Luận văn Phương pháp lập luận xấp xỉ tối ưu dựa trên đại số gia tử và ứng dụng trong điều khiển mờ

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
ĐOÀN TRỌNG HIẾU  
PHƯƠNG PHÁP LẬP LUẬN XẤP XỈ TỐI ƯU DỰA TRÊN  
ĐẠI SỐ GIA TỬ VÀ ỨNG DỤNG TRONG ĐIỀU KHIỂN MỜ  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH  
THÁI NGUYÊN - 2020  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
ĐOÀN TRỌNG HIẾU  
PHƯƠNG PHÁP LẬP LUẬN XẤP XỈ TỐI ƯU DỰA TRÊN  
ĐẠI SỐ GIA TỬ VÀ ỨNG DỤNG TRONG ĐIỀU KHIỂN MỜ  
Chuyên ngành: KHOA HỌC MÁY TÍNH  
Mã số: 8.48.01.01  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH  
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN DUY MINH  
THÁI NGUYÊN - 2020  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan kết quả đạt được trong luận văn là sản phẩm của cá nhân  
dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Duy Minh. Trong toàn bộ nội  
dung luận văn, những nội dung được trình bày là của cá nhân hoặc tổng hợp từ  
nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Tất cả các tài liệu tham khảo đó đều có xuất xứ  
rõ ràng và được trích dẫn hợp pháp.  
Tôi xin chịu trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật theo quy định cho  
lời cam đoan của mình.  
Thái Nguyên, tháng năm 2020  
Tác giả  
Đoàn Trọng Hiếu  
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS. Nguyễn Duy Minh - người  
hướng dẫn khoa học, thầy đã định hướng và nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ em  
trong quá trình làm luận văn.  
Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô giáo trường Đại học Công  
nghệ thông tin và Truyền thông; Viện công nghệ thông tin thuộc Viện hàn lâm  
Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã truyền đạt những kiến thức và kinh  
nghiệm quý báu cho chúng em trong thời gian học tập.  
Xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp, ban cán sự và các học  
viên lớp cao học CK15, những người thân trong gia đình đã động viên, chia sẻ,  
tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và làm luận văn.  
Thái Nguyên, tháng năm 2020  
Tác giả  
Đoàn Trọng Hiếu  
iii  
MỤC LỤC  
 
iv  
vii  
DANH MỤC HÌNH  
Hình 3.1. Sơ đồ phương pháp điều khiển CFC............................................... 50  
Hình 3.2. Sơ đồ phương pháp điều khiển FCHA............................................ 51  
Hình 3.3. Đường cong thực nghiệm của mô hình EX1 .................................. 56  
Hình 3.4. Kết quả xấp xỉ mô hình EX1 của Cao Kandel ................................ 59  
Hình 3.5. Hệ thống quạt gió cánh nhôm PP-200 ............................................ 60  
Hình 3.6. Phân hoạch mờ đầu vào u ............................................................... 62  
Hình 3.7. Phân hoạch mờ đầu ra y .................................................................. 62  
Hình 3.8. Đồ thị quan sát hệ QGCN sử dụng FCHA...................................... 64  
Hình 3.9. Đồ thị quan sát hệ QGCN sử dụng FCOPHA................................. 64  
 
viii  
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT  
Các ký hiệu:  
Tổng độ đo tính mờ của các gia tử âm  
Tổng độ đo tính mờ của các gia tử dương  
Giá trị định lượng của phần tử trung hòa  
Đại số gia tử  
AX  
AX*  
W
휀
Đại số gia tử tuyến tính đầy đủ  
Phần tử trung hòa trong đại số gia tử  
Ngưỡng hiệu chỉnh định lượng ngữ nghĩa  
Tham số hiệu chỉnh giá trị định lượng ngữ nghĩa  
Các phần tử sinh  
δ
c-, c+  
Các chữ viết tắt:  
ĐLNN  
ĐSGT  
QGCN  
GA  
Định lượng ngữ nghĩa  
Đại số gia tử  
Quạt gió cánh nhôm  
Genetic Algorithm  
FMCR  
FAM  
Fuzzy Multiple Conditional Reasoning  
Fuzzy Associative Memory  
Semantic Associative Memory  
Hedge Algebras Reasoning  
Optimal - Parameter  
SAM  
HAR  
OpPAR  
CFC  
Conventional Fuzzy Control  
Fuzzy Control using Hedge Algebras  
Fuzzy Control using Optimal Hedge Algebras  
FCHA  
FCOPHA  
 
1
MỞ ĐẦU  
Khoa học ngày càng phát triển thì càng có nhiều thiết bị máy móc hỗ trợ  
cho đời sống con người. Các thiết bị máy móc càng “thông minh” thì càng thay  
thế sức lao động và do đó các thiết bị dạng này dường như là một trong những  
cái đích mà con người vươn tới. Như vậy, nhu cầu thiết yếu của cuộc sống là  
tạo ra các máy móc có thể hành xử giống với con người. Hay nói cách khác là  
các máy phải biết suy luận để đưa ra các quyết định đúng đắn.  
