Luận văn Khảo sát thực trạng báo cáo ADR của đơn vị kinh doanh thuốc giai đoạn 2014-2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI  
BỘ Y TẾ  
TRẦN THỊ LAN ANH  
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO  
PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC (ADR)  
TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN ĐA KHOA  
TUYẾN TỈNH  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƢỢC HỌC  
HÀ NỘI, NĂM 2017  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI  
BỘ Y TẾ  
TRẦN THỊ LAN ANH  
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO  
PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC (ADR)  
TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN ĐA KHOA  
TUYẾN TỈNH  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƢỢC HỌC  
CHUYÊN NGÀNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC  
MÃ SỐ : 62720412  
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Hƣơng  
PGS.TS. Nguyễn Hoàng Anh  
HÀ NỘI, NĂM 2017  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả nêu  
trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình  
nào khác.  
Trần Thị Lan Anh  
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành Luận án, tôi đã nhận được rất nhiều  
sự giúp đỡ và tạo điều kiện của nhiều Lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, đồng  
nghiệp, cựu sinh viên, gia đình và bạn bè.  
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới tập thể  
thầy cô giáo hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Hương và PGS.TS.  
Nguyễn Hoàng Anh, thầy cô là người đã tận tình dìu dắt, hướng dẫn, trang bị  
cho tôi những kiến thức khoa học quý giá và luôn động viên tôi trong suốt quá  
trình thực hiện Luận án.  
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô và đồng nghiệp tại Bộ môn Quản lý và  
kinh tế dược trường Đại học Dược Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ cho tôi rất  
nhiều trong thời gian học tập và đồng hành cùng tôi trong quá trình thực hiện Luận  
án.  
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các đồng nghiệp tại Trung  
tâm quốc gia về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc đã nhiệt  
tình giúp đỡ và hỗ trợ. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Quản lý dự án “Hỗ trợ hệ  
thống y tế”, hợp phần 2.1 đã tạo điều kiện hỗ trợ tôi trong quá trình hoàn thành  
Luận án.  
Tôi trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, Lãnh đạo khoa Dược và các Dược  
sĩ khoa Dược bệnh viện đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu  
thực hiện luận án.  
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cựu sinh viên trường Đại học  
Dược Hà Nội khóa 64, 65, 66 đã đồng hành cùng tôi trong thời gian triển khai  
nghiên cứu.  
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học Trường  
đại học Dược Hà Nội đã quan tâm tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học  
tập và nghiên cứu.  
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình mình, cùng các  
anh chị và bạn bè đã động viên, cổ vũ nhiệt tình về mặt tinh thần cho tôi trong  
quá trình thực hiện Luận án.  
Hà Nội, ngày  
tháng năm 2017  
Trần Thị Lan Anh  
MỤC LỤC  
LỜI CAM ĐOAN  
LỜI CẢM ƠN  
MỤC LỤC  
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT  
DANH MỤC BẢNG  
DANH MỤC HÌNH  
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……………………………………………….118  
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ  
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT  
Viết tắt  
ADR  
ADE  
BCH  
BS  
Tiếng Anh  
Tiếng Việt  
Adverse drug reaction  
Adverse drug event  
Phản ứng có hại của thuốc  
Biến cố bất lợi của thuốc  
Bộ câu hỏi  
Bác sĩ  
Bệnh viện  
BV  
Bộ Y tế  
BYT  
Canadian adverse drug  
reaction monitoring  
program  
