Tóm tắt Luận văn Đánh giá hiện trạng nguồn lợi tôm hùm giống vùng biển ven bờ bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng và đề xuất các giải pháp khai thác hợp lý

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
PHAN VĂN MỸ  
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NGUỒN LỢI  
TÔM HÙM GIỐNG VÙNG BIỂN VEN BỜ  
BÁN ĐẢO SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG  
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHAI THÁC HỢP LÝ  
Chuyên ngành : Sinh thái học  
Mã số  
: 60.42.60  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC  
Đà Nẵng - Năm 2013  
Công trình được hoàn thành tại  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN LONG  
Phản biện 1: TS. LÊ TRỌNG SƠN  
Phản biện 2: TS. PHẠM THỊ HỒNG HÀ  
Luận văn đã được bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận văn tốt  
nghiệp Thạc sĩ khoa học họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 22  
tháng 5 năm 2013  
* Có thể tìm hiểu luận văn tại :  
- Trung tâm thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
- Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng.  
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Tôm hùm là thực phẩm cao cấp, phổ biến được nhiều người  
trên thế giới ưa chuộng. Tôm hùm là nguồn lợi quan trọng, mang lại  
nguồn thu lớn trong nghề cá, nguồn nguyên liệu quý cho y học và  
được dùng làm đồ mỹ nghệ [15].  
Nhu cầu tiêu thụ cao đã thúc đẩy nghề khai thác tôm hùm phát  
triển mạnh, do khai thác tôm hùm thương phẩm quá mức, nhiều nước  
trên thế giới đã bắt đầu chuyển sang nuôi, trong đó có nuôi lồng.  
Dưới sức ép nhu cầu của thị trường, trong khi việc sinh sản  
nhân tạo tôm hùm hiện nay chưa được thực hiện theo quy trình kép  
kín, nguồn giống phục vụ nuôi thương phẩm phụ thuộc hoàn toàn  
vào tự nhiên nên số lượng tôm hùm giống ngày càng bị khai thác  
triệt để. Nguy cơ đe dọa, ảnh hưởng đến nguồn lợi tôm hùm cũng  
như môi trường sống của chúng và ảnh hưởng đến các mắt xích trong  
chuỗi thức ăn trong môi trường biển là điều không thể tránh khỏi, do  
đó việc nghiên cứu nhằm sử dụng bền vững nguồn lợi tôm hùm  
giống tự nhiên đang là những yêu cầu mang tính cấp thiết từ thực  
tiễn.  
Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về tôm hùm  
giống tự nhiên, ở Đà Nẵng hiện nay chưa được nghiên cứu nhiều về  
tôm hùm giống, trong khi đó nhiều năm qua nghề khai thác tôm hùm  
giống đã diễn ra ở vùng biển ven bờ bán đảo Sơn Trà một cách tự  
phát, không theo quy hoạch, thiếu bền vững. Cơ quan quản lý đã có  
nhiều nổ lực trong việc bảo vệ các hệ sinh thái như rạn san hô nhằm  
phát triển du lịch theo định hướng của thành phố, nhưng đối với  
nguồn lợi tôm hùm giống thì hiện nay vẫn chưa có những giải pháp  
hữu hiệu để quản lý do thiếu các thông tin cụ thể.  
2
Xuất phát từ tình hình thực tế và nhằm giải quyết những tồn  
tại nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng nguồn  
lợi tôm hùm giống vùng biển ven bờ bán đảo Sơn Trà, thành phố  
Đà Nẵng và đề xuất các giải pháp khai thác hợp lý” nhằm cung  
cấp cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp, góp  
phần bảo vệ và khai thác bền vững nguồn lợi quan trọng này ở vùng  
biển ven bờ Đà Nẵng.  
2. Mục tiêu đề tài  
- Góp phần quản lý bền vững nguồn lợi tôm hùm giống ở vùng  
biển ven bờ Việt Nam.  
- Cung cấp các tư liệu về hiện trạng tôm hùm giống vùng biển  
ven bờ bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng và đề xuất các giải pháp  
khai thác bền vững.  
3. Nội dung nghiên cứu  
3.1. Điều tra đặc điểm và cơ cấu ngành nghề khai thác  
nguồn lợi tôm hùm giống.  
3.2. Xác định thành phần loài, khu vực phân bố và mùa vụ  
xuất hiện, năng suất và sản lượng khai thác các loài tôm hùm  
giống.  
3.3. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của nghề khai thác tôm  
hùm giống đối với các nhóm nguồn lợi thủy sản khác do khai thác  
không chủ đích (bycatch).  
3.4. Đề xuất các giải pháp khai thác bền vững nguồn lợi tôm  
hùm giống.  
