Dự thảo tóm tắt Luận án Nghiên cứu vi nấm kháng bệnh trên cây hồ tiêu Piper nigrum L. nhằm tạo chế phẩm sinh học diệt tuyến trùng

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN  
_______________________  
CHU THANH BÌNH  
NGHIÊN CỨU VI NẤM KHÁNG BỆNH TRÊN CÂY HỒ TIÊU  
Piper nigrum L. NHẰM TẠO CHẾ PHẨM SINH HỌC  
DIỆT TUYẾN TRÙNG  
Chuyên ngành: Vi sinh vật học  
Mã số: 9420101.07  
DỰ THẢO TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC  
Hà Nội - 2019  
Công trình đƣợc hoàn thành tại: Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên –  
Đại học Quốc gia Hà Nội  
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. Bùi Thị Việt Hà  
2. TS. Hồ Tuyên  
Phản biện: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
Phản biện: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
Luận án sẽ đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng cấp Đại học Quốc gia chấm  
luận án tiến sĩ họp tại . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  
. . . .  
vào hồi  
giờ  
ngày  
tháng  
năm 20...  
Có thể tìm hiểu luận án tại:  
- Thƣ viện Quốc gia Việt Nam  
- Trung tâm Thông tin - Thƣ viện, Đại học Quốc gia Hà Nội  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Tuyến trùng ký sinh thực vật (Plant-parasitic nematodes -  
PPN) gây bệnh trên hàng loạt các loại rau, cây nông nghiệp, cây  
công nghiệp. Mỗi năm ƣớc tính gây thiệt hại trị giá hơn 157 tỷ USD  
trên toàn thế giới. Trong nhiều thập kỷ, việc kiểm soát tuyến trùng  
phụ thuộc rất nhiều vào các chất hóa học nhƣ Furadan, Marshal,  
Oncol, Nokap, Vimoca… với hiệu quả làm giảm mật số tuyến trùng  
nhƣng vƣờn cây vẫn bị bệnh và phải áp dụng thuốc trong thời gian  
dài. Hơn nữa, sử dụng thuốc hóa học chƣa mang lại hiệu quả cao  
thƣờng dẫn tới khả năng kháng thuốc, mất cân bằng giữa hệ vi sinh  
vật có lợi và vi sinh vật đất. Hiện nay, một số chất hóa học đang bị  
rút khỏi danh mục thuốc bảo vệ thực vật đƣợc sử dụng vì độc tính  
của chúng đối với động vật và sức khỏe con ngƣời. Hiệu quả của  
luân canh cây trồng bị hạn chế trong một số hệ thống cây trồng do  
phạm vi vật chủ rộng hoặc tỷ lệ sống lâu dài của hầu hết các PPN.  
Hơn nữa, sự đa dạng di truyền cao trong/giữa các quần thể tuyến  
trùng làm hạn chế hiệu quả của các loại cây trồng kháng bệnh do  
tuyến trùng gây nên. Do đó, sản xuất cây trồng toàn cầu vẫn đang bị  
đe dọa nặng nề từ PPNs. Cùng với việc phát triển các biện pháp kiểm  
soát sinh học, các vi sinh vật tiêu diệt tuyến trùng nói chung và nấm  
sợi nói riêng đƣợc coi nhƣ một cách tiếp cận đầy hứa hẹn để kiểm  
soát các loài gây hại tuyến trùng.  
Tại Việt Nam, theo quy hoạch lý thuyết, diện tích trồng cây  
Hồ tiêu của tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020 đạt 15.000 ha, tuy nhiên  
tháng 1 năm 2017 diện tích trồng Hồ tiêu đã tăng lên tới 38.616 ha.  
3
Việc tăng nhanh diện tích trồng Hồ tiêu cũng kèm theo số diện tích  
bị sâu, dịch hại tăng nhanh. Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực  
vật, từ đầu năm 2016 đến đầu năm 2017, tỉnh Đắk Lắk có hơn 2.776  
ha trồng Hồ tiêu bị sâu bệnh gây hại, chiếm 10% tổng diện tích Hồ  
tiêu toàn tỉnh: Trong đó, hơn 579 ha bị bệnh vàng lá chết nhanh,  
1.113 ha bệnh vàng lá chết chậm, 1.083 ha bị các loại sâu bệnh khác  
gây hại. Diện tích trồng Hồ tiêu bị bệnh tập trung tại các huyện Buôn  
Đôn (515 ha), Ea H’leo (183 ha), Ea Kar (hơn 156 ha), Krông Năng  
(45,5 ha), thị xã Buôn Hồ (216 ha)… Để ngăn chặn dịch bệnh lây lan  
và bùng phát, Chi cục đã hƣớng dẫn ngƣời dân thực hiện nhiều biện  
pháp phòng trừ dịch bệnh nhƣ thƣờng xuyên thăm vƣờn để nắm bắt  
tình hình sinh trƣởng của cây trồng, thực hiện bón phân hợp lý, quản  
lý sâu bệnh hại tổng hợp IPM… Ngoài ra, một số chi nấm sợi có khả  
năng sinh tổng hợp các enzym và độc tố nhằm ngăn cản sự sinh sản,  
nở trứng và khả năng sống sót của tuyến trùng sần rễ Meloidogyne  
sp. . Những chi nấm này đƣợc sử dụng để sản xuất chế phẩm sinh  
học diệt tuyến trùng. Ví dụ nhƣ chế phẩm sinh học Biocon có thành  
phần chính là nấm Paecilomyces lilacinus, đây là loài có khả năng ký  
sinh, tiêu diệt tuyến trùng và trứng của chúng.  