Người tiên phong trong lĩnh vực này là Zadeh [11]. Trong các công trình  
của mình ông đã mô tả một cách toán học những khái niệm mơ hồ mà ta thường  
gặp trong cuộc sống như: cao, thấp; đúng, sai bằng các tập mờ. Nhờ việc xây  
dựng lý thuyết tập mờ mà con người có thể suy diễn từ khái niệm mơ hồ này  
đến khái niệm mơ hồ khác mà bản thân logic kinh điển không làm được. Trên  
cơ sở các thông tin không chính xác thu được, người ta có thể đưa ra những  
quyết định hiệu quả cho từng tình huống của bài toán.  
Tuy nhiên, phương pháp lập luận của con người là vấn đề phức tạp và  
không có cấu trúc. Vì vậy kể từ khi lý thuyết tập mờ ra đời cho đến nay, vẫn  
chưa có một cơ sở lý thuyết hình thức chặt chẽ theo nghĩa tiên đề hoá cho logic  
mờ và lập luận mờ.  
Để đáp ứng phần nào đối với nhu cầu xây dựng cơ sở toán học cho việc  
lập luận ngôn ngữ, N.Cat Ho và Wechler [12] đã đề xuất cách tiếp cận dựa  
trên cấu trúc tự nhiên của miền giá trị của các biến ngôn ngữ, trong các công  
trình, các tác giả đã chỉ ra rằng, những giá trị của biến ngôn ngữ trong thực  
tế đều có thứ tự nhất định về mặt ngữ nghĩa, ví dụ ta hoàn toàn có thể cảm  
nhận được rằng, ‘trẻ’ là nhỏ hơn ‘già’, hoặc ‘nhanh’ luôn lớn hơn ‘chậm’.  
Về mặt lý thuyết, năm 1990 N.Cat Ho và Wechler đã xây dựng cấu trúc đại  
số gia tử (ĐSGT) cho biến ngôn ngữ [2,3], trên cơ sở đó vấn đề định lượng  
nhãn ngôn ngữ trong ĐSGT đã được đề cập trong [2], theo đó mỗi giá trị  
 
2
ngôn ngữ của biến ngôn ngữ được định lượng bằng một giá trị thực thuộc  
khoảng [0, 1], công thức hàm ngữ nghĩa định lượng đã được xây dựng dựa  
trên các tham số như độ đo tính mờ của của các phần tử sinh và các gia tử.  
ĐSGT đã được ứng dụng vào một số lĩnh vực như xây dựng mô hình cơ sở  
dữ liệu mờ. Và gần đây ĐSGT đã được ứng dụng vào lĩnh vực điều khiển  
mờ [2]. Các kết quả cho thấy các bài toán sử dụng tiếp cận ĐSGT như đã đề  
cập cho kết quả tốt hơn nhiều so với các bài toán sử dụng tiếp cận mờ truyền  
thống.  
