Luận văn Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng tại Công ty Điện lực Đồng Tháp

I
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp  
đỡ từ phía nhà trường, Thầy Cô, đồng nghiệp và bạn bè.  
Lời đầu tiên, tôi xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Dương Trung  
Kiên, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn  
này.  
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Trường Đại học Điện lực đã truyền  
đạt những kiến thức, những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt khoá học.  
Chân thành cám ơn lãnh đạo Tổng công ty Điện lực miền Nam, Ban Giám  
đốc, các Phòng, Ban, các đồng nghiệp đang công tác tại Công ty Điện lực Đồng  
Tháp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện.  
Trong quá trình viết luận văn, tôi đã cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ,  
song do hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên chắc chắn luận văn không thể  
tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Rất mong nhận được sự đóng góp ý  
kiến, giúp đỡ của quý Thầy Cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2015  
Ngƣời thực hiện  
Nguyễn Chí Thanh  
 
II  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi cam đoan rằng tôi viết luận văn này một cách độc lập và không sử dụng  
các nguồn thông tin hay tài liệu tham khảo nào khác ngoài những tài liệu và thông  
tin đã được liệt kê trong phần thư mục tài liệu tham khảo của luận văn.  
Những phần trích đoạn hay những nội dung lấy từ các nguồn tham khảo  
được liệt kê trong phần danh mục tài liệu tham khảo dưới dạng những đoạn trích  
dẫn hay lời diễn giải trong luận văn kèm theo thông tin về nguồn tham khảo rõ ràng.  
Bản luận văn này chưa từng được xuất bản và cũng chưa nộp qua hội đồng  
nào khác cũng như chưa chuyển cho bên nào khác có quan tâm đến nội dung luận  
văn này.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2015  
Ngƣời thực hiện  
Nguyễn Chí Thanh  
 
III  
MỤC LỤC  
Trang  
 
IV  
V
VII  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Bảng 2.1.  
Bảng 2.2.  
Bảng 2.3.  
Bảng 2.4.  
Bảng 2.5.  
Bảng 2.6.  
Bảng 2.7.  
Bảng 2.8.  
Bảng 2.9.  
Thống kê nhân sự của Công ty  
Thống kê khối lượng khách hàng theo 5 thành phần phụ tải  
Thống kê khối lượng đường dây và TBA  
Thống kê sản lượng điện thương phẩm từ năm 2010 đến năm 2014  
Cơ cấu điện thương phẩm theo 5 thành phần phụ tải  
Giá bán điện bình quân từ năm 2010 đến năm 2014  
Tổn thất điện năng từ năm 2010 đến năm 2014  
Phát triển khách hàng từ năm 2010 đến năm 2014  
Độ tin cậy lưới điện phân phối năm 2013 và 2014  
Bảng 2.10. Kết quả giải quyết cấp điện từ năm 2012 đến năm 2014  
Bảng 2.11. Kết quả đánh giá mức độ hài lòng khách hàng sinh hoạt năm 2014  
Bảng 2.12. Kết quả đánh giá mức độ hài lòng khách hàng NSH năm 2014  
 