Nhằm giải quyết nhu cầu cấp thiết để tìm kiếm các chủng  
nấm sợi đối kháng cao với nấm diệt tuyến trùng hại Hồ tiêu vừa thân  
thiện với môi trƣờng vừa tăng hiệu quả để kiểm soát bệnh gây ra bởi  
tuyến trùng, đề tài đƣợc tiến hành với tiêu đề nhƣ sau:  
“Nghiên cứu vi nấm kháng bệnh trên cây Hồ tiêu Piper  
nigrum L. nhằm tạo chế phẩm sinh học diệt tuyến trùng”  
4
2. Mục tiêu của đề tài  
Tuyển chọn đƣợc một số chủng vi nấm có hoạt lực diệt tuyến  
trùng Meloidogyne sp. cao gây bệnh trên cây Hồ tiêu Piper  
nigrum L. và tạo chế phẩm sinh học diệt tuyến trùng làm  
tăng năng suất cây Hồ tiêu tối thiểu là 15%.  
Tạo đƣợc chủng đột biến có hoạt lực diệt tuyến trùng cao  
gấp 3 lần so với chủng tự nhiên.  
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài  
Trong ba chủng nấm sợi có khả năng diệt tuyến trùng phân  
lập đƣợc trên đất trồng Hồ tiêu, Paecilomyces lilacinus P1 (hay còn  
gọi là Purpureocillium lilacinum) là chủng đƣợc quan tâm nghiên  
cứu bởi hoạt lực diệt tuyến trùng cao và tính an toàn của chủng.  
Chế phẩm sinh học đƣợc thử nghiệm trên quy mô 3 ha/mô  
hình tại tỉnh Đăk Lăk đã có tác dụng điều hòa tăng năng suất lên  
20% đối với vƣờn Hồ tiêu hoàn toàn khỏe mạnh; 48% đối với vƣờn  
Hồ tiêu nhiễm bệnh cấp độ nặng nhất. Chế phẩm sinh học diệt tuyến  
trùng sẽ góp phần bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền vững ngành  
sản xuất Hồ tiêu ở nƣớc ta.  
Chủng đột biến có hoạt lực diệt tuyến trùng cao gấp 7 lần so  
với chủng tự nhiên trong vòng 48 giờ. Sử dụng phƣơng pháp chuyển  
gen thông qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens sẽ mở ra những  
triển vọng về nghiên cứu vai trò, chức năng của các gen liên quan  
đến cơ chế diệt tuyến trùng của chi Paecilomyces.  
4. Những đóng góp mới của luận án  
+) Tuyển chọn đƣợc 1 chủng vi nấm bản địa từ đất trồng Hồ tiêu tỉnh  
Đăk Lăk có hoạt lực diệt tuyến trùng cao, an toàn với con ngƣời.  
5
+) Chế phẩm sinh học đƣợc thử nghiệm trên quy mô 3 ha/mô hình,  
đánh giá năng suất của mô hình trình diễn sau khi sử dụng chế phẩm  
tăng lên 20% đối với những vƣờn Hồ tiêu hoàn toàn khỏe mạnh,  
48% so với vƣờn Hồ tiêu nhiễm bệnh cấp độ nặng nhất.  
+) Lần đầu tiên đã xây dựng quy trình chuyển gen bằng phƣơng pháp  
sử dụng vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens dựa trên cơ chế trợ  
dƣỡng uridine/uracil đạt hiệu quả cao gấp 10 lần so với nghiên cứu  
trƣớc đây.  
5. Bố cục của luận án  
Bố cục của luận án gồm 132 trang, 18 bảng và 32 hình. Cụ  
thể: Mở đầu 3 trang; Chƣơng 1 Tổng quan tài liệu 39 trang; Chƣơng  
2 Vật liệu và phƣơng pháp nghiên cứu 25 trang; Chƣơng 3 Kết quả  
và thảo luận 48 trang; Kết luận và kiến nghị 2 trang; Danh mục các  
công trình 1 trang; Tài liệu tham khảo 19 trang.  
Chƣơng 1  
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
1.1. KHÁI QUÁT VỀ TUYẾN TRÙNG VÀ BỆNH GÂY RA BỞI  
TUYẾN TRÙNG Meloidogyne sp.  
1.1.1. Bệnh gây ra bởi tuyến trùng  
Theo thống kê của Cục Bảo vệ Thực vật, tính đến tháng 10  
năm 2016, bệnh gây ra bởi tuyến trùng chủ yếu là bệnh chết chậm và  
bệnh vàng lá. Diện tích cây bị bệnh tập trung ở một số địa phƣơng  
nhƣ Quảng Trị, Gia Lai, Đăk Nông, Đăk Lăk, Bình Dƣơng, Bình  
Phƣớc,...lên đến hàng ngàn ha. Theo báo cáo của 3 tỉnh trọng điểm  
trồng cây Hồ tiêu của Tây Nguyên là Đăk Lăk, Gia Lai và Đắk  
Nông, hàng năm, mỗi tỉnh đều có vài ngàn ha tiêu bị nhiễm bệnh  
6
vàng lá, tuyến trùng sần rễ …Tỉnh Gia Lai năm 2016 đã có trên  
6.155 ha Hồ tiêu bị nhiễm bệnh làm thiệt hại cho các gia đình trồng  
Hồ tiêu cả ngàn tỷ đồng.  