4. Đối tượng, thời gian và phạm vi nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các loài tôm hùm giống,  
trong đó tập trung vào 03 loài có giá trị kinh tế cao mà ngư dân khai  
3
thác phục vụ nuôi lồng là Tôm Hùm bông (Panulirus ornatus), Tôm  
Hùm đá (P. homarus) và Tôm Hùm tre (P. polyphagus)  
4.2. Phạm vi và thời gian nghiên cứu: Khu vực vùng biển  
ven bờ bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Thời gian thực hiện từ  
tháng 8 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013.  
5. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp sau:  
- Nghiên cứu ngoài thực địa.  
- Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.  
- Xử lý số liệu trên Excel 2007 và số hóa bản đồ.  
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn  
- Kết quả đề tài góp phần làm sáng tỏ ảnh hưởng của việc khai  
thác lên nguồn lợi tôm hùm ngoài tự nhiên, bổ sung dữ liệu khoa học  
về nghiên cứu tôm hùm giống tự nhiên vẫn chưa được nghiên cứu  
nhiều ở Việt Nam.  
- Làm cơ sở vững chắc để các cơ quan quản lý địa phương  
định hướng quy hoạch, bảo tồn và khai thác bền vững nguồn lợi tôm  
hùm giống, góp phần duy trì và phát triển nghề nuôi tôm hùm lồng ở  
Việt Nam.  
7. Cấu trúc của luận văn  
Luận văn gồm các phần sau:  
- Mở đầu  
- Chương 1: Tổng quan tài liệu  
- Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
- Kết luận và kiến nghị  
- Tài liệu tham khảo.  
4
CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
1.1. SƠ LƯỢC CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA TÔM  
HÙM  
Tôm hùm trải qua nhiều giai đoạn khác nhau trong đời sống,  
mỗi giai đoạn sống của chúng gắn liền với điều kiện sinh thái nhất  
định và tạo nên một quần thể riêng biệt. Tôm hùm trải qua các giai  
đoạn chính sau [14]:Giai đoạn ấu trùng phyllosoma, giai đoạn hậu ấu  
trùng puerulus, giai đoạn tôm con và giai đoạn trưởng thành.  
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TÔM HÙM TRÊN THẾ GIỚI  
1.2.1. Thành phần loài và sinh thái phân bố tôm hùm trên  
thế giới  
Tôm hùm thuộc nhóm Giáp xác mười chân (Decapoda), đến  
nay đã phát hiện được 163 loài thuộc 4 họ, chúng phân bố ở vùng  
biển từ ôn đới đến nhiệt đới của hơn 90 nước trên thế giới [22].  
Trong đó họ Scyllaridae có 74 loài, họ Palinuridae có 49 loài, họ  
Nephropidae có 38 loài và họ Xynaxidae có 02 loài. Được đánh giá  
hơn cả và nghiên cứu nhiều nhất là họ Palinuridae.  
1.2.2. Sản lượng khai thác thương phẩm tôm hùm trên thế  
giới  
Từ năm 1989 đến năm 2006, sản lượng khai thác tôm hùm Mỹ  
luôn cao nhất, riêng năm 2006 chiếm đến 63% tổng sản lượng khai  
thác trên toàn cầu. Năm 1982 đạt 40.000 tấn, sang năm 2006 sản  
lượng lên đến 90.000 tấn (tăng hơn 2 lần). Tuy nhiên những năm gần  
đây sản lượng khai thác Tôm Hùm gai và Tôm Hùm đá có xu hướng  
giảm nhẹ [15], [30], [31].  
5
1.2.3. Nghiên cứu nguồn giống và nuôi trồng trên thế giới  
Hiện nay trên thế giới đã nghiên cứu sản xuất thành công  
giống tôm hùm Mỹ, con giống đã đáp ứng được nhu cầu nuôi thương  
phẩm loài tôm hùm này. Tuy nhiên, sản lượng nuôi thương phẩm còn  
chiếm tỷ lệ thấp hơn so với sản lượng khai thác ngoài tự nhiên [7].  
Đối với các loài thuộc họ tôm hùm gai, khó khăn nhất cho  
nghề nuôi thương phẩm trên thế giới là nguồn giống còn phụ thuộc  
hoàn toàn vào tự nhiên do chưa sản xuất giống thành công theo quy  
trình khép kín.  
1.2.4. Đánh giá thực trạng và quản lý nguồn lợi tôm hùm  
Đến nay, có nhiều nhà khoa học và quản lý thủy sản trên thế  
giới đã công bố những công trình nghiên cứu về bảo tồn và quản lý  
nguồn lợi này. Thu thập và tổng hợp các tài liệu này, có thể thấy xu  
hướng nghiên cứu chung bao gồm các lĩnh vực:  
- Đánh giá thực trạng nguồn lợi tôm hùm.  