VIII  
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ  
Phân loại nguồn nhân lực của Công ty  
Biểu đồ 2.1  
Biểu đồ 2.2  
Biểu đồ 2.3  
Biểu đồ 2.4  
Biểu đồ 2.5  
Biểu đồ 2.6  
Thương phẩm từ năm 2010 đến năm 2014  
Thương phẩm theo năm thành phần từ năm 2010 đến năm 2014  
Giá bán điện bình quân từ năm 2010 đến năm 2014  
Tổn thất điện năng từ năm 2010 đến năm 2014  
Biểu diễn so sánh kết quả đánh giá mức độ hài lòng khách hàng  
sinh hoạt năm 2014 giữa PCĐT và EVNSPC  
Biểu đồ 2.7  
Biểu đồ 2.8  
Biểu đồ 2.9  
Biểu đồ 2.10  
Biểu đồ 2.11  
Biểu diễn so sánh chi tiết kết quả đánh giá mức độ hài lòng khách  
hàng sinh hoạt năm 2014 giữa PCĐT và EVNSPC  
Biểu diễn so sánh kết quả đánh giá mức độ hài lòng khách hàng  
sinh hoạt năm 2013 và 2014 của PCĐT  
Biểu diễn so sánh kết quả đánh giá mức độ hài lòng khách hàng  
NSH năm 2014 giữa PCĐT và EVNSPC  
Biểu diễn so sánh chi tiết kết quả đánh giá mức độ hài lòng khách  
hàng NSH năm 2014 giữa PCĐT và EVNSPC  
Biểu diễn so sánh kết quả đánh giá mức độ hài lòng của khách  
hàng ngoài sinh hoạt năm 2013, 2014 của PCĐT  
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của PCĐT  
Hình 2.1  
Hình 3.1  
Dự kiến kế hoạch đào tạo cho CBCNV của PCĐT  
 
IX  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
UBND  
EVNSPC  
PCĐT  
Ủy ban nhân dân  
Tổng công ty Điện lực miền Nam  
Công ty Điện lực Đồng Tháp  
Chỉ số tần suất mất điện trung bình của hệ thống (System Average  
Interruption Frequency Index)  
SAIFI  
SAIDI  
MAIFI  
Chỉ số thời gian mất điện trung bình của hệ thống (System Average  
Interruption Duration Index)  
Chỉ số tần suất mất điện thoáng qua trung bình của hệ thống  
(Momentary Average Interruption Frequency Index)  
Hệ thống thông tin quản lý khách hàng  
Hợp đồng mua bán điện  
CMIS  
HĐMBĐ  
TBA  
Trạm biến áp  
SCL  
Sửa chữa lớn  
SCTX  
ĐTXD  
TU  
Sửa chữa thường xuyên  
Đầu tư xây dựng  
Máy biến điện áp  
TI  
Máy biến dòng điện  
VTTB  
Vật tư thiết bị  
Công nghệ truyền thông tin trên đường dây tải điện (Power Line  
Communication)  
PLC  
HĐĐT  
Hóa đơn điện tử  
Đội QLLĐ Đội quản lý lưới điện  
DVKH  
CSKH  
GDKH  
KHKT  
Dịch vụ khách hàng  
Chăm sóc khách hàng  
Giao dịch khách hàng  
Kế hoạch kỹ thuật  
   