1.1.2. Giới thiệu về tuyến trùng Meloidogyne sp.  
Tuyến trùng gây hại thực vật thuộc nhóm động vật không  
xƣơng sống, có đặc điểm sinh thái thích nghi với đời sống ký sinh ở  
thực vật. Tuyến trùng thuộc giống Meloidogyne là nhóm tuyến trùng  
ký sinh thực vật gây hại nhiều nhất đối với nền nông nghiệp trên toàn  
thế giới. Trên cây Hồ tiêu, tuyến trùng Meloidogyne gây ra bệnh sần  
rễ, vàng lá, chết chậm. Tuyến trùng ký sinh trên tất cả các bộ phận  
của cây, nhƣng vùng rễ là nơi tuyến trùng tập trung nhiều nhất. Rễ  
cây bị nhiễm tuyến trùng sần rễ sẽ bị tổn thƣơng, trên bề mặt có dạng  
sần sùi hoặc tạo thành các u cục, cây bị còi cọc, vàng lá và gây chết.  
Chu kỳ sống của tuyến trùng sần rễ Meloidogyne bao gồm 5 giai  
đoạn phát triển: trứng; ấu trùng tuổi 1(J1); ấu trùng tuổi 2 (ấu trùng  
cảm nhiễm-J2); ấu trùng tuổi 3, 4 (J3, J4) và giai đoạn trƣởng thành  
với con cái và con đực.  
Một số biện pháp sinh học phòng trừ tuyến trùng sần rễ  
Meloidogyne sp.  
Hiện nay, nông dân thƣờng xử lý khi cây đã chớm biểu hiện  
bệnh khi đó tuyến trùng đã xâm nhập và mức độ bệnh đã nặng nên  
rất khó chữa trị hoặc mất nhiều thời gian và cây phục hồi cho năng  
suất thấp. Có một số biện pháp phòng trừ tuyến trùng nhƣ: Tuyển  
chọn ngay từ khâu chọn giống: chọn cây khỏe, có khả năng kháng  
bệnh (i) Vật lý: Đa số tuyến trùng không sống đƣợc ở nhiệt độ 60oC;  
vì vậy biện pháp xử lý nhiệt sẽ triệt để nhƣng chi phí cao và thời gian  
dài (ii) Hóa học: Biện pháp này cho hiệu quả cao nhƣng gây ô nhiễm  
7
môi trƣờng, độc hại đối với ngƣời và động vật; (iii) Sinh học: mang  
lại hiệu quả lâu dài hƣớng tới môi trƣờng phát triển bền vững.  
1.2. GIỚI THIỆU VỀ NẤM DIỆT TUYẾN TRÙNG  
Nấm diệt tuyến trùng là loại vi sinh vật có thể bắt, tiêu diệt  
và tiêu hóa tuyến trùng. Có hơn 200 loài nấm sợi đƣợc biết đến khác  
nhau về khả năng hoại sinh/ký sinh tuyến trùng. Các chi nấm này đều  
có khả năng diệt tuyến trùng từ dạng trƣởng thành, dạng ấu trùng và  
trứng, đồng thời sử dụng tuyến trùng làm chất dinh dƣỡng. Nhiều  
loại nấm diệt tuyến trùng hình thành bẫy và ký sinh trứng tuyến  
trùng có thể tồn tại trong đất ở dạng hoại sinh nhƣng loại nội ký sinh  
thì sử dụng tuyến trùng là chất dinh dƣỡng (ký sinh bắt buộc). Hình  
1.1 biểu diễn sơ đồ khái quát hóa sự tƣơng tác giữa nấm sợi (vi  
khuẩn) tiêu diệt tuyến trùng với tuyến trùng, các phƣơng thức dẫn dụ  
và diệt tuyến trùng.  
Hình 1.1. Sự tƣơng tác giữa tuyến trùng, nấm và vi khuẩn  
1.2.1. Vai trò kiểm soát sinh học của nấm diệt tuyến trùng  
Kiểm soát sinh học theo Cook và cs., (1993) là việc con  
ngƣời sử dụng các vi sinh vật đối kháng không gây bệnh để ức chế  
mầm gây bệnh theo cách thân thiện với môi trƣờng. Dựa trên các cơ  
chế và tác dụng, các sản phẩm từ chủng này có thể đƣợc sử dụng làm  
phân bón sinh học, làm chất tăng cƣờng thực vật và làm thuốc trừ  
sâu sinh học. Theo nghiên cứu của Wu và cs., (2015), thị trƣờng toàn  
cầu về thuốc trừ sâu sinh học sẽ tăng lên tới 83,7 tỷ USD vào năm  
2019.  
1.2.2. Phân loại nấm diệt tuyến trùng  
Các nhà khoa học đã phân loại nhóm nấm diệt tuyến trùng  
dựa trên kiểu tấn công con mồi và do đó chia thành năm nhóm: (1)  
8
bẫy/bẫy động vật, (2) nấm diệt tuyến trùng “ăn thịt”, (3) nội ký sinh,  
(4) nấm sản xuất độc tố, (5) nấm sử dụng các thiết bị tấn công đặc  
biệt.  
