quyết định của VKS.  
Thứ tư: quyền công tố là quyền của Nhà nước được giao cho VKS để thực  
hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội, nhằm đưa người đó ra xét xử và  
thực hiện sự buộc tội người đó trước Tòa án [27, tr.140]. Tác giả đồng tình cao với  
quan điểm này và nhận thấy, đây là quan điểm chung được thừa nhận nhiều hiện  
nay, cách tiếp cận này phù hợp với kết quả nghiên cứu lý luận về pháp luật và thực  
tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND hiện nay ở nước ta. Xét trong điều  
kiện cụ thể đó, quan điểm thứ tư về quyền công tố còn cho phép chúng ta xác định  
đúng đắn các vấn đề sau đây: i) quyền công tố là quyền của Nhà nước được giao  
cho VKS; ii) quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng hình sự, không tồn tại  
trong lĩnh vực tố tụng dân sự và tố tụng hành chính; iii) nội dung của quyền công tố  
là truy cứu TNHS và buộc tội đối với người phạm tội; iv) quyền công tố gắn liền  
với một tội phạm cụ thể; v) phạm vi của quyền công tố được bắt đầu từ khi có hành  
vi phạm tội xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên trên thực  
tế hoạt động thực hiện quyền công tố bắt đầu kể từ khi tiếp nhận xử lý tố giác, tin  
báo về tội phạm và kết thúc khi Tòa án ra bản án, quyết định có hiệu lực thi hành.  
Từ sự phân tích nêu trên, tác giả đồng tình với một số nhà khoa học, có thể hiểu:  
Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS thực hiện việc truy cứu trách  
nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhꢁm truy tố, người phạm tội ra trước Tòa án  
để xét xử và thực hiện sự buộc tội người đꢂ trước phiên tòa nhꢁm bảo đảm quyền  
con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và thực hiện theo quy  
định củba Hiến pháp và pháp luật.  
Trên cơ sở phân tích quyền công tố ở nước ta hiện nay, có thể khẳng định  
14  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 86 trang yennguyen 22801 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_thuc_hanh_quyen_cong_to_trong_giai_doan_xet_xu_so_t.pdf