- Các biện pháp quản lý khai thác.  
+ Kiểm soát và nghiên cứu ngư cụ khai thác;  
+ Cấm khai thác vào mùa sinh sản;  
+ Thiết lập các vùng cư trú.  
- Nghiên cứu sự bổ sung nguồn lợi tôm hùm hàng năm.  
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TÔM HÙM TẠI VIỆT NAM  
1.3.1. Thành phần loài và sinh thái phân bố của tôm hùm  
a. Ở Việt Nam  
Ở Việt Nam có 17 loài, trong đó họ Palinuridae có 07 loài  
thuộc giống Panulirus và 01 loài thuộc giống Linuparus; họ  
Synaxidae có 01 loài thuộc giống Palinurellus; họ Scyllaridae có 01  
loài thuộc giống Scyllarides, 02 loài thuộc giống Ibacus, 01 loài  
6
thuộc giống Parribacus, 03 loài thuộc giống Scyllarus và 01 loài  
thuộc giống Thenus.  
b. Đặc điểm sinh cư và phân bố khu vực Bán đảo Sơn Trà  
- Vùng san hô chết: Vùng này có độ sâu từ 3 - 8m, tương đối  
bằng phẳng, chủ yếu là nền san hô chết hoặc độ phủ san hô sống rất  
thấp khoảng 3-5%, trên bề mặt thường được phủ rong, rêu. Dạng này  
ở khu vực bán đảo Sơn Trà thường tập trung ở phía Tây.  
- Vùng rạn đá: Thường gặp ở những vùng có núi đá ven biển,  
rạn đá thường kéo dài từ bờ ra đến độ sâu 7 - 10m, trên nền đá  
thường có hang hốc tự nhiên hoặc do các khối đá nhỏ tạo thành. Nền  
đáy dạng này vẫn có một số ít tập đoàn san hô sống rải rác, độ phủ  
không đáng kể. Ngoài ra, còn có rong rêu phủ trên nền đá. Dạng này  
khu vực Bán đảo Sơn Trà thường tập trung ở phía Nam.  
- Vùng rạn đá dốc: Nền đáy là những khối đá lớn lô nhô, tạo  
thành các hang hốc lớn, nền đáy hẹp có độ dốc lớn, độ sâu thay đổi  
đột ngột. Đây là vùng ngư dân thường lặn bắt tôm hùm thương  
phẩm. Dạng này thường tập trung ở khu vực phía Bắc bán đảo Sơn  
Trà.  
- Vùng đáy cát: Nền đáy hoàn toàn là cát, tập trung ở vùng có  
bãi biển trải dài và bờ biển có địa hình bằng phẳng. Có 2 dạng nền  
đáy cát: Dạng nền cát hoàn toàn trải dài từ bờ ra đến độ sâu (10-  
15)m; dạng nền đáy cát trải dài từ độ sâu (3-4)m đến độ sâu (10-  
15)m; phía trong bờ là rạn đá. Đây là vùng thích hợp để đặt bẫy tôm  
hùm giống và đánh bắt bằng nghề mành. Dạng này tập trung ở khu  
vực Bãi Ngang, Bãi Bụt, Bãi Bắc bán đảo Sơn Trà.  
- Vùng đáy bùn cát, cát bùn: Đây là dạng nền đáy tập trung ở  
vùng cửa sông, cửa đầm, vũng vịnh và vùng ven bờ từ độ sâu 15-  
20m. Nền đáy thường bằng phẳng, độ dốc không lớn, thích hợp cho  
7
việc đánh bắt tôm hùm giống bằng mành đèn. Dạng này tập trung ở  
Khu vực Bãi Ngang bán đảo Sơn Trà.  
1.3.2. Sản lượng khai thác thương phẩm tại Việt Nam  
Trước năm 1975, khai thác tôm hùm mang tính nhỏ, lẻ không  
mang tính thương mại. Giai đoạn 1975-1980, hình thức khai thác  
tôm hùm rất thô sơ, đơn giản, chủ yếu là lặn sử dụng chĩa và móc để  
bắt tôm, sản lượng thấp chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa. Từ năm  
1980, ngư cụ khai thác và phương pháp khai thác đã có cải tiến  
nhanh, sản lượng tăng đột biến từ vài chục tấn lên đến 500 - 700  
tấn/năm [26]. Đến những năm 1990 sản lượng sụt giảm rõ rệt chỉ còn  
180 tấn/năm, theo đánh giá của nhiều chuyên gia nguyên nhân xảy ra  
tình trạng nêu trên là do khai thác quá mức, không quan tâm đến vấn  
đề bảo vệ, làm cạn kiệt nguồn lợi tôm hùm quý giá này [7].  