1.2.2.1. Nấm bẫy tuyến trùng  
Hầu hết các loại nấm bẫy tuyến trùng đƣợc công bố đều  
thuộc Ascomycota. Những loại nấm này có thể sống hoại sinh trong  
đất. Tuy nhiên, với sự có mặt của tuyến trùng, những loài nấm này  
trở thành kẻ săn mồi thông qua việc sản xuất các bẫy cụ thể, bao gồm  
các vòng, núm dính, mạng dính, cột dính.  
1.2.2.2. Nấm ký sinh tuyến trùng  
Chính vì khả năng hoại sinh hạn chế của chúng trong đất làm  
cho nấm nội ký sinh sử dụng tƣơng đối hẹp trong các ứng dụng kiểm  
soát sinh học. Trong số các loại nấm nội ký sinh, Drechmeria  
coniospora đƣợc nghiên cứu nhiều nhất.  
1.2.2.3. Nấm ký sinh trứng tuyến trùng  
Giới thiệu về Paecilomyces sp.:Các loài thuộc chi  
Paecilomyces là nấm sợi xuất hiện trong môi trƣờng đất khá phổ  
biến. Với cơ chế là ký sinh trực tiếp lên trứng, ấu trùng đồng thời sản  
sinh ra các enzym nhƣ chitinase, protease có khả năng phân hủy lớp  
kitin bên ngoài của ấu trùng và ức chế nở trứng. Các công bố cho  
thấy chitinase đóng vai trò quan trọng trong quá trình diệt tuyến  
trùng, protease và các enzym khác có vai trò hỗ trợ chitinase nhằm  
thúc đẩy nhanh quá trình diệt. Quan sát dƣới kính hiển vi điện tử  
truyền qua đã cho thấy sợi nấm xâm nhập trực tiếp vào lớp biểu bì  
của trứng, ấu trùng của M. javanica.  
9
Chitinase từ nấm diệt tuyến trùng  
Vào những năm 1980, lần đầu tiên các nghiên cứu nhằm  
sàng lọc các chủng nấm diệt tuyến trùng trong đất đã chứng minh  
đƣợc mối tƣơng quan giữa hoạt tính chitinase của nấm diệt tuyến  
trùng nhƣ Pochonia sp., Arthrobotrys sp., Paecilomyces sp. Theo  
Yang và cs., (2007), nhiều loài nấm diệt tuyến trùng nhƣ Pochonia  
sp., Arthrobotrys sp., Paecilomyces sp. đƣợc coi nhƣ các tác nhân  
sinh học diệt tuyến trùng. Dackman và cs., (1989) đã công bố hai loài  
thuộc chi Verticillium có khả năng diệt Heterodera schachtii nhờ  
hoạt tính chitinase và protease của chi nấm này.  
Protease từ nấm diệt tuyến trùng  
Cho đến nay, hơn 20 protease serine đã đƣợc tinh sạch hoặc  
xác định trọng lƣợng phân tử từ các loại nấm diệt tuyến trùng khác  
nhau. Các nghiên cứu cơ chế tiêu diệt tuyến trùng đã chỉ ra rằng các  
protease này có thể làm suy giảm hiệu quả các lớp biểu bì tuyến  
trùng. Do đó, chúng còn đƣợc gọi là protease phân hủy tuyến trùng.  
Các cấu trúc tinh thể của hai protease phân hủy lớp biểu bì, Ver112  
(tìm thấy từ Lecanicillium psalliotae) và PL646 (tìm thấy từ  
Paecilomyces lilacinus), cho các cấu trúc khác nhau dẫn tới chức  
năng của chúng khác nhau.  
1.3. CẢI BIẾN DI TRUYỀN Ở NẤM DIỆT TUYẾN TRÙNG  
1.3.1. Các phƣơng pháp chuyển gen  
Hiện nay, trên thế giới các nhà khoa học đang sử dụng các  
phƣơng pháp chuyển gen vào nấm sợi nhƣ chuyển gen bằng tế bào  
trần, chuyển gen bằng xung điện, chuyển gen sử dụng vi khuẩn  
Agrobacterium tumefaciens… Mỗi phƣơng pháp chuyển gen đều có  
10  
những ƣu nhƣợc điểm riêng tuy nhiên tùy thuộc vào từng loài mà  
hiệu suất chuyển gen khác nhau đối với từng phƣơng pháp.  
1.3.2. Một số gen chỉ thị dùng cho chuyển gen ở nấm  
Gen chỉ thị đƣợc sử dụng để đánh giá hiệu quả chuyển gen  
vào chủng đƣợc chuyển hoặc để sàng lọc các thể chuyển gen.  