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Cùng với sự phát triển của xã hội thì nhu cầu của con người (khách hàng sử  
dụng điện) ngày càng cao vì vậy đòi hỏi ngành Điện cũng phải thay đổi để đáp ứng  
nhu cầu đó, công tác DVKH cũng phải thay đổi cho phù hợp với thời kỳ mới.  
Hiện nay, người dân (khách hàng sử dụng điện) quan niệm rằng “ngành điện  
là ngành độc quyền”, do đó họ ít có thiện cảm đối với ngành điện nhất là những thời  
điểm thay đổi giá bán điện, chính vì vậy chúng ta cần phải thay đổi hình ảnh của  
ngành diện và quan điểm của khách hàng bằng các dịch vụ và CSKH của ngành  
điện.  
Công tác DVKH là một trong những mục tiêu trọng tâm của Tập toàn Điện  
lực Việt Nam, Tổng công ty Điện lực miền Nam, Công ty Điện lực Đồng Tháp, vì  
vậy từ năm 2012 đến nay, Tập đoàn Điện lực Việt Nam không ngừng nâng cao chất  
lượng DVKH và đặc biệt trong năm 2013 Tập đoàn chọn làm năm DVKH. Năm  
2014, 2015 tiếp tục phát huy những việc đã làm được Tập đoàn và Tổng công ty  
tiếp tục triển khai công tác nâng cao chất lượng DVKH.  
Với công việc hiện nay phụ trách công tác Kinh doanh và DVKH tại Công ty  
Điện lực Đồng Tháp, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp  
nâng cao chất lượng DVKH tại Công ty Điện lực Đồng Tháp” làm luận văn tốt  
nghiệp khóa Cao học của mình. Hy vọng rằng những gì rút ra được từ nghiên cứu  
nhỏ này sẽ hữu ích cho công việc của Công ty và bản thân tôi sau này.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng công tác dịch vụ và CSKH tại  
Công ty Điện lực Đồng Tháp, từ đó tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng  
DVKH để đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng DVKH tại Công ty Điện  
lực Đồng Tháp trong thời gian tới.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lĩnh vực dịch vụ và CSKH (khách hàng  
sử dụng điện, nhân viên giao dịch khách hàng, trực ban vận hành);  
2
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: khách hàng, CBCNV Công ty Điện lực  
Đồng Tháp.  
4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
- Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng: thống kê, so sánh, tổng hợp  
và phân tích số liệu.  
- Dữ liệu được thu thập dựa trên 2 nguồn sơ cấp và thứ cấp:  
+ Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc trao đổi với nhân viên thực  
hiện công tác DVKH tại các Điện lực trực thuộc Công ty Điện lực Đồng Tháp;  
+ Dữ liệu thứ cấp được thu thập trên cơ sở kế thừa các kết quả khảo sát,  
đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng năm 2013, 2014 của đơn vị tư vấn độc  
lập;  
5. Nội dung  
Nội dung của luận văn được chia làm 3 chương như sau:  
- Chƣơng I: Cơ sở lý luận về công tác dịch vụ khách hàng;  
- Chƣơng II: Phân tích thực trạng công tác dịch vụ khách hàng tại Công ty  
Điện lực Đồng Tháp.  
- Chƣơng III: Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ khách  
hàng tại Công ty Điện lực Đồng Tháp;  
3
CHƢƠNG I  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG  
1.1. Một số khái niệm cơ bản  
1.1.1. Giao tiếp  
Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin qua lại giữa hai hay nhiều người để  
thỏa mãn những nhu cầu nhất định: thông điệp, cảm xúc, ý tưởng. Hay nói cách  
khác giao tiếp có thể hiểu là một quá trình, trong đó con người chia sẻ với nhau các  
ý tưởng, thông tin và cảm xúc nhằm xác lập và vận hành các mối quan hệ.  
1.1.2. Khách hàng  
a. Khái niệm  
Khách hàng là những người mua hiện tại hoặc tiềm ẩn, có nhu cầu hay mong  
muốn cụ thể, sẳn sàng và có khả năng tham gia, trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hay  
mong muốn đó.  
Không có khách hàng sẽ không có bất cứ công ty nào tồn tại, điều này đã cho  
thấy vai trò của khách hàng trong mọi hoạt động kinh doanh.  
Việc hiểu biết đầy đủ về khách hàng là một trong những cơ sở quan trọng có  
ý nghĩa quyết định đến khả năng lựa chọn đúng cơ hội kinh doanh và sử dụng có  
hiệu quả các tiềm năng của doanh nghiệp.  
Có nhiều cách nói để hiểu khái niệm về khách hàng:  
- Khách hàng vừa là nhân tố định hướng kinh doanh quyết định doanh nghiệp  
sản xuất cái gì và sản xuất như thế nào, quy mô thị trường ra sao?  
- Khách hàng là mục tiêu cạnh tranh vì các doanh nghiệp luôn cạnh tranh với  
nhau để giành và giữ khách hàng. Khách hàng cũng là vũ khí cạnh tranh vì khách  
hàng có thể trở thành những tuyên truyền viên tích cực cho sản phẩm, dịch vụ của  
doanh nghiệp, họ có khả năng lôi kéo các khách hàng tiềm năng khác sử dụng sản  
phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, từ đó tăng doanh thu và thị phần.  
- Khách hàng là người trả lương cho doanh nghiệp vì chỉ khi có khách hàng  
và khách hàng trả tiền thì doanh nghiệp mới có thể trang trải các khoản chi phí, đảm  
bảo sự hoạt động của toàn doanh nghiệp.  
         