Chương trình giám sát ADR của  
Canada  
CADRMP  
Cảnh giác Dược  
CGD  
CIHI  
Canadian Institute for  
Health Information  
Viện thông tin y tế Canada  
Dược sĩ  
DS  
Điều dưỡng trưởng  
Quỹ toàn cầu  
ĐDT  
GF  
Global Fund - GF  
Indicator – based  
Pharmacovigilance  
Assessment Tool  
Bộ công cụ đánh giá hoạt động  
Cảnh giác Dược dựa trên các chỉ  
số  
IPAT  
Kế hoạch tổng hợp  
Sai sót liên quan tới thuốc  
KHTH  
ME  
Medication errors  
Nhân viên y tế  
Phó giám đốc  
Phỏng vấn sâu  
Sau can thiệp  
Trước can thiệp  
NVYT  
PGĐ  
PVS  
SCT  
TCT  
The National Drug  
Information and  
Adverse Drug  
Reactions Monitoring  
Centre  
Trung tâm Quốc gia về Thông tin  
thuốc và Theo dõi phản ứng có hại  
của thuốc  
Trung tâm  
DI & ADR  
Quốc gia  
Thảo luận nhóm  
TLN  
Toxic Epidermal  
Necrolysis  
Hội chứng tiêu thượng bì nhiễm  
độc  
TEN  
World Health  
Organization  
Uppsala Monitoring  
Centre  
Tổ chức Y tế thế giới  
WHO  
UMC  
Trung tâm giám sát thuốc toàn cầu  
đặt tại Uppsala, Thụy Điển  
DANH MỤC BẢNG  
Tên bảng  
Số bảng  
Trang  
1.1  
Ưu điểm và hạn chế của báo cáo tự nguyện  
Kiến thức và thái độ của NVYT đối với hoạt động báo cáo  
ADR  
9
1.2  
1.3  
1.4  
15  
19  
21  
Tổng hợp một số kết quả về số lượng báo cáo ADR  
Tỷ lệ báo cáo thiếu xác định bằng phương pháp phỏng vấn  
theo bộ câu hỏi theo một số nghiên cứu  
Chỉ tiêu và kết quả nghiên cứu về một số thông tin ghi nhận  
trên báo cáo ADR theo một số nghiên cứu tại nước ngoài  
Chỉ tiêu và kết quả nghiên cứu về một số thông tin ghi nhận  
trên báo cáo ADR theo một số nghiên cứu tại Việt Nam  
Tổng hợp một số kết quả về đề xuất các biện pháp nâng cao  
hoạt động báo cáo ADR của NVYT  
1.5  
1.6  
23  
25  
1.7  
1.8  
27  
28  
37  
38  
40  
Hiệu quả của một số tác động đến hoạt động báo cáo ADR  
Các giải pháp được đề xuất và can thiệp được thực hiện  
trong gian đoạn 2013-2015  
2.9  
2.10  
2.11  
Các biến số nghiên cứu  
Phương pháp chọn mẫu và cách tính cỡ mẫu về thực trạng  
hoạt động báo cáo ADR  
Phương pháp chọn mẫu và cách tính cỡ mẫu về đánh giá  
hiệu quả sau can thiệp  
2.12  
2.13  
2.14  
41  
44  
45  
Các chỉ tiêu nghiên cứu về thực trạng tổ chức hoạt động và  
quản lý trong báo cáo ADR  
Các chỉ tiêu nghiên cứu về thực trạng kiến thức, thái độ của  
NVYT đối với hoạt động báo cáo ADR  
2.15  
2.16  
2.17  
Các chỉ tiêu nghiên cứu về thực trạng báo cáo ADR  
Kết quả số lượng BCH hợp lệ thu được (năm 2013)  
Kết quả số lượng BCH hợp lệ thu được (năm 2015)  
Điểm đánh giá về cơ cấu tổ chức liên quan hoạt động báo  
cáo ADR  
46  
49  
49  
3.18  
3.19  
3.20  
51  
52  
53  
Điểm đánh giá cơ sở vật chất và nhân lực  
Điểm đánh giá về triển khai các biểu mẫu liên quan đến hoạt  
động báo cáo ADR  
Số bảng  
Tên bảng  
Trang  
Điểm đánh giá về hoạt động nghiên cứu liên quan đến an  
toàn thuốc trong bệnh viện  
3.21  
54  
3.22  
3.23  
3.24  
3.25  
Điểm đánh giá về hoạt động thông tin và truyền thông  
56  
59  
59  
60  
Kiến thức của NVYT về loại ADR cần ưu tiên báo cáo  
Thái độ của NVYT về vai trò của báo cáo ADR  
Khó khăn trong hoạt động báo cáo ADR  
Kết quả về thực hành báo cáo ADR thông qua khảo sát  
NVYT  
3.26  
3.27  
62  
63  
Số lượng báo cáo và tỉ lệ báo cáo ADR /1000 bệnh nhân nội  
trú  
Tỷ lệ báo cáo thiếu ghi nhận tại Trung tâm DI&ADR Quốc  
gia so với bệnh viện  
3.28  
3.29  
3.30  
3.31  
3.32  
63  
64  
64  
65  
70  
Đối tượng tham gia báo cáo ADR giai đoạn 2010 - 2012  
Các khoa phòng ghi nhận và báo cáo ADR giai đoạn 2010 -  
2012  
Kết quả đánh giá mối liên quan giữa thuốc - ADR  
So sánh kiến thức, thái độ của NVYT về ADR và báo cáo  
ADR tại 3 bệnh viện TCT và SCT  
Kiến thức của NVYT về một số nội dung liên quan báo cáo  
ADR  
3.33  
3.34  
3.35  
71  
73  
74  