Chuyển các gen chỉ thị vào chủng cần nghiên cứu nhằm tạo ra các  
chủng có kiểu hình khác với chủng tự nhiên (WT). Các gen chỉ thị  
giúp các nghiên cứu dễ dàng hơn trong việc nhận biết thể chuyển gen  
dƣới kính hiển vi điện tử mà không làm thay đổi hoạt tính sinh lý,  
sinh hóa của chủng. Một số gen chỉ thị thƣờng dùng là DsRed, GFP,  
GUS, lacZ…  
1.3.3. Các yếu tố ảnh hƣởng quá trình chuyển gen  
Quá trình chuyển gen vào nấm sợi thông qua A.  
tumefaciens là phƣơng pháp đƣợc áp dụng phổ biến bởi tính ổn định  
và chi phí thấp. Tuy nhiên, hiệu suất của quá trình chuyển gen phụ  
thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ: (1) Agrobacter tumefaciens; (2) Thời  
gian, cấu trúc màng đồng nuôi cấy quyết định thành công hay thất  
bại của quá trình chuyển gen (3) Vật liệu chuyển gen (4) Nồng độ  
chất cảm ứng.  
1.3.4. Một số nghiên cứu cải biến di truyền đối với nấm diệt  
tuyến trùng  
Một cách để cải thiện khả năng kiểm soát sinh học của nấm  
diệt tuyến trùng là sử dụng kỹ thuật di truyền để tăng khả năng gây  
bệnh và khả năng sống sót của loại nấm diệt tuyến trùng. Nhờ đột  
biến gen xảy ra với nấm diệt tuyến trùng A. oligospora, gen PII - mã  
hóa protease serine (phân hủy lớp biểu bì tuyến trùng) đã đƣợc biểu  
hiện quá mức ở A. oligospora. Ahman và cs., (2002) đã nghiên cứu  
11  
gen PII của Arthrobotrys oligospora và nhận thấy nếu xóa gen PII do  
tái tổ hợp tƣơng đồng có ảnh hƣởng đến khả năng diệt tuyến trùng  
của nấm này. Đồng thời, nếu biểu hiện quá mức PII thì nhận thấy tốc  
độ diệt tuyến trùng tăng hơn so với chủng dại.  
1.4. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CHẾ PHẨM SINH HỌC DIỆT  
TUYẾN TRÙNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM  
Hiện nay, có một số khó khăn liên quan đến các ứng dụng  
kiểm soát sinh học, bao gồm hiệu quả tƣơng đối thấp và sự không  
thống nhất trong môi trƣờng nông lâm nghiệp.  
Một số biện pháp sử dụng nhằm kiểm soát bệnh tuyến trùng cây  
Hồ tiêu tại Việt Nam  
Một trong những vấn đề lớn thƣờng gặp đối với đa số hộ  
trồng Hồ tiêu là sử dụng nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật và tự ý tăng  
liều lƣợng. Mục đích của ngƣời trồng Hồ tiêu là mong muốn tăng  
cao năng suất nhƣng họ lại không quan tâm đến chất lƣợng sản  
phẩm. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho tình trạng hồ tiêu  
thành phẩm của nƣớc ta xuất khẩu ra thị trƣờng quốc tế có tồn dƣ  
chất bảo vệ thực vật vƣợt quá giới hạn cho phép.  
Mặc dù tiềm năng kiểm soát sinh học bệnh tuyến trùng của  
chi Paecilomyces là rất lớn nhƣng việc nghiên cứu sử dụng chi này ở  
Việt Nam còn nhiều hạn chế. Các nghiên cứu gần đây nhƣ đã đề cập  
ở trên cho thấy hiệu quả diệt tuyến trùng ở cây Hồ tiêu của chế phẩm  
chƣa cao, vì vậy việc tăng cƣờng nghiên cứu phát triển chế phẩm  
sinh học nhằm tiêu diệt tuyến trùng là rất cần thiết.  
Chƣơng 2  
VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
12  
2.1.VẬT LIỆU  
2.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu: 15 mẫu đất thu thập tại vùng trồng Hồ  
tiêu khu vực tỉnh Đăk Lăk, E.coli DH5α, Agrobacterium tumefaciens  
AGL1; Tuyến trùng Meloidogyne sp; Cây Hồ tiêu: 3,5 tháng tuổi;  
Vƣờn Hồ tiêu thời kỳ kinh doanh (từ 5 – 7 năm tuổi) thuộc xã Eabar,  
huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk.  
2.1.2. Hóa chất  
Hygromycin B; Phleomycin; Nourseothricin; Geneticin  
(G418); Kanamycin; Ampilixilin; Cefotaxime; Acetosyringone AS  
(Merck); kít tinh sạch DNA (Thermo, Pro MEGA, Intron); enzym  
Phusion®; pJET 1.2/blunt – Cat. Nos. K1231 (Thermo); Casein  
(Merck); chitin (Biobasic); CMA (Merck); PDA, 5 – fluoroorotic  
acid (5-FOA), Uridine,Uracil (Merck).  
2.1.3. Thiết bị  
Các thiết bị sinh học phân tử thuộc Phòng thí nghiệm trọng  
điểm Công nghệ Enzyme và Protein, Phòng Công nghệ lên men,  
Phòng Công nghệ sinh học enzyme/Viện Công nghệ sinh học.  
2.2. PHƢƠNG PHÁP  
2.2.1. Phƣơng pháp phân lập và quan sát hình thái  
2.2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu enzyme/protein  
Phƣơng pháp xác định hoạt tính chitinase bằng phản ứng màu với  
DNSA theo Miller 1959; Xác định hoạt tính protease đƣợc xác định  
theo phƣơng pháp Anson cải tiến.  