4
Như vậy có nhiều khái niệm về khách hàng, nhưng một khái niệm chung  
nhất được đưa ra như sau: “Khách hàng của chúng ta là những người chúng ta phục  
vụ dù họ là người ngoài hay nhân viên của doanh nghiệp, dù họ có trả tiền cho  
chúng ta hay không”  
b. Phân loại  
Đối tượng khách hàng của doanh nghiệp không chỉ giới hạn ở những người  
có nhu cầu và có khả năng mua hàng của doanh nghiệp (khách hàng bên ngoài) mà  
còn được mở rộng đối tượng là những doanh nghiệp đang phục vụ (khách hàng nội  
bộ).  
- Khách hàng bên ngoài: Đây là những người thực hiện các giao dịch với  
doanh nghiệp, bằng nhiều hình thức: gặp gỡ trực tiếp, giao dịch qua điện thoại hay  
giao dịch trực tuyến. Đây chính là cách hiểu truyền thống về khách hàng, không có  
những khách hàng như thế này, doanh nghiệp cũng không thể tồn tại.  
- Khách hàng nội bộ: nhân viên chính là “khách hàng” của doanh nghiệp và  
các nhân viên cũng chính là khách hàng của nhau. Khách hàng nội bộ tham gia vào  
quy trình cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng bên ngoài. Nếu các nhà cung  
cấp nội bộ không phục vụ khách hàng nội bộ tốt, khách hàng bên ngoài cũng sẽ  
không được phục vụ tốt.  
Doanh nghiệp có thể tạo ra một dịch vụ hoàn hảo hơn khi doanh nghiệp có  
quan tâm đến nhân viên, xây dựng được lòng trung thành của nhân viên. Đồng thời,  
các nhân viên trong doanh nghiệp có khả năng làm việc với nhau, quan tâm đáp ứng  
nhu cầu và làm hài lòng đồng nghiệp, thì họ mới có thể phục vụ các khách hàng bên  
ngoài của công ty một cách hiệu quả nhất.  
Khách hàng sử dụng điện của ngành điện bao gồm các tổ chức, cá nhân được  
phân loại theo mục đích sử dụng: sinh hoạt và ngoài mục đích sinh hoạt.  
1.1.3. Dịch vụ và chất lượng dịch vụ  
a. Dịch vụ  
Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến  
cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ, hợp tác lâu dài  
 