Tuy nhiên vấn đề định lượng giá trị ngôn ngữ trong ĐSGT cũng như  
phương pháp lập luận mờ dựa trên ĐSGT còn hàm chứa rất nhiều các câu hỏi  
cần được tiếp tục giải quyết như:  
- Giả thiết độ đo tính mờ của phần tử trung hòa trong ĐSGT bằng 0 (fm(W)  
= 0) liệu có chặt và ảnh hưởng đến quá trình lập luận?  
- Vấn đề xác định các tham số của ánh xạ ngữ nghĩa định lượng (còn gọi  
là các tham số của ĐSGT) như thế nào?  
- Việc sử dụng phép kết nhập và nội suy tuyến tính trong phương pháp lập  
luận mờ dựa trên ĐSGT liệu có hợp lý hay không?  
Đây chính là nội dung chính cần nghiên cứu nhằm hoàn thiện thêm  
phương pháp lập luận xấp xỉ mờ dựa trên ĐSGT.  
Mục tiêu của luận văn là phát triển phương pháp lập luận xấp xỉ tối ưu dựa  
trên ĐSGT, cụ thể:  
- Nhúng giải thuật di truyền vào phương pháp lập luận xấp xỉ mờ dựa trên  
ĐSGT để giải quyết vấn đề xác định các tham số của phương pháp.  
- Dựa vào phương pháp lập luận xấp xỉ mờ ứng dụng trong điều khiển.  
Phương pháp này được cài đặt thử nghiệm trên một số bài toán điều khiển  
mờ, các kết quả sẽ được đánh giá và so sánh với các phương pháp lập luận khác  
đã được công bố.  
3
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ SỞ  
1.1. Biến ngôn ngữ, mô hình mờ  
1.1.1. Biến ngôn ngữ  
Một biến ngôn ngữ là biến mà “các giá trị của nó là các từ hoặc câu trong  
ngôn ngữ tự nhiên hoặc ngôn ngữ nhân tạo”. Ví dụ như khi nói về nhiệt độ ta có  
thể xem đây là biến ngôn ngữ có tên gọi NHIỆT_ĐỘ và nó nhận các giá trị ngôn  
ngữ như “cao”, “rất cao”, “trung bình”… Đối với mỗi giá trị này, chúng ta sẽ  
gán cho chúng một hàm thuộc. Giả sử lấy giới hạn của nhiệt độ trong đoạn [0,  
230oC] và giả sử rằng các giá trị ngôn ngữ được sinh bởi một tập các quy tắc.  
Khi đó, một cách hình thức, chúng ta có định nghĩa của biến ngôn ngữ sau đây:  
Định nghĩa 1.1. Biến ngôn ngữ là một bộ gồm năm thành phần (X,T(X),  
U, R, M), trong đó X là tên biến, T(X) là tập các giá trị ngôn ngữ của biến X,  
U là không gian tham chiếu của biến cơ sở u, mỗi giá trị ngôn ngữ xem như là  
một biến mờ trên U kết hợp với biến cơ sở u, R là một qui tắc cú pháp sinh các  
giá trị ngôn ngữ cho tập T(X), M là qui tắc ngữ nghĩa gán mỗi giá trị ngôn ngữ  
trong T(X) với một tập mờ trên U.  
Ví dụ 1.1. Từ định nghĩa trên ta có tên biến ngôn ngữ X chính là  
o
NHIỆT_ĐỘ, biến cơ sở u có miền xác định là U = [0, 230] tính theo C. Tập  
các giá trị ngôn ngữ tương ứng của biến ngôn ngữ là T(NHIỆT_ĐỘ) = {cao,  
rất cao, tương_đối cao, thấp, rất thấp, trung bình, …}. R là một qui tắc để sinh  
ra các giá trị này. M là quy tắc gán ngữ nghĩa sao cho mỗi một giá trị ngôn ngữ  
sẽ được gán với một tập mờ. Chẳng hạn, đối với giá trị nguyên thủy cao, M(cao)  
= {(u, cao(u) | u [0, 230]}, được gán như sau:  
0,  
u 170  
, 170 u 185  
185 u  
u 170  
15  
cao(u) =  
1,  
     
4
Ngữ nghĩa của các giá trị khác trong T(NHIỆT_ĐỘ) cũng có thể tính thông  
qua tập mờ của các giá trị nguyên thủy bởi các phép toán tương ứng với các gia  
tử tác động như rất, tương_đối,…  
1.1.2. Mô hình mờ  
Cấu trúc của một mô hình mờ chính là một tập bao gồm các luật mà mỗi  
luật là một mệnh đề dạng “If…then…”, trong đó phần “If” được gọi là mệnh  
đề điều kiện hay tiền đề còn phần “then” được gọi là phần kết luận.  