1.3.3. Nghiên cứu nguồn giống và nuôi trồng  
Số lượng con giống tôm hùm khai thác ở Việt Nam ước đạt  
500.000 con vào năm 1999 và tăng lên đến 3.500.000 con vào năm  
2003. Tuy nhiên mức khai thác này di trì không được lâu, mùa vụ  
khai thác 2005-2006 số lượng con giống giảm xuống còn 2.412.075  
con, 2006 - 2007 còn 2.327.290 con, 2007 -2008 tăng trở lại nhưng  
cũng chỉ đạt mức 3.009.967 con giống/năm [18], [27].  
1.3.4. Tình hình nghiên cứu và quản lý nguồn lợi tôm hùm  
Điểm mốc khởi đầu về nghiên cứu tôm hùm ở Việt Nam được  
đánh dấu bằng chuyến khảo sát của Serene và các cộng tác viên vào  
năm 1937 ở vùng biển Nam Trung bộ, đã xác định có ba loài tôm  
hùm gai thuộc giống Panulirus là P. homarus, P. longipes và P.  
penicillatus.  
Từ năm 1960 đến năm 1961, trong những chuyến điều tra ở  
vịnh Bắc bộ, Gurianova đã công bố một tài liệu nghiên cứu về sinh  
8
vật đáy, có đề cập đến tôm hùm (P. ornatus và P. sp) nhưng rất ít ỏi  
[1].  
Năm 2010 Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III đã khảo  
sát tại vùng biển Xuân Đài (Thị xã Sông Cầu, Phú Yên) và An Chấn  
(huyện Tuy An) do Tiến Sỹ Thái Ngọc Chiến làm Chủ nhiệm, đề tài  
đã xây dựng mô hình bảo vệ nguồn lợi tôm hùm giống tại vùng Ngán  
Lưới Đăng thuộc khu vực hòn Chùa, xã An Chấn rộng 05 ha nước  
[2].  
Tại Đà Nẵng theo kết quả nghiên cứu của đề tài “Điều tra,  
nghiên cứu rạn san hô và các hệ sinh liên quan vùng biển từ Hòn  
Chảo nam Hải Vân và bán đảo Sơn Trà”, vùng biển Đà Nẵng có  
104,6 ha rạn san hô; 26,2 ha các thảm rong biển và 10 ha thảm cỏ  
biển. Nguồn lợi khai thác trực tiếp trên rạn bao gồm các loại cá và hải  
sản khác, trong đó có Tôm hùm Panulirus spp và chủ yếu tập trung ở  
khu vực phía Bắc và Nam bán đảo Sơn Trà. Nghề khai thác Tôm hùm  
con diễn ra khá phổ biến trên các rạn san hô. Tuy nhiên, một thực tế là  
diện tích san hô trong toàn vùng không lớn nhưng áp lực khai thác  
sinh vật nguồn lợi biển ngày càng gia tăng và chưa được các cơ quan  
chức năng kiểm sóat chặt chẽ. Chính tình trạng khai thác quá mức trên  
các rạn san hô và thảm cỏ biển là nguyên nhân làm biến mất một số  
loài đặc sản (Nguyễn Văn Long, 2006) [10].  
Nhìn chung các nghiên cứu trên đều đưa ra những dẫn liệu cho  
thấy rằng số lượng Tôm hùm giống khai thác hàng năm có sự biến  
động lớn, có thể bị ảnh hưởng bởi việc khai thác quá mức, trong khi  
đó việc đưa ra các giải pháp hữu hiệu bảo vệ nguồn lợi tôm hùm  
giống chỉ mới bắt đầu thực hiện trong những năm gần đây. Do đó  
việc tiếp tục nghiên cứu hiện trạng tôm hùm giống và đề xuất các  
9
biện pháp khai thác hợp lý nguồn lợi quý giá này đòi hỏi các nhà  
khoa học cần phải tiếp tục nghiên cứu.  
1.4. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN  
VÙNG NGHIÊN CỨU  
1.4.1. Vị trí địa lý  
1.4.2. Đặc điểm khí tượng thủy văn và môi trường  
a. Khí tượng, thủy văn  
b. Các yếu tố môi trường biển  
- Nhiệt độ nước biển  
Theo kết quả phân tích mẫu nước của 04 trạm quan trắc ven  
bờ quanh Bán đảo Sơn trà năm 2011 cho thấy, nhiệt độ tầng giữa khu  
vực nghiên cứu dao động từ 25,2 đến 28,30C, trong đó nhiệt độ trung  
bình khu vực Tây bán đảo Sơn Trà thấp hơn khu vực Nam bán đảo  
Sơn Trà, tương ứng là 25,570C và 25,870C.  