So sánh tỷ lệ báo cáo nghiêm trọng và tỷ lệ báo cáo/1000  
BN nội trú TCT và SCT  
Kết quả kiểm định xu hướng thay đổi số lượng báo cáo tại 3  
bệnh viện  
3.36  
3.37  
So sánh tỷ lệ NVYT tham gia báo cáo ADR TCT và SCT  
So sánh chất lượng báo cáo tại 3 bệnh viện TCT và SCT  
Tổng hợp các ý kiến về khó khăn liên quan đến tổ chức hoạt  
động và quản lý trong báo cáo ADR  
77  
78  
3.38  
81  
Tổng hợp các ý kiến về rào cản liên quan nhân lực trong  
hoạt động báo cáo ADR  
3.39  
3.40  
82  
84  
Tổng hợp các khó khăn về kiến thức, thái độ của NVYT  
DANH MỤC HÌNH  
Số hình  
Tên hình  
Trang  
Quy trình hoạt động của hệ thống Cảnh giác Dược  
1.1  
6
Quy trình xử lý báo cáo ADR tại Trung tâm DI&ADR Quốc  
1.2  
1.3  
12  
31  
gia  
Mô hình lý thuyết kết hợp các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động  
báo cáo ADR từ nhân viên y tế theo Herdeiro  
Sơ đồ tóm tắt nghiên cứu  
2.4  
3.5  
3.6  
3.7  
3.8  
36  
57  
58  
61  
66  
Tổng hợp điểm đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động, quản lý  
Tỷ lệ NVYT nhận thức đầy đủ định nghĩa ADR theo WHO  
Tỷ lệ các nguyên nhân NVYT chưa thực hiện báo cáo  
Điểm trung bình báo cáo và tỷ lệ báo cáo chất lượng tốt  
So sánh tỷ lệ điểm đánh giá tổ chức hoạt động và quản lý trong  
báo cáo ADR tại 3 BV trước và sau can thiệp  
3.9  
68  
72  
Tỷ lệ NVYT trả lời đúng về thời gian gửi báo cáo theo mức độ  
nghiêm trọng của ADR  
3.10  
Số lượng báo cáo theo tháng từ 01/2010-12/2015 của 3 bệnh  
viện  
3.11  
3.12  
75  
76  
Biểu đồ so sánh tỷ lệ báo cáo thiếu qua TCT và SCT  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Sự ra đời của nhiều thuốc mới đã mang lại lợi ích to lớn trong điều trị và  
cho cộng đồng, song cũng đặt ra nhiều thách thức trong công tác đảm bảo sử  
dụng thuốc hợp lý, an toàn. Dữ liệu về tính an toàn của thuốc vẫn còn hạn chế do  
điều kiện của các thử nghiệm trước khi thuốc được đưa ra thị trường không phản  
ánh đúng điều kiện thực tế mà thuốc được sử dụng. Hơn nữa, một số phản ứng  
hiếm gặp hoặc xuất hiện muộn có thể chỉ được biết đến khi thuốc được lưu hành  
rộng rãi. Bài học từ thảm họa Thalidomid năm 1961 gây dị tật cho gần 10.000 trẻ  
em trên toàn thế giới cho thấy cần phải triển khai hệ thống Cảnh giác Dược tại  
mỗi quốc gia nhằm thu thập, phân tích, xử trí và dự phòng các phản ứng có hại  
của thuốc (ADR) [81]. Trong các phương pháp dịch tễ học để phát hiện và theo  
dõi ADR mà Cảnh giác Dược đang áp dụng, báo cáo tự nguyện từ nhân viên y tế  
tại các cơ sở khám, chữa bệnh hiện là phương pháp đơn giản, ít tốn k m và được  
áp dụng phổ biến nhất. Tuy nhiên trong công tác báo cáo ADR hiện vẫn còn vấn  
đề tồn tại, đó là hiện tượng báo cáo thấp hơn thực tế (under-reporting) về số  
lượng và chất lượng [63]. Một số nguyên nhân liên quan đến nhân viên y tế ảnh  
hưởng đến hiện tượng này đã được chỉ ra bao gồm: thiếu hiểu biết về hoạt động  
báo cáo, không tự tin khi báo cáo, thờ ơ với hoạt động này, cho rằng một báo  
cáo đơn lẻ không có ý nghĩa cho các kiến thức y tế, khó xác định mối quan hệ  
nhân quả giữa thuốc và biến cố bất lợi và cho rằng các thuốc đã được lưu hành  
trên thị trường đều an toàn [79]. Nghiên cứu tại các bệnh viện của Việt Nam  
(giai đoạn 2011-2012) cho thấy có đến 65,5% báo cáo ADR thiếu các thông tin  
quan trọng để đánh giá mối quan hệ nhân quả thuốc-ADR [3]. Do vậy, việc thúc  
đẩy hoạt động báo cáo ADR cả về số lượng cũng như chất lượng là nhiệm vụ  
quan trọng hàng đầu trong công tác Cảnh giác Dược, đòi hỏi những giải pháp  
thích hợp để đảm bảo hiệu quả. Các giải pháp này đã được một số nghiên cứu  
trước đây chỉ ra, bao gồm: đào tạo, tập huấn cho nhân viên y tế, cập nhật mẫu  
báo cáo, cung cấp các kênh thông tin về an toàn thuốc, gửi phản hồi chi tiết tới  
người báo cáo [57].  