5
với khách hàng hoặc có thể hiểu dịch vụ là một hình thức của sản phẩm bao gồm  
các hoạt động, các lợi ích hoặc các sự thỏa mãn đã được đưa ra bán và nó chủ yếu là  
vô hình và không có sự sở hữu vật chất.  
Dịch vụ có bốn đặc điểm:  
- Tính vô hình: dịch vụ không có hình dáng cụ thể, không thể sờ mó, cân  
đong, đo đếm một cách cụ thể như đối với các sản phẩm vật chất hữu hình. Khi mua  
sản phẩm vật chất, khách hàng có thể yêu cầu kiểm định, thử nghiệm chất lượng  
trước khi mua nhưng sản phẩm dịch vụ thì không thể tiến hành đánh giá như thế.  
Do tính chất vô hình, dịch vụ không có “mẫu” và cũng không có “dùng thử” như  
sản phẩm vật chất. Chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ, khách hàng mới có thể cảm  
nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ một cách đúng đắn nhất. Người làm công tác  
kinh doanh phải tìm các hữu hình hóa các dịch vụ để tạo được lòng tin đối với  
khách hàng.  
- Tính không tách rời đƣợc: thể hiện ở việc khó có thể phân chia dịch vụ  
thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Sự tạo thành  
và sử dụng dịch vụ thông thường diễn ra đồng thời cùng lúc với nhau. Nếu hàng hóa  
thường được sản xuất, lưu kho, phân phối và sau cùng mới giao đến người tiêu dùng  
thì dịch vụ được tạo ra và sử dụng ngay trong suốt quá trình tạo ra đó. Đối với sản  
phẩm hàng hóa, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, còn đối  
với dịch vụ, khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra  
dịch vụ. Nói cách khác, sự gắn liền của hai quá trình này làm cho dịch vụ trở nên  
hoàn tất.  
- Tính không ổn định: Đặc tính này còn được gọi là tính khác biệt của dịch  
vụ. Theo đó, việc thực hiện thường khác nhau tuỳ thuộc vào cách thức phục vụ, nhà  
cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng  
phục vụ và địa điểm phục vụ.  
- Tính không lƣu giữ đƣợc: dịch vụ không thể cất giữ, lưu kho rồi đem bán  
như hàng hóa khác. Chúng có thể ưu tiên thực hiện dịch vụ theo thứ tự trước sau  
nhưng không thể đem cất dịch vụ rồi sau đó đem ra sử dụng vì dịch vụ thực hiện  
6
xong là hết, không thể để dành cho việc “tái sử dụng” hay “phục hồi” lại. Chính vì  
vậy, dịch vụ là sản phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó.  
b. Chất lượng dịch vụ  
Chất lượng là “tổng hợp những đặc tính và đặc diểm của một sản phẩm hay  
dịch vụ có khả năng làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng”. Việc xem xét chất lượng  
như sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thường được gọi là phù hợp với sử dụng.  
Trong thị trường có tính cạnh tranh cao, nếu chỉ thỏa mãn nhu cầu của khách  
hàng sẽ không thể thành công. Để thắng lợi, các tổ chức phải đáp ứng trên cả sự  
mong đợi của khách hàng, do đó chất lượng không những đáp ứng nhu cầu của  
khách hàng mà còn đáp ứng vượt qua sự mong đợi của khách hàng.  
Chất lượng dịch vụ bao gồm ba đặc điểm sau:  
- Chất lượng dịch vụ khó đánh giá hơn chất lượng hàng hóa: khi mua hàng  
hóa, người tiêu dùng có thể đánh giá chất lượng hàng hóa thông qua kiểu dáng, sự  
rắn chắc, màu sắc, nhãn hiệu, cảm giác, bao bì. Khi khách hàng sử dụng dịch vụ thì  
tính hữu hình của nó ít hơn. Chính vì sự vô hình của dịch vụ, doanh nghiệp gặp  
nhiều khó khăn để hiểu được làm thế nào khách hàng biết được dịch vụ và chất  
lượng dịch vụ mà mình cung cấp.  
- Chất lượng dịch vụ được đánh giá bởi khách hàng: chất lượng dịch vụ là kết  
quả của cảm nhận từ sự so sánh giữa sự mong đợi với thực tế sử dụng dịch vụ, là sự  
đo lường mức độ thực hiện dịch vụ có phù hợp với mong đợi của khách hàng. Chất  
lượng thực hiện dịch vụ có nghĩa là làm cho phù hợp với mong đợi, đo lường mức  
độ dịch vụ đưa đến cho khách hàng có tương xứng với sự mong đợi một chất lượng  
tốt hay không. Việc xây dựng thành công chất lượng dịch vụ nghĩa là sự mong đợi  
của các khách hàng đã được đáp ứng một cách đồng nhất.  
- Đánh giá chất lượng không chỉ đánh giá kết quả của dịch vụ mà còn bao  
gồm cả việc đánh giá trong quá trình cung cấp dịch vụ: những nhà nghiên cứu đã  
thảo luận ba thước đo khác nhau về hiệu năng của dịch vụ là mức độ nguyên vật  
liệu, cơ sở vật chất và con người. Nó phản ánh chất lượng của trang thiết bị, máy  
7
móc; quy mô, hình ảnh của doanh nghiệp và sự tương tác giữa tiếp xúc nhân viên  
với khách hàng trong quá trình cung ứng dịch vụ.  
1.1.4. Chăm sóc và dịch vụ khách hàng  
a. Chăm sóc khách hàng  
CSKH là phục vụ khách hàng nhƣ họ muốn được phục vụ. Mục đích của  
việc CSKH là làm cho họ hài lòng với dịch vụ được cung cấp và họ sẽ sử dụng dịch  
vụ lần nữa trong tương lai. Muốn CSKH phải xác định xem khách hàng muốn gì  
(hỏi và lắng nghe) và phục vụ họ như họ muốn, nếu không phục vụ được thì phải  
chuyển sang thuyết phục khách hàng.  
CSKH là phải chăm sóc cả hai loại khách hàng bên ngoài và khách hàng nội  
bộ, một tổ chức thật sự quan tâm đến khách hàng thì cũng xem nhân viên của mình  
là khách hàng.  
b. Dịch vụ khách hàng  
DVKH là một chuỗi liên hoàn các mắt xích, từ Lãnh đạo đến nhân viên giao  
dịch đều là khách hàng của nhau, chỉ cần một mắt xích yếu thì DVKH không tốt,  
ảnh hưởng đến nhân viên và Công ty (một số nhân viên không giao tiếp trực tiếp  
với khách hàng nhưng gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng DVKH).  
Các mắt xích trong chuỗi dịch vụ càng dài, nguy cơ (xu hướng) chất lượng  
DVKH càng thấp, càng khó quản lý hay nói cách khác mắt xích càng nhiều thì dịch  
vụ càng tồi. Để nâng cao chất lượng DVKH, người ta có xu hướng rút ngắn các mắt  
xích lại, quản lý chặt chẽ các mắt xích để giữ cho dịch vụ chất lượng tốt.  
DVKH bao gồm rất nhiều khâu, nhiều mắt xích. Như vậy sẽ có nhiều nhân  
viên cùng tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Để cung cấp  
cho khách hàng dịch vụ có chất lượng cao, tất cả nhân viên ở mọi mắt xích, mọi  
khâu phải liên kết với nhau một cách nhịp nhàng và phải biết cách làm việc theo  
nhóm một cách hiệu quả. Chỉ cần một khâu, một “mắt xích”, một nhân viên không  
làm tốt công việc của mình, thì chất lượng dịch vụ không thể tốt được. Hậu quả của  
việc làm theo nhóm kém là chất lượng dịch vụ kém – dẫn tới mất khách hàng. Vậy  
để làm việc theo nhóm giữa các nhân viên đạt hiệu quả cao, từng nhân viên phải  
 