- Độ mặn  
Theo kết quả phân tích mẫu nước của 04 trạm quan trắc ven  
bờ quanh Bán đảo Sơn Trà năm 2011 cho thấy, độ mặn tầng giữa  
khu vực nghiên cứu dao động từ 1,3%o đến 21,6%o , trong đó độ  
mặn trung bình khu vực Tây bán đảo Sơn Trà thấp hơn khu vực Nam  
bán đảo Sơn Trà, tương ứng là 11,2 %o và 12,28%o  
c. Chế độ động lực  
Vào mùa gió Đông Bắc: tồn tại 2 xoáy nhỏ nằm ở khu vực  
phía bắc và giữa vịnh và 2 vùng xoáy này có chiều ngược nhau, vào  
mùa gió tây nam: tồn tại 1 xoáy nghịch giữa vịnh, dòng sát bờ cửa  
sông Hàn có hướng đi từ đông sang tây với tốc độ trung bình 10 – 20  
cm/s.  
Nhìn chung các yếu tố về môi trường đều thích hợp cho quá  
trình sinh trưởng và phát triển của tôm hùm.  
10  
CHƯƠNG 2  
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các loài tôm hùm giống,  
trong đó tập trung vào 03 loài có giá trị kinh tế cao mà ngư dân khai  
thác phục vụ nuôi lồng là Tôm Hùm bông (P. ornatus) và Tôm Hùm  
đá (P. homarus) và Tôm Hùm tre (P. polyphagus)  
2.1.2. Phạm vi và thời gian nghiên cứu: Khu vực vùng biển  
ven bờ bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng (Hình 2.1). Thời gian  
thực hiện từ tháng 8 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013.  
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa  
a. Phương pháp điều tra đặc điểm và cơ cấu ngành nghề  
khai thác nguồn lợi tôm hùm giống  
Đề tài tiến hành 5 cuộc tham vấn tại các khu phố  
b. Phương pháp xác định thành phần loài của các loài tôm  
hùm giống khai thác  
Thu tại các bến cá tập trung vào các buổi sáng sớm. Mẫu vật  
các loài tôm hùm thu thập được cố định trong cồn 95% để đem về  
phân tích trong phòng thí nghiệm. Việc phân tích và xác định thành  
phần loài tôm hùm giống khai thác do các chuyên gia Viện Hải  
dương học thực hiện.  
c. Phương pháp xác định khu vực phân bố và mùa vụ xuất  
hiện của các loài tôm hùm giống  
Việc xác định khu vực phân bố và mùa vụ xuất hiện của tôm  
hùm giống thực hiện trên 14 tuyến mặt rộng theo hướng từ bờ ra đến  
biên ngoài cùng tại những khu vực có phương tiện thuyền khai thác ở  
11  
vùng ven bờ bán đảo Sơn Trà. Ngoài ra, đề tài kết hợp với các thông  
tin tham vấn từ ngư dân địa phương.  
d. Phương pháp đánh giá năng suất và sản lượng khai thác  
của các loài tôm hùm giống  
Được thực hiện thông qua nhật ký ghi chép hoạt động đánh bắt  
hàng ngày từ các loại nghề khác nhau trong suốt vụ khai thác tôm  
hùm giống từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 3 năm 2013.  
e. Phương pháp đánh giá mức độ ảnh hưởng của nghề khai  
thác tôm hùm giống đối với các nhóm nguồn lợi thủy sản khác do  
khai thác không chủ đích (bycatch).  
Thông qua tham vấn ngư dân khai thác và khảo sát trực tiếp  
trên phương tiện đối với nghề mành và bẫy vì đây là 2 loại nghề khai  
thác có thành phần nguồn lợi đa dạng nhất.  
f. Phương pháp xác định các yếu tố sinh thái  
- Xác định các yếu tố môi trường: Sử dụng số liệu của 04 trạm  
quan trắc môi trường biển nơi có tôm hùm phân bố  
- Xác định nền đáy: Bằng phương pháp lặn trực tiếp để xác  
định chất đáy và đo độ sâu bằng máy đo sâu Hongex.  
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm  
a. Phân tích mẫu thành phần loài  
Việc định loại tôm hùm giống được dựa theo tài liệu phân loại  
của Phillips & CTV (1980) [25]. Tên thường gọi tiếng việt của tôm  
hùm được dựa theo Nguyễn Văn Chung và Phạm Thị Dự (1995) [3].  
b. Phương pháp xây dựng sơ đồ phân bố  
Việc xây dựng sơ đồ phân bố được thực hiện cho từng loài  
riêng biệt trên phần mềm MapInfo Professional 10.0.  
c. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu  
12  
- Số liệu thu được từ phiếu điều tra sẽ được nhập vào máy tính  
và phân tích trên bảng tính Microsoft Excel 2007.  