Công tác theo dõi phản ứng có hại của thuốc tại Việt Nam đã được bắt  
đầu từ năm 1994. Từ đó đến nay, hệ thống theo dõi đã trải qua nhiều giai đoạn  
phát triển khác nhau. Báo cáo ADR từ nhân viên y tế hiện là phương pháp chủ  
yếu để giám sát phản ứng có hại của thuốc trong các cơ sở khám, chữa bệnh ở  
1
 
nước ta. Tuy nhiên thực trạng báo cáo ADR hiện nay đã tương xứng với qui mô  
điều trị của các cơ sở khám, chữa bệnh hay chưa? Chất lượng báo cáo đã đáp  
ứng được phát hiện kịp thời các tín hiệu an toàn thuốc hay không? Hoạt động  
báo cáo ADR tại các cơ sở khám, chữa bệnh đã có hiệu quả đến mức độ nào và  
những yếu tố nào gây ảnh hưởng đến hoạt động này. Các yếu tố này phụ thuộc  
vào môi trường bên ngoài như hành lang pháp lý, điều kiện cơ sở vật chất, hay  
các yếu tố nội tại từ các nhân viên y tế. Từ đó câu hỏi nghiên cứu đặt ra là: Làm  
thế nào để nâng cao hoạt động báo cáo ADR tại các cơ sở khám, chữa bệnh? Kể  
từ năm 2011, nhiều văn bản pháp quy được ban hành đã quy định cụ thể trách  
nhiệm báo cáo ADR cũng như hướng dẫn việc thực hiện công tác này trong các  
cơ sở khám, chữa bệnh. Căn cứ những tác động vĩ mô về mặt quản lý trên đây,  
từ cuối năm 2012, một số hoạt động hỗ trợ cho hoạt động báo cáo ADR thuộc dự  
án “Hỗ trợ hệ thống Y tế”, hợp phần 2.1 “Cảnh giác Dược” cũng đã được triển  
khai. Các giải pháp đã thực hiện tại các cơ sở khám, chữa bệnh có hiệu quả hay  
không và hiệu quả ở mức độ nào? Đến nay chưa có một nghiên cứu nào tại Việt  
Nam đánh giá một cách tổng thể hoạt động báo cáo ADR về thực trạng và hiệu  
quả của các giải pháp can thiệp. Trong mạng lưới cơ sở khám, chữa bệnh của  
nước ta hiện nay, hệ thống bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh có số lượng báo cáo  
ADR gửi về Trung tâm DI&ADR Quốc gia cao hơn so với các bệnh viện chuyên  
khoa và các tuyến khác. Do đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Nghiên cứu  
hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc (ADR) tại một số bệnh viện đa  
khoa tuyến tỉnh” nhằm đánh giá hiệu quả của các giải pháp tác động vào hoạt  
động báo cáo ADR với các mục tiêu cụ thể sau:  
1. Phân tích thực trạng hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại ba  
bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010-2012.  
2. Đánh giá tác động một số can thiệp đến hoạt động báo cáo phản ứng có  
hại của thuốc tại các bệnh viện trên.  
Từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động báo cáo phản ứng  
có hại của thuốc trong giai đoạn tiếp theo.  
2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN  
1.1. Cảnh giác Dƣợc và sự cần thiết của hoạt động Cảnh giác Dƣợc trong  
bệnh viện  
1.1.1. Định nghĩa và mục tiêu của Cảnh giác Dược  
Cảnh giác Dƣợc (Pharmacovigilance), theo Tổ chức Y tế thế giới  
(WHO), được định nghĩa là môn khoa học và hoạt động chuyên môn liên quan  
đến việc phát hiện, đánh giá, hiểu và phòng tránh tác dụng có hại hoặc bất kỳ  
một vấn đề nào khác liên quan đến thuốc.  