8
làm tốt trọng trách của mình, mắt xích của mình nghĩa là phục vụ đồng nghiệp của  
mình tốt để họ phục vụ khách hàng bên ngoài.  
1.1.5. Độ tin cậy cung cấp điện  
Trong những năm qua, Tổng công ty đánh giá độ tin cậy cung cấp điện cho  
khách hàng bằng các chỉ tiêu về suất sự cố lưới điện. Ngày nay, cùng với sự phát  
triển nhanh chóng của phụ tải, yêu cầu về cung cấp điện cũng phải được nâng cao  
để đáp ứng nhu cầu phụ tải, làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Vì vậy Bộ Công  
Thương đã đưa ra các chỉ số cơ bản để đánh giá độ tin cậy đã được áp dụng phổ  
biến ở các quốc gia tiên tiến trên thế giới là: SAIFI, SAIDI và MAIFI để làm cơ sở  
tính toán, đánh giá khả năng cung cấp điện của các Đơn vị phân phối điện.  
Độ tin cậy cung cấp điện của lưới điện phân phối được hiểu là khả năng của  
hệ thống cung cấp đầy đủ và liên tục điện năng cho hộ tiêu thụ với chất lượng điện  
năng (Điện áp và tần số) đảm bảo (đúng quy định).  
- Chỉ số tần suất mất điện trung bình của hệ thống (System Average  
Interruption Frequency Index – SAIFI): Chỉ số này cung cấp thông tin về số lần mất  
điện trung bình của một khách hàng (trong một khu vực) trong một năm.  
SAIDI được tính bằng tổng thời gian mất điện của các Khách hàng sử dụng  
điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện  
trong một năm chia cho tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối  
và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong năm đó, theo công thức  
sau:  
 