- Chỉnh sửa hình ảnh sử dụng bằng phần mềm Photoshop.  
- Phương pháp xác định năng suất và sản lượng khai thác: Sau  
khi nhập số liệu từ sổ nhật ký vào phần mềm excel, sẻ tiến hành tính  
năng suất và sản lượng.  
13  
CHƯƠNG 3  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN  
3.1. ĐẶC ĐIỂM VÀ CƠ CẤU NGÀNH NGHỀ KHAI THÁC  
NGUỒN LỢI TÔM HÙM GIỐNG  
3.1.1. Cơ cấu các loại nghề khai thác  
Tại thành phố Đà Nẵng ngư dân khai thác tôm hùm giống  
quanh bán đảo Sơn Trà, tập trung chủ yếu ở 4 phường là Thuận  
Phước quận Hải Châu, Thọ Quang, Mân Thái và Nại Hiên Đông  
thuộc quận Sơn Trà, trong đó tập trung nhất ở Thọ Quang và Mân  
Thái. Có 4 loại nghề chính khai thác tôm hùm giống là bẫy, mành, te  
ruốc và lặn. Mỗi nghề có đặc điểm cấu tạo, cách khai thác và ưu  
nhược điểm khác nhau. Nghề bẫy và lặn ngư cụ đơn giản, thường  
khai thác sát bờ, kích cỡ tôm hùm khai thác lớn hơn (cỡ tôm hồng  
đến tôm đen và tôm ngón) nhưng tác động đến nền đáy, còn nghề  
mành và te ruốc phương pháp khai thác phức tạp hơn, chi phí cao  
hơn, thường khai thác khu vực phía ngoài vùng ven bờ, kích cỡ tôm  
hùm khai thác nhỏ hơn (từ tôm trắng đến tôm hồng). Nghề bẫy,  
mành và te ruốc khai thác trong vụ chính từ tháng 10 đến tháng 3  
năm sau, còn nghề lặn thường khai thác trong mùa phụ từ tháng 4  
đến tháng 9.  
3.2. THÀNH PHẦN LOÀI, KHU VỰC PHÂN BỐ, MÙA VỤ  
XUẤT HIỆN, NĂNG SUẤT VÀ SẢN LƯỢNG CÁC LOÀI TÔM  
HÙM GIỐNG  
3.2.1. Thành phần loài  
Kết quả tham vấn cộng đồng ghi nhận có đến 10 loại tôm  
hùm giống (theo tên gọi tại địa phương) được khai thác trong vùng  
biển ven bờ Đà Nẵng, trong đó phổ biến nhất là Tôm Hùm bông,  
14  
Tôm Hùm sao, Tôm Hùm xanh, Tôm Xanh chân ngắn, Tôm Hùm  
tre, Tôm Tề thiên. Ngoài ra, còn bắt gặp Tôm Hùm sắt, Tôm Đỏ,  
Tôm Ma, Tôm Xanh chân dài.  
Tuy nhiên, kết quả phân tích các mẫu tôm thu được từ các  
loại nghề khai thác xác định được 5 loài thuộc giống Panulirus và  
phân loại như sau:  
Tôm Hùm bông  
Panulirus ornatus  
P. homarus  
Tôm Hùm xanh chân ngắn  
Tôm Hùm tre  
P. polyphagus  
P. longipes  
Tôm Hùm đỏ  
Tôm Hùm xanh chân dài  
P. stimpsoni  
Kết quả này cho thấy rằng, trong thực tế cùng một loài tôm  
nhưng có thể có nhiều tên gọi địa phương khác nhau và điều này đôi  
khi tạo nên sự nhầm lẫn trong việc đánh giá. So với kết quả của  
Nguyễn Văn Chung và Phạm Thị Dự (1995) [3] công bố trong vùng  
biển Việt Nam có 7 loài thuộc giống Panulirus thì số loài tôm hùm  
ghi nhận trong vùng biển ven bờ Đà Nẵng thấp hơn.  