Phạm vi của Cảnh giác Dược không chỉ dừng lại ở ADR mà còn bao gồm  
cả các vấn đề bất lợi liên quan đến thuốc như thuốc kém chất lượng, sai sót liên  
quan tới thuốc, thất bại điều trị, lạm dụng hoặc dùng sai thuốc, sử dụng thuốc với  
các chỉ định chưa được cơ quan quản lý phê duyệt, ngộ độc thuốc, tử vong liên  
quan tới thuốc, tương tác bất lợi giữa thuốc với thuốc, thức ăn hoặc xét nghiệm.  
Như vậy, thực chất Cảnh giác Dược là một hoạt động chuyên môn về giám sát  
tính an toàn của thuốc [13].  
Sai sót liên quan tới thuốc (Medication Errors - ME) là bất kỳ biến cố có  
thể phòng tránh nào có khả năng gây ra hoặc dẫn đến việc sử dụng thuốc không  
hợp lý, hoặc gây hại cho bệnh nhân trong khi thuốc được kiểm soát bởi nhân  
viên y tế, bệnh nhân, hoặc người tiêu dùng. Các biến cố như vậy có thể liên quan  
tới thực hành chuyên môn, các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, quy trình và hệ  
thống, bao gồm: kê đơn và quá trình chuyển giao đơn thuốc; ghi nhãn, đóng gói  
và danh pháp; pha chế, cấp phát, phân phối; quản lý; giáo dục; giám sát và sử  
dụng [54].  
Biến cố bất lợi của thuốc (Adverse Drug Event – ADE) được định nghĩa  
là bất kỳ biến cố nào xảy ra trong quá trình sử dụng thuốc nhưng không nhất  
thiết do phác đồ điều trị bằng thuốc gây ra. Với những biến cố bất lợi gây ra do  
thuốc, người ta sử dụng thuật ngữ phản ứng có hại của thuốc. Phản ứng có hại  
của thuốc (Adverse Drug Reaction - ADR) được định nghĩa là phản ứng độc  
hại, không được định trước và xuất hiện ở liều thường dùng cho người để phòng  
bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc chữa bệnh, hoặc làm thay đổi một chức năng sinh lý  
[113].  
3
     
Mục tiêu cụ thể của hoạt động Cảnh giác Dược là:  
- Cải thiện việc chăm sóc bệnh nhân và tính an toàn trong mối liên quan  
giữa sử dụng thuốc và sự can thiệp của điều trị và hỗ trợ điều trị.  
- Cải thiện sức khỏe cộng đồng và tính an toàn trong sử dụng thuốc.  
- Góp phần đánh giá lợi ích, nguy cơ, hiệu quả và độ an toàn của thuốc,  
thúc đẩy sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả hơn (bao gồm cả yếu tố  
kinh tế).  
- Thúc đẩy sự hiểu biết, giáo dục và đào tạo trên lâm sàng trong Cảnh giác  
Dược và truyền thông hiệu quả về an toàn trong sử dụng thuốc tới cộng đồng  
[114].  
1.1.2. Sự cần thiết của hoạt động Cảnh giác Dược trong bệnh viện  
Phản ứng có hại của thuốc để lại di chứng bệnh tật, kéo dài thời gian nằm  
viện, thậm chí gây tử vong cho bệnh nhân [45]. Nghiên cứu tại nhiều nước cho  
thấy trên 10% số ca nhập viện là do ADR [38] [47]. Theo một phân tích meta  
của Lazarou và cộng sự, ADR đứng thứ tư đến thứ sáu trong các nguyên nhân  
gây tử vong hàng đầu tại Mỹ, trong đó tỷ lệ gặp ADR ở bệnh nhân nội trú ước  
tính khoảng 15,1% [75]. Biến cố có hại của thuốc cũng là gánh nặng tài chính  
không hề nhỏ, ước tính từ 15% đến 20% ngân sách bệnh viện [40] [110]. Nhiều  
nghiên cứu chỉ ra rằng 28% – 90% các biến cố bất lợi của thuốc có thể phòng  
tránh được [38] [42]. Trong khi đó, chỉ tính riêng năm 2004, 21 bệnh viện trong  
một nghiên cứu ở Hà Lan phải chi tới 161 triệu euro để xử trí các biến cố này  
[66]. Chính vì vậy, vấn đề an toàn thuốc nói chung và các phản ứng có hại của  
thuốc nói riêng là mối quan tâm lớn trong thực hành lâm sàng tại bệnh viện. Hơn  
nữa, bệnh viện cũng là nơi tập trung đông bệnh nhân và lượng thuốc sử dụng lớn  
nên có điều kiện thuận lợi để phát hiện sớm các sai sót trong sử dụng thuốc và  
các ADR, đặc biệt là ADR của thuốc mới, ADR nghiêm trọng và ADR có thể  
phòng tránh được [103]. Từ những lý do trên, có thể nói, bệnh viện là thành phần  
không thể thiếu của hệ thống giám sát an toàn thuốc sau khi đưa ra thị trường và  
là đối tác vô cùng quan trọng của hệ thống Cảnh giác Dược quốc gia [114].  