Mô hình mờ dạng đơn giản hay còn gọi là mô hình SISO (Single Input  
Single Output) là tập các luật mà trong đó mỗi luật chỉ chứa một điều kiện và  
một kết luận được cho như sau:  
if X = A1 then Y = B1  
if X = A2 then Y = B2  
. . . . . . . .  
(1.1)  
if X = An then Y = Bn  
trong đó X, Y là các biến ngôn ngữ thuộc không gian U, V tương ứng và  
các giá trị ngôn ngữ A1, A2,…, An, B1, B2, …, Bn là các tập mờ.  
Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực, chẳng hạn như trong điều khiển, sự phụ  
thuộc giữa các biến vật lý không chỉ biểu diễn ở dạng đơn giản như mô hình  
trên mà nó bao gồm nhiều điều kiện ràng buộc. Vì vậy, một mô hình mờ ở dạng  
tổng quát là một tập các luật (mệnh đề If-then) mà phần tiền đề của mỗi luật là  
một điều kiện phức được viết như sau:  
If X1 = A11 and ... and Xm = A1m then Y = B1  
If X1 = A21 and ... and Xm = A2m then Y = B2  
. . . . . . . .  
(1.2)  
If X1 = An1 and ... and Xm = Anm then Y = Bn  
ở đây X1, X2, …, Xm và Y là các biến ngôn ngữ, Aij, Bi (i = 1,…, n; j =  
1,…, m) là các giá trị ngôn ngữ tương ứng ([11]).  
 
5
Hầu hết các ứng dụng trong hệ chuyên gia mờ, phân cụm mờ, điều khiển  
mờ,… liên quan đến việc suy diễn thì mô hình mờ là một phần không thể thiếu  
và do vậy các ứng dụng này luôn gắn liền với các phương pháp giải quyết bài  
toán lập luận xấp xỉ đa điều kiện. Bài toán lập luận xấp xỉ mờ đa điều kiện được  
phát biểu như dưới đây:  
Cho mô hình mờ (1.2) và các giá trị ngôn ngữ A01, A02, …, A0m tương ứng  
với các biến ngôn ngữ X1, X2, …, Xm . Hãy tính giá trị của Y.  
Có nhiều phương pháp để giải quyết bài toán này. Các phương pháp cụ  
thể sẽ được trình bày ở Mục 1.3.  
1.2. Đại số gia tử  
Trong mô hình mờ thường dùng các mô tả ngôn ngữ cho các biến vật lý.  
Với mỗi biến ngôn ngữ X, gọi X = Dom(X) là tập các giá trị ngôn ngữ của biến  
X. Miền giá trị X được xem như một ĐSGT AX = (X, G, H, ) trong đó G là tập  
các phần tử sinh, H là tập các gia tử còn “” là quan hệ cảm sinh ngữ nghĩa trên  
X. Ta cũng giả thiết rằng trong G có chứa các phần tử 0, 1, W với ý nghĩa là phần  
tử bé nhất, phần tử lớn nhất và phần tử trung hòa (neutral) trong X.  
Nếu tập X và H là các tập sắp thứ tự tuyến tính, khi đó ta nói AX = (X, C,  
H, ) là ĐSGT tuyến tính.  
Khi tác động gia tử h H vào phần tử x X, thì ta thu được phần tử ký hiệu  
hx. Với mỗi x X ta ký hiệu H(x) là tập tất cả các phần tử u thuộc X xuất phát từ x  
bằng cách sử dụng các gia tử trong H và ta viết u = hn…h1x, với hn, …, h1 H.  
Bây giờ chúng ta sẽ xét một vài tính chất được phát biểu trong các định lý  
dưới đây của ĐSGT tuyến tính.  