3.2.2. Đặc điểm sinh thái phân bố  
Qua tham vấn cho thấy quanh bán đảo Sơn Trà các loài tôm  
hùm giống thường xuất hiện ở Nam bán đảo Sơn Trà gồm: Bãi  
Ngang, Hục Lỡ, Bãi Nồm, Bãi Xếp, Bãi Rạng, Bãi U, Mũi Súng,  
Hòn Sụp, Mũi Nghê và phía Bắc bán đảo Sơn Trà gồm: Bãi Bắc,  
Mũi Trọc, bãi tắm Liên Xô. Phạm vi tập trung thường cách bờ từ 5-  
7m (ở khu vực bắt đầu có rạn san hô) ra xa đến khoảng 500m ở độ  
sâu 7 - 10m. Một số khu vực như Bãi Ngang thường cách bờ 100m  
và có thể ra đến hơn 01km ở độ sâu < 6,5m. Nhìn chung, khu vực tập  
trung nhiều nhất là Bãi Ngang, Hục Lỡ, Tây Mũi Nghê, Hòn Sụp,  
Bãi Nam, Bãi Bắc.  
15  
Kết quả khảo sát thực tế theo các tuyến mặt cắt tại các khu  
vực khai thác chỉ ghi nhận được 4 loài gồm Tôm Hùm bông (Tôm  
Bông), Tôm Hùm xanh chân ngắn (Tôm Xanh), Tôm Hùm tre (Tôm  
Tre, Tôm Tề thiên), Tôm Hùm đỏ (Tôm Sắt) và chúng tôi đã xây  
dựng sơ đồ phân bố các loài này.  
Hình 3.11. Sơ đồ phân bố các loài tôm hùm giống ở bán đảo Sơn Trà  
Riêng loài Tôm Hùm Xanh chân dài (Tôm Ma) hầu như  
không xuất hiện ở tất cả các điểm theo các tuyến mặt cắt khảo sát.  
Tuy nhiên, trong quá trình tham vấn và thu mẫu, chúng tôi đã thu  
được mẫu loài tôm này từ ghe khai thác của ngư dân tại bến. Theo  
thông tin từ ngư dân thì họ thường khai thác được con giống của loài  
này ở khu vực Bãi Ngang phía Nam bán đảo Sơn Trà, tuy nhiên rất  
hiếm gặp. Vì vậy, chúng tôi không có tư liệu để xây dựng sơ đồ phân  
bố loài này.  
3.2.3. Đặc trưng sinh thái khu vực phân bố  
a. Đặt trưng nền đáy, chất đáy  
16  
- Dạng nền đáy: san hô, san hô và cát, cát bùn.  
- Độ sâu: ở dạng nền đáy san hô (3,5 - 9,5)m, ở dạng nền đáy  
san hô và cát (2,2 – 10)m và cát bùn (4,5 - 6,5)m.  
b. Đặc điểm các yếu tố môi trường  
Tôm hùm giống phân bố trên các nền đáy dạng san hô, san  
hô + cát và san hô bùn ở độ sâu từ 2,2m đến 10m, ngoài ra còn phân  
bố các vùng có rạn đá, các bãi rạn ven bờ, các bãi cát ven bờ và có  
các yếu tố môi trường đặt trưng để tôm hùm giống phân bố với nhiệt  
độ trung bình 25,270C, pH trung bình 7,94%, độ muối trung bình  
16,28%o.  
c. Mối quan hệ các yếu tố sinh thái  
Bảng 3.6. Mối quan hệ giữa các loài tôm hùm với các yếu tố sinh thái  
Độ  
dẫn  
Độ  
TT Khu vực Thành phần loài sâu  
(m)  
Nhiệt  
độ  
Chất  
đáy  
Độ muối  
DO  
(%o)  
(mg/l)  
điện  
(s/m)  
(0C)  
Tây bán  
đảo Sơn Tôm bông, Tôm 3,5-  
24,95± 12,98±  
4,78± 2,31±  
0,17 0,36  
1
Cát bùn  
San hô,  
trà  
xanh, Tôm tre,  
9,5  
0,58  
0,86  
(n=4)  
Nam  
Tôm bông, Tôm  
xanh, Tôm tre,  
Bán đảo  
Sơn Trà  
(n=12)  
2,2 - san hô – 25,39± 18,17±  
4,98± 2,86±  
0,3 0,85  
2
9,5 cát, Cát 1,19  
bùn  
3,0  
Tôm sắt, Tôm ma  
Từ Bảng 3.6 ta thấy ở khu vực Nam bán đảo Sơn Trà có 02  
loài Tôm sắt và Tôm ma phân bố trong khi khu vực Tây bán đảo Sơn  
Trà không có 02 loài này. Các yếu tố về độ sâu, chất đáy và các yếu  
tố môi trường như: Nhiệt độ, độ muối, nồng độ ô xy hòa tan và độ  
17  
dẫn điện ở khu vực Nam bán đảo Sơn Trà cao hơn so với Tây bán  
đảo Sơn Trà, đặc biệt là độ muối Nam bán đảo Sơn Trà cao hơn Tây  
bán đảo Sơn Trà đến 5,19%o, nền đáy đa dạng hơn và nhiệt độ, hàm  
lượng ô xy hòa tan cũng cao hơn, đây có thể là điều kiện cần thiết để  
các loài tôm hùm giống phân bố, tạo sự đa dạng về thành phần loài.  