Với mục tiêu đảm bảo an toàn trong sử dụng thuốc và cải thiện chăm sóc  
bệnh nhân, hoạt động Cảnh giác Dược trong các cơ sở khám chữa bệnh đã trở  
thành một phần không thể thiếu của thực hành lâm sàng tại bệnh viện [114]. Hệ  
4
 
thống trao đổi thông tin của Cảnh giác Dược giúp phát hiện nguy cơ của thuốc  
cũng như các yếu tố nguy cơ và so sánh độc tính của các thuốc có hiệu quả  
tương đương trong cùng một nhóm điều trị [103]. Bên cạnh đó, Cảnh giác Dược  
còn giúp phát hiện nhiều vấn đề sử dụng thuốc không hợp lý và thuốc giả, thuốc  
kém chất lượng. Như vậy, Cảnh giác Dược đóng vai trò quan trọng trong việc  
phát hiện và đo lường nguy cơ về phản ứng có hại của thuốc, từ đó giúp ngăn  
chặn kịp thời các biến cố bất lợi có thể xảy ra, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và  
giảm bớt gánh nặng kinh tế không đáng có cho hệ thống chăm sóc y tế tại cơ sở  
khám, chữa bệnh [114].  
1.1.3. Hệ thống Cảnh giác Dược tại Việt Nam  
Hoạt động Cảnh giác Dược tại Việt Nam hiện nay tập trung vào việc theo  
dõi các vấn đề liên quan đến tính an toàn của thuốc, kể cả vắc xin, sinh phẩm y  
tế dùng trực tiếp trên người, thuốc y học cổ truyền và thuốc có nguồn gốc dược  
liệu. Các vấn đề liên quan đến tính an toàn của thuốc bao gồm phản ứng có hại  
của thuốc, sai sót liên quan đến thuốc, các vấn đề về chất lượng thuốc (thuốc giả,  
thuốc kém chất lượng). Các hoạt động Cảnh giác Dược được triển khai theo tiến  
trình đi từ báo cáo (gửi thông tin), phát hiện tín hiệu, đánh giá nguy cơ, ra quyết  
định can thiệp và truyền thông về tính an toàn của thuốc với sự tham gia của các  
cá nhân, đơn vị khác nhau trong hệ thống. Cụ thể, vai trò của mỗi cá nhân, đơn  
vị được mô tả trong hình 1.1.  
5
 
Hoạt động  
Đơn vị  
Cá nhân  
-Người bệnh,  
cộng đồng  
- NVYT  
Phát hiện, theo dõi và báo cáo các  
vấn đề liên quan đến tính an toàn  
của thuốc  
-Cơ sở khám bệnh,  
chữa bệnh  
-Đơn vị kinh doanh  
thuốc  
BÁO  
CÁO  
- Cán bộ CGD  
-Thu thập, đánh giá quan hệ nhân  
quả giữa biến cố bất lợi và thuốc  
nghi ngờ  
-Cập nhật thông tin an toàn thuốc  
trên thế giới và tại Việt Nam  
-Phát hiện tín hiệu về tính an toàn  
của thuốc. Đánh giá tín hiệu và đưa  
ra cảnh báo  
Cấp độ cơ sở  
PHÁT  
HIỆN  
TÍN  
HIỆU,  
ĐÁNH  
GIÁ  
- NVYT  
(nhiều lĩnh  
vực)  
- Cán bộ  
CGD  
-Khoa Dược, Đơn vị  
Thông tin thuốc, Hội đồng  
thuốc và điều trị của cơ sở  
khám bệnh, chữa bệnh  
-Bộ phận CGD của đơn vị  
kinh doanh thuốc  
Cấp độ quốc gia  
-Trung tâm DI & ADR  
Quốc gia và khu vực  
NGUY  
CƠ  
-Đánh giá nguy cơ/lợi ích của thuốc  
-Tư vấn cho lãnh đạo đơn vị, cơ  
quan quản lý  
-Hội đồng tư vấn cấp SĐK  
lưu hành thuốc - Bộ Y tế  
-NVYT  
(nhiều lĩnh  
vực)  
-Lãnh đạo  
đơn vị, nhà  
quản lý  
Ở cấp độ cơ sở hoặc quốc gia:  
-Cảnh báo về tính an toàn của thuốc  
-Yêu cầu sửa đổi nhãn thuốc; triển  
khai các đánh giá, nghiên cứu đặc  
thù; triển khai kế hoạch quản lý  