Định lý 1.1. ([12]) Cho tập H– và H+ là các tập sắp thứ tự tuyến tính của  
ĐSGT AX = (X, G, H, ). Khi đó ta có các khẳng định sau:  
(1) Với mỗi u X thì H(u) là tập sắp thứ tự tuyến tính.  
 
6
(2) Nếu X được sinh từ G bởi các gia tử và G là tập sắp thứ tự tuyến tính  
thì X cũng là tập sắp thứ tự tuyến tính. Hơn nữa nếu u < v, và u, v là  
độc lập với nhau, tức là u H(v) và v H(u), thì H(u) H(v).  
Một cách tổng quát hơn như đã chứng minh trong tài liệu ([12]), mỗi miền  
ngôn ngữ của biến ngôn ngữ có thể được tiên đề hóa và được gọi là ĐSGT AX  
= (X, G, H, ), trong đó H là tập thứ tự tuyến tính bộ phận. Chúng ta có định  
lý sau.  
Định lý 1.2. ([12]) Cho ĐSGT AX = (X, G, H, ). Khi đó ta có các khẳng  
định sau:  
(1) Các toán tử trong Hc là so sánh được với nhau, c {+, –}.  
(2) Nếu x X là điểm cố định đối với toán tử h H, tức là hx = x, thì nó  
là điểm cố định đối với các gia tử khác.  
(3) Nếu x = hn…h1u thì tồn tại chỉ số i sao cho hi…h1u của x là một biểu  
diễn chuẩn của x tương ứng với u (x = hi…h1u và hi…h1u ≠ hi-1…h1u)  
và hjx = x với mọi j > i.  
(4) Nếu h ≠ k và hx = kx thì x là điểm cố định.  
(5) Với bất kỳ gia tử h, k H, nếu x ≤ hx (x ≥ hx) thì x <≤ hx (x ≥> hx) và  
nếu hx < kx, h ≠ k, thì hx <≤ kx.  
Trong [9] các tác giả đã chỉ ra rằng mỗi ĐSGT đầy đủ là một dàn với phần  
tử đơn vị là 1 và phần tử không là 0.  
Để thuận tiện về sau, chúng ta nêu ra định lý kế tiếp dùng để so sánh hai  
phần tử trong miền ngôn ngữ của biến ngôn ngữ X.  
Định lý 1.3. Cho x = hn…h1u và y = km…k1u là hai biểu diễn chuẩn của x  
và y tương ứng với u. Khi đó tồn tại chỉ số j ≤ min{n, m} + 1 sao cho hj’ = kj’  
với mọi j’ < j (ở đây nếu j = min {m, n} + 1 thì hoặc hj là toán tử đơn vị I, hj =  
I, j = n + 1 ≤ m hoặc kj = I, j = m + 1 ≤ n) và  
7
(1) x < y khi và chỉ khi hjxj < kjxj, trong đó xj = hj-1...h1u.  
(2) x = y khi và chỉ khi m = n và hjxj = kjxj.  
(3) x và y là không so sánh được với nhau khi và chỉ khi hjxj và kjxj là  
không so sánh được với nhau.  
1.2.1. Độ đo tính mờ của các giá trị ngôn ngữ  
Khái niệm độ đo tính mờ của các giá trị ngôn ngữ là một khái niệm trừu  
tượng không dễ để xác định bằng trực giác và có nhiều cách tiếp cận khác nhau,  
để xác định khái niệm này. Thông thường, trong lý thuyết tập mờ, các cách tiếp  
cận chủ yếu là dựa trên hình dạng của tập mờ. Với ĐSGT có thể xác định được  
độ đo tính mờ của các giá trị ngôn ngữ một cách hợp lý.  