2.2.3. Phƣơng pháp điện di trên Gel polyacrylamid (SDS-PAGE)  
theo Laemmli U.K., (1970); Phƣơng pháp xác định hàm lƣợng  
protein tổng số theo Bradford.  
2.2.4. Tách chiết DNA hệ gen và PCR các đoạn DNA  
13  
2.2.5. Phản ứng nối ghép gen (Phản ứng ghép nối sản phẩm PCR  
(50-100 ng/µl)  
2.2.6. Biến nạp vector tái tổ hợp vào E.coli DH5α  
2.2.7. Tách DNA plasmid  
2.2.8. Đánh giá khả năng mẫn cảm với kháng sinh và 5 – FOA của  
chủng Paecilomyces lilacinus P1  
2.2.9. Phƣơng pháp thu bào tử và hệ sợi nấm P. lilacinus P1  
2.2.10. Phƣơng pháp tạo chủng đột biến gen pyrG bằng UV sử dụng  
môi trƣờng chọn lọc 5-fluoroorotic acid (5-FOA) từ chủng P1  
2.2.11. Phƣơng pháp chuyển gen vào nấm sợi bằng Agrobacterium  
tumefaciens AGL1  
2.2.3. Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hƣởng tới khả năng sinh tổng  
hợp chitinase của P. lilacinus P1  
2.2.4. Các phƣơng pháp thử nghiệm chế phẩm sinh học  
Chƣơng 3  
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. TUYỂN CHỌN CÁC CHỦNG NẤM SỢI CÓ KHẢ NĂNG  
DIỆT TUYẾN TRÙNG  
3.1.1. Phân lập, sàng lọc các chủng nấm sợi  
Từ 15 mẫu đất và rễ quanh cây Hồ tiêu thu thập tại Đăk Lăk.  
Mẫu đƣợc pha loãng và đƣợc cấy gạt trên môi trƣờng CDA. Qua  
tổng quan tài liệu, dựa trên hình thái, màu sắc khuẩn lạc, cấu trúc  
sinh bào tử…, các chủng nấm sợi phân lập đƣợc sàng lọc định hƣớng  
tới chủng nấm sợi có khả năng diệt tuyến trùng.  
Bảng 3.1. Hình thái, cấu trúc sinh bào tử của các chủng nấm sợi  
Bảng 3.2. Khảo sát khả năng diệt tuyến trùng Meloidogyne sp.  
14  
ST  
T
Tên chủng  
Tỉ lệ tuyến trùng chết (%)  
24 h  
-
48 h  
-
72 h  
-
96 h  
-
120 h  
-
0
Đối chứng 1  
(nƣớc cất)  
ĐC 2 (CD  
dịch thể)  
P1  
1
2
3
4
-
-
-
-
-
-
±
±
10,81±  
0,75  
30,7 ±  
2,71  
58,5 ±  
2,39  
58,5 ±  
2,41  
NV01  
NV20  
2,31 ±  
0,24  
15,6 ±  
1,82  
50,4 ±  
2,84  
50.4 ±  
2,97  
20,80 ±  
2,51  
40,17 ± 55,23 ±  
3,28 4,12  
55,23  
± 3,96  
Ghi chú: ( ± ): chết rất ít, không đáng kể, (-): chết  
Bảng 3.2 cho thấy, trong thời gian thử nghiệm đến 96 giờ,  
tuyến trùng cho tỷ lệ chết cao nhất đến 58% đối với P1; 55,23% đối  
với NV20; 50,4% đối với NV01. Trong khoảng thời gian 72 - 96  
giờ lƣợng trứng nở và ấu trùng sống sót bắt đầu giảm nhiều, có thể là  
tại thời điểm này các enzym phân hủy cùng với các độc tố bắt đầu  
đƣợc sản sinh nhiều hơn nên đã có tác động đến khả năng tồn tại và  
phát triển quần thể của tuyến trùng so với mẫu đối chứng. Sau 96 giờ  
trở đi, lƣợng trứng và ấu trùng sống sót thay đổi không đáng kể, có  
thể do lƣợng enzym ủ lâu đã mất đi một phần hoạt tính.  
Nhƣ vậy, cả ba chủng nấm đƣa vào khảo sát đều có khả năng  
diệt tuyến trùng. Ở Việt Nam hiện nay các công bố về sử dụng chế  
phẩm bào tử nấm để diệt tuyến trùng còn hạn chế. Tuy nhiên, đây là  
15  
bƣớc đầu thử nghiệm và khẳng định tính hiệu quả trong các nghiên  
cứu về chế phẩm sinh học diệt tuyến trùng.  
3.1.2. Định danh các chủng nấm sợi P1, NV01, NV20 bằng trình  
tự ITS1/ITS4  
Các chủng P1, NV01, NV20 đƣợc nuôi cấy trên môi trƣờng  
CD dịch thể trong thời gian từ 3 -5 ngày; nhiệt độ nuôi cấy 28oC ±  
2oC, tốc độ lắc 200 vòng/phút. Hệ sợi nấm đƣợc thu để phục vụ tách  
chiết DNA hệ gen.  
Chủng NV20 có mức độ tƣơng đồng về trình tự ITS với chủng  
Pleurotus giganteus (KT956125) là 99%, do vậy đƣợc gọi là  
Plerotus giganteus NV20. P1 có mức độ tƣơng đồng về trình tự ITS  
với chủng Paecilomyces lilacinus KY549673.1 là 99%. NV01 thuộc  
loài P. variotii và đƣợc đặt tên là P. variotii NV01.  