nguy cơ  
RA  
-Cơ sở khám bệnh, chữa  
bệnh  
-Đơn vị kinh doanh  
thuốc  
-Bộ Y tế; các Vụ, Cục  
chức năng của Bộ Y tế  
QUYẾT  
ĐỊNH  
CAN  
THIỆP  
-Thu hồi lô thuốc  
-Ngừng cấp mới, cấp lại SĐK của  
thuốc  
-Nhà quản  
lý, lãnh đạo  
đơn vị; Đơn  
vị thông tin  
-Cơ sở khám bệnh, chữa  
bệnh  
-Đơn vị kinh doanh thuốc  
-Bộ Y tế và các Vụ, Cục  
chức năng  
-Phương tiện thông tin đại  
chúng  
-Phản hồi thông tin cho nhân viên y  
tế (quyết định quản lý, văn bản  
thông báo, bản tin và các phương  
tiện truyền thông khác)  
TRUYỀN  
THÔNG  
thuốc  
truyền  
thông  
và  
Hình 1.1. Quy trình hoạt động của hệ thống Cảnh giác Dƣợc [4]  
1.2. Hệ thống báo cáo tự nguyện phản ứng có hại của thuốc  
1.2.1. Hệ thống báo cáo tự nguyện ADR các nước trên thế giới  
Vào năm 1961, tạp chí Lancet đã đăng tải bức thư của một bác sĩ người  
Úc có tên là WG McBride. Trong bức thư này, ông chia sẻ sự quan sát của mình  
trên những đứa trẻ mà mẹ của chúng sử dụng thalidomid trong suốt quá trình  
mang thai. Những đứa trẻ này có tần suất mắc những dị tật bẩm sinh cao hơn  
6
   
những đứa trẻ khác không phơi nhiễm với thalidomid trong giai đoạn bào thai.  
Nhiều năm sau, nó trở thành bằng chứng chứng minh cho việc hàng nghìn trẻ em  
được sinh ra với dị tật chân tay là do quá trình sử dụng thalidomid của người mẹ.  
Nhằm mục đích ngăn chặn các thảm họa tương tự có thể xảy ra, nhiều hệ thống  
đã được thành lập tại nhiều quốc gia để theo dõi và giám sát tính an toàn của  
thuốc. Hệ thống báo cáo tự nguyện ADR được thiết lập và đã trở thành phương  
pháp chủ đạo trong việc thu thập thông tin về tính an toàn của thuốc trong giai  
đoạn sau khi thuốc được cấp ph p lưu hành. Chức năng chính của hệ thống này  
là phát hiện sớm các dấu hiệu của các ADR mới, hiếm và nghiêm trọng. Hệ  
thống báo cáo tự nguyện cho ph p bác sĩ, dược sĩ, các nhân viên y tế khác và  
bệnh nhân báo cáo các biến cố bất lợi nghi ngờ do thuốc cho các trung tâm Cảnh  
giác Dược. Báo cáo tự nguyện cũng được các đơn vị sản xuất dược phẩm áp  
dụng để thu thập thông tin về sản phẩm của mình đang lưu hành trên thị trường.  
Như vậy, hệ thống báo cáo tự nguyện có thể theo dõi tất cả các thuốc trên thị  
trường trong suốt vòng đời của chúng với chi phí thấp [61].  
Hiện nay, ở một số quốc gia, báo cáo tự nguyện đã được mở rộng phạm  
vi, không chỉ các biến cố có hại của thuốc được báo cáo mà các trường hợp  
khiếm khuyết chất lượng thuốc (thuốc giả, thuốc kém chất lượng), sai sót liên  
quan đến thuốc cũng có thể được ghi nhận thông qua hệ thống này.  
Sự thành công hay thất bại của hoạt động Cảnh giác Dược phụ thuộc rất  
lớn vào công tác báo cáo ADR tự nguyện. Các báo cáo ADR tự nguyện không  
chỉ giúp phát hiện các nguy cơ về ADR mới mà còn là nguồn dữ liệu quan trọng  
để thực hiện các nghiên cứu phân tích sâu hơn nhằm quy kết mối quan hệ nhân  
quả giữa việc sử dụng thuốc và biến cố xảy ra [81].  