    
∑
   
 
 
       
 
Trong đó:  
+ Ti: Thời gian mất điện lần thứ i kéo dài trên 5 phút trong năm;  
+ K: Tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ  
điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong năm.  
 
9
+ Ki: Số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện  
mua điện của Đơn vị phân phối điện bị ảnh hưởng bởi lần mất điện thứ i trong  
năm;  
+ n: số lần mất điện kéo dài trên 5 phút trong năm;  
- Chỉ số thời gian mất điện trung bình của hệ thống (System Average  
Interruption Duration Index - SAIDI): Chỉ số này cung cấp thông tin về thời gian  
(phút hoặc giờ) mất điện trung bình của một khách hàng (trong một khu vực) trong  
một năm.  
SAIFI được tính bằng tổng số lần mất điện của Khách hàng sử dụng điện và  
các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong năm  
chia cho tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện  
mua điện của Đơn vị phân phối điện trong năm, theo công thức sau:  
n
SAIFI  
K
Trong đó:  
+ n: số lần mất điện kéo dài trên 5 phút trong năm;  
+ K: Tổng số khách hàng trong năm của Đơn vị phân phối điện.  
- Chỉ số tần suất mất điện thoáng qua trung bình của hệ thống (Momentary  
Average Interruption Frequency Index – MAIFI): Chỉ số này cung cấp thông tin về  
số lần mất điện thoáng qua trung bình của một khách hàng (trong một khu vực)  
trong một năm.  
MAIFI được tính bằng tổng số lần mất điện thoáng qua của Khách hàng sử  
dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối  
điện trong năm chia cho tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối  
và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong năm đó, theo công thức  
sau:  
 
       
 
10  
Trong đó:  
+ m: số lần mất điện thoáng qua trong năm;  
+ K: Tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ  
điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong năm.  
1.2. Ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác chăm sóc và DVKH  
Trước đây, các doanh nghiệp chỉ quan tâm đến sản xuất sản phẩm thật tốt và  
hoàn mỹ để cung ứng cho khách hàng, ít coi trọng công tác chăm sóc và phục vụ  
khách hàng thì ngày nay quan niệm này trở nên lạc hậu, không còn phù hợp trong  
nền kinh tế thị trường. Vài năm gần đây, DVKH được phát triển mạnh mẽ và được  
xem như là vũ khí cạnh tranh hiệu quả của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.  
DVKH là một nội dung cần thiết và mong muốn của doanh nghiệp, nếu  
DVKH bảo đảm thỏa mãn khách hàng sẽ mang lại nhiều ưu thế cho doanh nghiệp.  
DVKH tốt sẽ gây được uy tín cho doanh nghiệp càng lớn, thương hiệu của khách  
hàng càng được nhiều người biết đến, giúp doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh  
cao trên thị trường kinh doanh. DVKH tốt không những giữ được khách hàng hiện  
có của doanh nghiệp mà còn thu hút thêm nhiều khách hàng mới trong tương lai,  
giảm chi phí đầu tư cho việc giữ khách hàng cũ và tăng khách hàng mới.  
CSKH có vai trò giữ mức doanh thu trong doanh nghiệp, tạo dựng hình ảnh  
và uy tín trong doanh nghiệp. Điều mà khách hàng, dù là cá nhân hay doanh nghiệp,  
đều mong muốn hơn cả từ hàng hóa hay dịch vụ họ mua là chúng phải hoàn toàn  
đáng tin cậy. Điều này có nghĩa là một chương trình CSKH, yếu tố sản phẩm  
thường phải được đặt lên hàng đầu và tiếp theo là yếu tố con người. Tất cả những  
nụ cười thân thiện và những lời chào mời lịch sự không thể bù đắp cho những sản  
phẩm không đáng tin cậy hay những dịch vụ không đạt tiêu chuẩn.  
Khi doanh nghiệp bị mất đi một khách hàng họ sẽ mất doanh thu và lợi  
nhuận, uy tín doanh nghiệp giảm. Khi một khách hàng hài lòng về doanh nghiệp họ  
sẽ nói với bốn người khác, khi không hài lòng họ sẽ nói với mười người khác hoặc  
nhiều hơn. Vì vậy CSKH ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.  
 