Giá trị ngôn ngữ nào càng đặc trưng thì độ đo tính mờ càng nhỏ. Chẳng  
hạn, độ đo tính mờ của giá trị ngôn ngữ More_or_less True (MLtrue), Possibly  
True là nhỏ hơn độ đo tính mờ của True. Tuy nhiên trong lý thuyết tập mờ  
không thể hiện được điều đó. Thật vậy, giả sử ngữ nghĩa của giá trị ngôn ngữ  
được biểu diễn bởi tập mờ. Độ đo tính mờ của các giá trị ngôn ngữ là khoảng  
cách giữa tập mờ biểu thị cho giá trị ngôn ngữ đó với tập rõ gần nó nhất. Nếu  
chúng ta biểu diễn từ true bởi hàm thuộc µtrue(t)= t trên đoạn [0,1] và MLtrue  
bởi µMLtrue(t) = tα với α = 2/3 < 1 thì độ đo tính mờ của true bằng 1/4, nhưng độ  
đo tính mờ của MLtrue bằng  
4 2 1  
10  
4
Rõ ràng cách xác định độ đo tính mờ như vậy là không thích hợp so với ý  
kiến ban đầu đặt ra. Vì vậy để xác định độ đo tính mờ một cách hợp lý, trước hết  
chúng ta phải tìm ra một số tính chất trực giác về độ đo tính mờ của giá trị ngôn  
ngữ. Những tính chất này chính là nền tảng cho việc xác lập các định nghĩa.  
Ký hiệu fm(τ) là độ đo tính mờ của phần tử τ, τ X và chúng ta cũng giả  
sử rằng độ đo tính mờ của mỗi phần tử luôn thuộc đoạn [0,1]. Một số tính chất  
trực giác của fm(τ):  
 
8
(1) fm(τ) = 0, nếu τ là giá trị rõ.  
(2) Nếu h là một gia tử và τ là giá trị mờ thì hτ đặc trưng hơn τ, vì vậy ta  
có fm(hτ) < fm(τ).  
(3) Xét hai phần tử sinh true và false của ĐSGT. Vì đây là các khái niệm  
trái ngược nhau nhưng bổ sung cho nhau nên chúng ta có thể chấp  
nhận điều kiện sau:  
fm(true) + fm(false) ≤ 1.  
Chúng ta nhận thấy rằng, nếu fm(true) + fm(false) < 1 thì bắt buộc phải  
tồn tại khái niệm τ khác bổ sung cho cả true và false để fm(true) + fm(false) +  
fm(τ) = 1. Trường hợp này không tồn tại trong ngôn ngữ tự nhiên. Vì thế, ta có  
fm(true) + fm(false) = 1. Từ đó suy ra rằng, nếu c+, c– là hai phần tử sinh trong  
X thì:  
fm(c+) + fm(c–) = 1  
(4) Bây giờ chúng ta xét tập gia tử H = {Very, More, Possibly, Little} và  
tập các giá trị H[true] = {VeryTrue, MoreTrue, PossiblyTrue,  
LittleTrue}, tất cả các phần tử của tập này đều đặc trưng hơn true.  
Theo nhận định ở điểm (2), độ đo tính mờ của true lớn hơn mọi độ  
đo của các phần tử trong H[true]. Chúng ta có thể xác định một cách  
trực giác rằng độ đo tính mờ của true được thiết lập thông qua độ đo  
tính mờ của các phần tử bắt nguồn từ true và chấp nhận điều kiện sau  
đây:  
fm(Verytrue)+fm(Moretrue)+fm(Poss. true)+fm(Littletrue)≤ fm(true).  
Tương tự như thảo luận trong (3), ta có:  
fm(Verytrue)+fm(Moretrue)+fm(Poss.true)+fm(Littletrue)= fm(true).  
Một cách tổng quát, giả sử τ là giá trị ngôn ngữ bất kỳ thuộc X thì:  
fm(Very τ) + fm(More τ) + fm(Poss. τ) + fm(Little τ) = fm(τ).  
9
Cuối cùng chúng ta có thể biểu diễn độ đo tính mờ của biến ngôn ngữ  
TRUTH như trong Hình 1.1 dưới đây.  
True  
Poss.  