3.1.3. Khảo sát khả năng sinh tổng hợp chitinase, protease ngoại  
bào của chủng P. variotii NV01 và P. lilacinus P1  
Kết quả cho thấy, hoạt độ chitinase và protease của P1 đều  
cao hơn so với NV01 trong cùng điều kiện nuôi cấy. Cụ thể hoạt độ  
chitinase lần lƣợt là 61,7 U/ml và 37,7 U/ml. Hoạt độ chitinase của  
chủng P1 gấp 3 lần so với nghiên cứu của Homthong và cs., (2016)  
khi nuôi cấy Paecilomyces sp. trên môi trƣờng cơ bản.  
3.2.1. Tinh sạch chitinase từ chủng P1  
Bảng 3.3. Kết quả tinh sạch chitinase từ chủng P. lilacinus P1  
Bƣớc tinh sạch  
HL  
pr.TS  
(ml)  
HT tổng  
số (U)  
Hoạt độ  
riêng  
(U/ml)  
62,63  
Độ sạch  
(lần)  
Hiệu  
suất  
(%)  
Enzym thô  
(NH4)2SO4  
DEAE-  
0,76  
47,6  
5,53  
0,8  
1,0  
1,35  
2,1  
100  
0,065  
0,006  
85,08  
133,3  
11,6  
1,68  
16  
Sephadex A-50  
3.2.2. Tính an toàn của chủng P. lilacinus P1  
Theo một số công trình nghiên cứu, P. lilacinus là chủng an  
toàn đối với con ngƣời. P. lilacinus cho thấy không có độc tính hoặc  
khả năng gây bệnh khi thử nghiệm trên động vật gặm nhấm và các  
động vật không xƣơng sống khác nhau. P. lilacinus không tồn tại ở  
nhiệt độ cơ thể con ngƣời.  
3.4.1. Ảnh hƣởng của các yếu tố môi trƣờng lên men  
Ở nồng độ cơ chất 0,75% hoạt tính chitinase cao hơn cả cụ  
thể gấp 2,7 lần so với không bổ sung cơ chất (70,3 U/ml so với 25,8  
U/ml); gấp 1,8 lần so với nồng độ chitin là 0,1%. Điều đó chứng tỏ  
rằng, khi không có hoặc nồng độ chitin quá thấp thì lƣợng cơ chất  
này không đủ để chủng P1 vừa sinh trƣởng vừa tổng hợp chitinase.  
Khi tăng nồng độ cơ chất thì hoạt tính chitinase tăng lên rõ rệt, tuy  
nhiên khi tăng đến 1,5% thì hoạt tính chitinase lại giảm, điều này cho  
thấy khi tăng nồng độ cơ chất vào môi trƣờng quá cao, thì pha tăng  
trƣởng của nấm sợi có thể kéo dài hơn, sản phẩm cuối và thứ cấp sẽ  
tích tụ nhiều hơn gây ức chế sự tổng hợp chitinase, nồng độ  
chitinase 0,75% là thích hợp cho chủng P1 sinh chitinase cao và sử  
dụng nồng độ này cho nghiên cứu kế tiếp.  
3.1.7.2. Ảnh hưởng của nguồn các bon  
Glucose cho hoạt tính chitinase cao nhất trong các nguồn  
khảo sát 58,2 đến 62,7 U/ml. Do đó, glucose đƣợc chọn nguồn  
carbon trong quá trình sinh tổng hợp chitinase.  
3.1.7.3. Ảnh hƣởng của nguồn ni tơ  
Giống nhƣ carbon, việc lựa chọn nguồn nitơ và nồng độ của  
nó trong môi trƣờng cũng đóng một vai trò quan trọng trong sản xuất  
17  
chất chuyển hóa. Bởi vì, chủng P1 này có thể sử dụng cả nguồn nitơ  
vô cơ và / hoặc hữu cơ. Trong nghiên cứu này, ảnh hƣởng của một số  
nguồn nitơ nhƣ pepton, cao thịt, (NH4)2SO4, KNO3, NaNO3 ở nồng  
độ 0,5% đã đƣợc nghiên cứu. Kết quả nhận thấy pepton cho hoạt tính  
chitinase cao nhất, nguồn nitơ vô cơ cho hoạt tính thấp hơn; kết quả  
này cũng trùng với các công bố của Farag A., (2014), Dhar P.,  
(2010), Jha S., (2016)  
3.1.7.4. Phân tích ý nghĩa của mô hình với thí nghiệm  
Sử dụng phƣơng án đáp ứng bề mặt – phƣơng pháp cấu trúc  
có tâm nhằm tìm kiếm sự kết hợp tối ƣu của các thành phần này  
trong môi trƣờng nuôi cấy. Giới hạn nồng độ phù hợp của các yếu tố  
đã đƣợc xác định sơ bộ. Nhƣ vậy năm yếu tố với tổng số 63 thí  
nghiệm đƣợc tiến hành. Mỗi thí nghiệm đƣợc lặp lại 3 lần.  