11  
Giữ một khách hàng đang có thì dễ hơn và rẽ hơn mười lần so với việc chinh phục  
được một khách hàng mới.  
Các công ty phải học cách chuyển từ tiêu điểm tạo sản phẩm sang tiêu điểm  
sở hữu khách hàng. Các công ty phải thức tỉnh trước sự việc họ có một ông chủ mới  
– khách hàng. Nếu nhân viên không hiểu khách hàng, họ sẽ không thể làm hài lòng  
khách hàng của mình một cách tốt nhất.  
CSKH luôn luôn là một yêu cầu cần thiết trong công việc kinh doanh. Khách  
hàng là những người đầy đòi hỏi, muốn được đối xử nhã nhặn, được tôn trọng và  
được nghe những lời cảm ơn chân thật. Những điều mà khách hàng cần hỏi khi mua  
sản phẩm dịch vụ là rất nhiều và gần như vô tận. Vì vậy hệ thống khách hàng theo  
một quy trình tận tình và chuyên nghiệp đang ngày càng quan trọng và cần thiết với  
các nhà kinh doanh. Việc hoạch định chiến lược càng chi tiết kỹ càng sẽ càng củng  
cố thêm sự thành công của doanh nghiệp. Mặt khác việc nắm rõ các thông tin sự  
hiểu biết về khách hàng cũng như đối thủ cạnh tranh và thị trường sẽ làm tăng sự  
sáng tạo của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh. Chính điều đó sẽ giúp  
doanh nghiệp đưa ra thị trường những sản phẩm mới độc đáo, phương thức phân  
phối, cách thức tiếp cận nhằm thu hút khách hàng… Bởi ấn tượng và cảm nhận của  
khách hàng khi mua sản phẩm hay dịch vụ là rất quan trọng vì nếu họ cảm thấy hài  
lòng với sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp họ sẽ tiếp tục quay lại mua  
sản phẩm. Chính điều này đã giúp cho doanh nghiệp vừa tiết kiệm chi phí khuyếch  
trương, cũng như tiết kiệm được thời gian thuyết phục khách hàng so với việc bỏ  
chi phí để thu hút thêm một khách hàng mới, hơn thế nữa họ lại có những khách  
hàng hết sức trung thành với sản phẩm dịch vụ của mình. Khi mà doanh nghiệp đã  
cung cấp hàng hóa, dịch vụ đáp ứng thực sự mong muốn của khách hàng và xây  
dựng một mối quan hệ tốt đẹp cho cả hai, khách hàng sẽ cảm nhận mình là một đối  
tác giao dịch của doanh nghiệp thay vì là nguồn thu của doanh nghiệp.  
Chính vì vậy ta có thể nói: “Dịch vụ và CSKH là mạch máu của tất cả các doanh  
nghiệp”.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 108 trang yennguyen 10700 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng tại Công ty Điện lực Đồng Tháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_va_de_xuat_mot_so_giai_phap_nang_cao_cha.pdf