True  
More  
True  
LittleTrue  
VeryTrue  
1
W
fm(LLTr)  
fm(PVTr)  
fm(MLTr)  
fm(VVTr)  
fm(M Tr)  
fm(LVTr)  
fm(VLTr)  
fm(MVTr)  
fm(PLTr)  
fm(LittleTr)  
fm(VeryTrue)  
fm(PossTr))  
fm(True)  
Hình 1. 1 Độ đo tính mờ  
Định nghĩa 1.2. Xét đại số gia tử AX = (X, G, H, ) của biến ngôn ngữ X.  
Một hàm φ: X → [0,1] được gọi là hàm độ đo tính mờ trên X nếu tồn tại một  
xác suất P trên X sao cho P xác định trên tập H(τ). Với mỗi phần tử τ X thì  
P(H(τ)) = 0 nếu τ {0, 1, W} và φ(τ) = P(H(τ)).  
Từ định nghĩa ta thấy “kích cỡ” của tập H(τ) thể hiện độ đo tính mờ của  
phần tử τ. Chúng ta dễ dàng nhận ra rằng hàm φ thỏa mọi tính chất trực giác đã  
đề xuất trên. Cụ thể là:  
Tính chất (p1): φ(0) = φ(1) = φ(W) = 0.  
Tính chất (p2): φ(hτ) ≤ φ(τ), với mọi τ X và h H.  
Tính chất (p3): φ(c–) + φ(c+) = 1, với c–, c+ là hai phần tử sinh trong X.  
Tính chất (p4): (h) (), τ X.  
hH  
10  
Chúng ta cũng có thể viết lại tính chất (p4) như sau:  
(h) /() 1  
,
hH  
tổng này không thay đổi với mọi τ X. Chúng ta có thể xem tỷ lệ φ(hτ)/φ(τ) là  
một hằng số và nó đặc trưng cho gia tử h. Ta có tính chất sau:  
Tính chất (p5): Tỷ lệ φ(hτ)/φ(τ) không phụ thuộc vào τ và nó được gọi là  
độ đo tính mờ của gia tử h, ký hiệu µ(h).  
Định lý 1.4. Độ đo tính mờ trên X là duy nhất được xác định bởi các tham  
số φ(c–), φ(c+) và µ(h), h H thỏa các đẳng thức sau: φ(c–) + φ(c+) = 1,  
(h) 1 và φ(x) được định nghĩa đệ quy bởi công thức φ(hx’) = µ(h)φ(x’),  
hH  
với x = hx’, h H.  
1.2.2. Hàm định lượng ngữ nghĩa  
Nhu cầu tự nhiên trong cách tiếp cận tính toán lập luận của con người là  
định lượng các giá trị ngôn ngữ, chẳng hạn như trong các lĩnh vực phân cụm  
mờ, điều khiển mờ, …  
Theo cách tiếp cận của tập mờ, các giá trị định lượng của mỗi tập mờ là giá  
trị khử mờ của hàm thuộc tương ứng. Đối với ĐSGT, vì các giá trị ngôn ngữ tuân  
theo thứ tự ngữ nghĩa nên chúng ta sẽ thiết lập hàm định lượng các từ (giá trị ngôn  
ngữ) vào đoạn [0,1] đảm bảo thứ tự, hàm này được gọi là hàm ĐLNN.  
Xét ĐSGT AX = (X, G, H, ) trong đó tập gia tử H = H+H– và giả sử  
rằng H– = {h–1, h–2, …, h–q} thỏa h–1 < h–2 < …< h–q; H+ ={h1, h2, …, hp} thỏa  
h1 < h2 < …< hp, và h0 = I với I là toán tử đơn vị.  
Chúng ta cần có các mệnh đề và định nghĩa sau:  
Mệnh đề 1.1. Cho fm là hàm độ đo tính mờ trên X. Ta có:  
(1) fm(hx) = (h)fm(x), với x X.  
(2) fm(c) + fm(c+) = 1.  
+
fm(h c) fm(c)  
(3)  
, trong đó c {c , c }  
i
qip,i0  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 78 trang yennguyen 18060 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Phương pháp lập luận xấp xỉ tối ưu dựa trên đại số gia tử và ứng dụng trong điều khiển mờ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_phuong_phap_lap_luan_xap_xi_toi_uu_dua_tren_dai_so.pdf