Hình 3.19. Bề mặt đáp ứng của từng cặp các yếu tố ảnh hƣởng  
đến sinh tổng hợp chitinase của chủng P. lilacinus P1  
3.1.7.5. Đánh giá tính thực tế của mô hình  
Môi trƣờng CHY3 (chitin cơ chất: 0,75%, glucose 1,93%,  
pepton 0,33%, K2HPO4 0,1%, Ca2+/Mg2+: 3:4) đã đƣợc chọn làm môi  
18  
trƣờng thích hợp cho quá trình lên men sinh tổng hợp chitinase  
chủng P1: cụ thể là hoạt tính chitinase tăng lên 17% so với khi chƣa  
tối ƣu; đồng thời gấp 3,5 lần so với nghiên cứu của Homthong và cs.,  
(2016).  
3.2. NGHIÊN CỨU TẠO CHẾ PHẨM VÀ THỬ NGHIỆM CHẾ  
PHẨM SINH HỌC DIỆT TUYẾN TRÙNG  
3.2.1. Nghiên cứu tạo chế phẩm sinh học diệt tuyến trùng  
Meloidogyne sp. gây bệnh cây Hồ tiêu  
Chế phẩm dạng dịch thể của chủng P1 đƣợc bảo quản ở nhiệt  
độ 20oC – 30oC và đƣợc kiểm tra mật độ sau các khoảng thời gian  
bảo quản: 10 ngày, 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng.  
3.2.2. Nghiên cứu khả năng phòng trừ tuyến trùng Meloidogyne  
sp. hại Hồ tiêu trong điều kiện nhà lƣới của chế phẩm sinh học  
Tại các thời điểm kiểm tra sau xử lý, mật độ tuyến trùng  
trong các chậu đối chứng có tăng thêm từ 4,7% đến 9,9%. Trong các  
chậu thí nghiệm mật độ tuyến trùng còn sống giảm xuống còn 56-  
82% do tác động của chế phẩm. Hiệu lực diệt tuyến trùng dao động  
trong khoảng 20-53%. Xét về hiệu lực diệt tuyến trùng ở các mức  
pha loãng 50 và 100 lần gần giống nhau, còn ở mức 150 và 200 lần  
hiệu lực giảm hẳn, nên chọn mức pha loãng chế phẩm 100 lần.  
3.2.3. Đánh giá năng suất của mô hình trình diễn sau khi sử dụng  
chế phẩm  
Chế phẩm sinh học có tác dụng điều hòa tăng năng suất tới  
trên 20%. Các vƣờn chớm bị bệnh vàng lá, năng suất cả bên đối  
chứng và mô hình đều giảm nhiều so với vƣờn không bị vàng lá,  
nhƣng do vƣờn mô hình có sử dụng chế phẩm nên hạn chế đƣợc  
19  
tuyến trùng và nấm gây bệnh do đó năng suất tăng hơn nhiều so với  
đối chứng, tới trên 30%.  
3.3. NGHIÊN CỨU CẢI BIẾN DI TRUYỀN CHỦNG P. lilacinus  
P1  
Khả năng diệt tuyến trùng cũng nhƣ khả năng sinh tổng hợp  
enzym hoặc các chất có hoạt tính sinh học ở chủng P. lilacinus tự  
nhiên là có hạn. Việc tăng cƣờng khả năng diệt tuyến trùng hay sinh  
enzym có thể thực hiện thông qua việc cải biến di truyền. Trong  
nghiên cứu này, hệ thống chuyển gen vào chủng P1 bƣớc đầu đƣợc  
xây dựng nhằm tạo ra một công cụ hữu hiệu hơn để thực hiện việc  
cải biến di truyền.  
Chủng P1 kháng với cả 4 loại kháng sinh là phleomycin;  
nourseothricin; hygromycin; geneticin (G418) với nồng độ kháng  
sinh từ 600 – 1000 µg/ml. Tuy nhiên, đối với 5-FOA chủng P1  
không sinh trƣởng đƣợc trên tất cả các nồng độ thử nghiệm. Điều đó  
đƣợc giải thích rằng gen PyrG mã hóa cho enzym decarboxylase  
orotidine-5’-monophotphate (OMP) xúc tác cho quá trình tổng hợp  
pyrimidin tác dụng với 5-FOA (khi có mặt 5 – FOA) không độc  
thành chất gây độc tế bào là 5-fluorouracil dẫn tới tế bào chết.  
3.3.2. Tạo chủng nấm P. lilacinus đột biến kháng 5-FOA và  
trợ dƣỡng uracil/uridine  
3.3.2.1. Gây đột biến kháng 5-FOA và trợ dưỡng uracil/uridine  
bằng phương pháp chiếu UV  
Từ kết quả đánh giá khả năng kháng kháng sinh và 5-FOA  
của chủng P1, môi trƣờng chứa 5-FOA, uracil, uridine đƣợc sử dụng  
để chọn lọc thu nhận các thể đột biến kháng 5-FOA và trợ dƣỡng  
uracil và uridine. Phƣơng pháp chiếu UV đã đƣợc áp dụng để tạo ra  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 25 trang yennguyen 13620 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Dự thảo tóm tắt Luận án Nghiên cứu vi nấm kháng bệnh trên cây hồ tiêu Piper nigrum L. nhằm tạo chế phẩm sinh học diệt tuyến trùng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdu_thao_tom_tat_luan_an_nghien_cuu_vi_nam_khang_benh_tren_ca.pdf