“Hệ thống báo cáo tự nguyện là hệ thống thu thập các báo cáo đơn lẻ về  
phản ứng có hại của thuốc và các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc, được các  
nhân viên y tế cũng như các công ty sản xuất kinh doanh dược phẩm báo cáo  
một cách tự nguyện về cơ quan có thẩm quyền quản lý về các phản ứng có hại  
của thuốc” [108].  
Hệ thống báo cáo tự nguyện ra đời lần đầu tiên ở Anh với tên gọi “Yellow  
Card” dựa trên mẫu phiếu màu vàng, sau đó là hệ thống “MedWatch” của Mỹ và  
“Blue Card” của Úc [81]. Việt Nam bắt đầu triển khai hệ thống báo cáo tự  
nguyện về phản ứng có hại của thuốc từ năm 1994.  
7
Mục đích chính của hệ thống là xác định dấu hiệu an toàn, đưa ra giả  
thuyết và cung cấp những thông tin quan trọng về nhóm nguy cơ, tác nhân nguy  
cơ sau đó được đánh giá thông qua các phương pháp khai phá dữ liệu (data  
mining), phát hiện dấu hiệu [73] [108]. Việc thu thập thông tin từ các báo cáo  
ADR tự nguyện giúp quy kết mối quan hệ nhân quả giữa thuốc nghi ngờ và phản  
ứng xảy ra, từ đó giúp cơ quan quản lý đưa ra các quyết định phù hợp với thuốc  
[37].  
Việc báo cáo ADR về lý thuyết diễn ra khá đơn giản: Các báo cáo được  
gửi đi trên nền tảng tự nguyện, thông tin được nhập chung vào cơ sở dữ liệu  
quốc gia và được sàng lọc thường xuyên để phát hiện các tín hiệu an toàn thuốc.  
Các yếu tố góp phần vào sự thành công trong hoạt động của một hệ thống báo  
cáo tự nguyện bao gồm người báo cáo, sự đơn giản trong quy trình báo cáo,  
những gợi ý khi ghi nhập báo cáo vào một cơ sở dữ liệu, theo dõi những báo cáo  
nghiêm trọng, các công cụ phân tích tín hiệu, quá trình xử lý tín hiệu và công tác  
phản hồi tới người báo cáo [108].  
Nguồn cung cấp báo cáo tự nguyện quan trọng nhất là các nhân viên y tế,  
bên cạnh đó những báo cáo từ bệnh nhân đang được nhiều quốc gia khuyến  
khích dù có những quan ngại về chất lượng của báo cáo ADR đến từ nguồn này.  
Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định nhờ các hoạt động tăng cường  
Cảnh giác Dược cho nhân viên y tế trong bệnh viện như đào tạo tập huấn, cung  
cấp thông tin thuốc, phản hồi báo cáo… mà số lượng cũng như chất lượng báo  
cáo ADR đã ghi nhận sự cải thiện tích cực [43] [52] [85] [109].  
Hầu hết các quốc gia đều có trung tâm hoặc đơn vị Cảnh giác Dược để  
tiến hành theo dõi phản ứng có hại do thuốc. Những trung tâm này chủ yếu  
quan tâm đến việc thu thập các báo cáo ADR tự nguyện, sau đó tiến hành thẩm  
định, phản hồi đến người báo cáo và cơ quan quản lý của quốc gia mình. Những  
báo cáo này sau đó được gửi về trung tâm theo dõi ADR toàn cầu của Tổ chức  
Y tế thế giới tại Uppsala, Thụy Điển. Tại đây, thông tin từ báo cáo ADR của  
nhiều quốc gia sẽ được tổng hợp vào hệ thống VigiBase. Những phản ứng  
không mong muốn sẽ được theo dõi và đánh giá sâu hơn từ đó gửi đi những  
cảnh báo về ADR tiềm tàng và nghiêm trọng.Việc mở rộng các hệ thống báo  
cáo tự nguyện đã được triển khai tại nhiều quốc gia và thu được nhiều kết quả  
bởi nhiều ưu điểm song cũng tồn tại một số hạn chế (bảng 1.1) [81].  
8
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 194 trang yennguyen 20520 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Khảo sát thực trạng báo cáo ADR của đơn vị kinh doanh thuốc giai đoạn 2014-2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_khao_sat_thuc_trang_bao_cao_adr_cua_don_vi_kinh_doa.pdf