3.2.4. Mùa vụ xuất hiện  
Kết quả tham vấn và thực tế qua điều tra từ việc ghi sổ nhật ký  
cho thấy nghề khai thác tôm hùm giống gần như hoạt động quanh  
năm, trong đó tập trung nhất là từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau và  
điều này đồng nghĩa với việc tôm hùm giống xuất hiện quanh năm  
nhưng mật độ cao nhất tập trung vào tháng 10 đến tháng 3 năm sau.  
Kết quả thực tế cũng cho thấy Tôm Hùm xanh chân ngắn (Tôm  
Xanh) thường xuất hiện sớm hơn, khoảng từ cuối tháng 10 đầu tháng  
11 hàng năm, sau đó Tôm Hùm bông (Tôm Sao) mới xuất hiện và  
kèm theo việc xuất hiện từng đợt với số lượng lớn của loài Tôm Hùm  
tre (Tôm Tre). Đối với loài Tôm Hùm đỏ (Tôm Sắt) và Tôm Hùm  
xanh chân dài (Tôm Ma) thường xuất hiện ít nhưng rãi rác trong cả  
vụ. Theo ngư dân, năm nào có bão, sóng lớn thì tôm hùm giống  
thường xuất hiện với mật độ lớn hơn và kéo dài hơn.  
3.2.5. Mùa vụ khai thác  
Mùa vụ chính khai thác tôm hùm giống của các nghề tại Đà  
Nẵng kéo dài 6 tháng, từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.  
3.2.6. Năng suất và sản lượng khai thác  
Để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nghề lên từng loài  
tôm hùm giống, chúng tôi xác định năng suất và sản lượng khai thác  
theo tháng của từng nghề, kết quả đánh giá năng suất và sản lượng  
tôm hùm giống từ sổ ghi chép nhật ký khai thác thể hiện như sau:  
a. Năng suất  
18  
Nghề mành năng suất khai thác cao nhất trong các nghề, trung  
bình đạt 16,28 con/phương tiện/ngày và tháng có năng suất đánh bắt  
cao nhất là tháng 12 (19 con/phương tiện/ngày). Tiếp đến là nghề  
bẫy có năng suất trung bình 13,87 con/phương tiện/ngày và có năng  
suất cao nhất trong tháng 01/2013 (16,76 con/phương tiện/ngày).  
Nghề có năng suất khai thác thấp nhất là nghề te ruốc, trung bình đạt  
2,17 con/phương tiện/ngày. Có sự khác nhau đáng kể về năng suất  
khai thác của các loài tôm hùm giống giữa các loại nghề, trong đó  
nghề bẫy và nghề te ruốc có sự ưu thế của Tôm Hùm xanh nhưng  
nghề mành lại ưu thế bởi Tôm Hùm tre.  
b. Sản lượng  
Tổng sản lượng khai thác các loại tôm hùm giống ở vùng biển  
ven bờ Đà Nẵng trong mùa vụ 2012 - 2013 ước đạt 331.522 con,  
trong đó các tháng có sản lượng cao nhất là tháng 01 và kéo sang  
tháng 2. Nghề bẫy cho sản lượng cao nhất, tiếp đến là nghề mành,  
đạt sản lượng cao nhất vào tháng 12, thấp nhất là nghề te ruốc, đạt  
sản lượng cao nhất vào tháng 11. Trong số các loại tôm hùm khai  
thác, Tôm Hùm xanh chiếm sản lượng cao nhất, tiếp đến là Tôm  
Hùm bông và thấp nhất là Tôm Hùm tre. Có sự biến động sản lượng  
khai thác theo mùa, trong đó Tôm Hùm bông và Tôm Hùm xanh có  
sản lượng cao nhất là vào tháng 1, trong khi đó Tôm Hùm tre tập  
trung ở tháng 12.  
3.3. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA NGHỀ KHAI  
THÁC TÔM HÙM GIỐNG ĐỐI VỚI NHÓM NGUỒN LỢI  
THỦY SẢN KHÁC DO KHAI THÁC KHÔNG CHỦ ĐÍCH  
(BYCATCH)  
Nghề mành và bẫy là những nghề có năng suất khai thác tôm  
hùm cao nhưng tỷ lệ nguồn lợi thủy sản khai không chủ đích kèm  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 19120 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Đánh giá hiện trạng nguồn lợi tôm hùm giống vùng biển ven bờ bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng và đề xuất các giải pháp khai thác hợp lý", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_danh_gia_hien_trang_nguon_loi_tom_hum_giong.pdf