Khóa luận Khảo sát những điểm mới và đánh giá mức độ nhận thức về Luật dược 2016 của các nhân viên dược trên địa bàn thành phố Cần Thơ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ  
KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
CHUYÊN NGÀNH: DƯỢC HỌC  
MÃ SỐ: 52720401  
KHẢO SÁT NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ ĐÁNH GIÁ  
MỨC ĐỘ NHẬN THỨC VỀ LUẬT DƯỢC 2016  
CỦA CÁC NHÂN VIÊN DƯỢC TRÊN  
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ  
Sinh viên thực hiện  
TRẦN MINH  
Cán bộ hướng dẫn  
Ths. TRẦN QUANG TRÍ  
Ds: LƯU HOÀNG MINH KHOA  
MSSV: 12D720401128  
LỚP: ĐẠI HỌC DƯỢC 7B  
Cần Thơ, 2017  
 
LỜI CẢM ƠN  
Trên thực tế, không có sự thành công nào không gắn liền với sự giúp đỡ dù ít hay  
nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp từ các cá nhân, tổ chức. Để hoàn thành tốt luận văn  
này, với lòng tri ân chân thành nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến:  
Ban Hội đồng quản trị, Ban Giám hiệu, quý thầy cô Trường Đại học Tây Đô nói  
chung và quý thầy cô Khoa Dược – Điều dưỡng nói riêng đã tạo mọi điều kiện tốt  
nhất giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này trong thời gian qua. Đặc biệt, tôi xin được  
gửi lời cảm ơn đến thầy Trần Quang Trí và thầy Lưu Hoàng Minh Khoa đã quan tâm  
và hướng dẫn tôi tận tình để hoàn thiện luận văn này.  
Với kiến thức và kinh nghiệm của một sinh viên, luận văn này sẽ không tránh khỏi  
nhiều thiếu sót. Tôi rất mong nhận được nhiều sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các  
thầy cô để tôi có điều kiện bổ sung, nâng cao kiến thức của mình, phục vụ tốt hơn  
cho công tác sau này.  
Sau cùng, tôi xin được gửi đến Ban Hội đồng quản trị, Ban Giám hiệu, quý thầy  
cô lời chúc thật nhiều sức khỏe, niềm tin để tiếp tục sứ mệnh ươm mầm kiến thức cho  
thế hệ mai sau.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi. Các  
số liệu sử dụng phân tích đều có nguồn gốc rõ ràng, đã được công bố theo đúng quy  
định. Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách  
trung thực khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Các kết quả này chưa  
từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác.  
Sinh viên nghiên cứu  
Trần Minh  
ii  
 
TÓM TẮT LUẬN VĂN  
Với mục tiêu nghiên cứu những điểm mới của Luật Dược 2016 và đánh giá mức  
độ nhận thức Luật Dược 2016 của các dược sĩ trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Đề  
tài nghiên cứu: “Khảo sát những điểm mới và đánh giá mức độ nhận thức về luật  
dược 2016 của các nhân viên dược trên địa bàn thành phố Cần Thơ” được thực  
hiện từ tháng 01/2016 đến tháng 4/2017 với kết cấu như sau:  
1. Mục đích nghiên cứu:  
Khảo sát những điểm mới của Luật Dược 2016, tìm hiểu tình hình và đánh giá  
mức độ nhận thức Luật Dược 2016 của các nhân viên dược trên địa bàn thành phố  
Cần Thơ. Từ đó, đưa ra một số kết luận và đề xuất giải pháp cải thiện.  
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:  
Các nhân viên dược trên địa bàn thành phố Cần Thơ.  
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:  
3.1. Cơ sở lý luận:  
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật, các nghị quyết,  
thông tư hướng dẫn thi hành Luật Dược tại Việt Nam.  
3.2. Phương pháp nghiên cứu:  
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phân tích quy định của văn bản quy phạm  
pháp luật và phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang để đánh giá kết quả khảo sát.  
4. Đóng góp của luận văn:  
Đánh giá được mức độ nhận thức về Luật Dược 2016 của các nhân viên dược tại  
thành phố Cần Thơ;  
Làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập.  
iii  
 
MỤC LỤC  
iv  
 
v
DANH MỤC BẢNG  
vii  
 
CHƯƠNG 1. PHẦN MỞ ĐẦU  
1.1. Lý do chọn đề tài (Tính cấp thiết của đề tài)  
“Sức khỏe là vốn quý nhất của con người” [6]. Nghề dược và các hoạt động liên quan  
đến nghề dược có vai trò to lớn trong đời sống xã hội, nó tác động trực tiếp đến sức khỏe  
và tính mạng con người. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến hoạt  
động chăm sóc sức khỏe nhân dân và không ngừng ban hành nhiều văn bản pháp luật  
điều chỉnh các hoạt động này, trong đó có việc đầu tư phát triển phát triển nguồn dược  
liệu và quản lý hành chính các hoạt động dược. Ngành dược lần đầu tiên được khẳng  
định tầm quan trọng và điều chỉnh trong luật riêng – Luật Dược 2005. Tuy ngành dược  
có văn bản điều chỉnh chính thức hơn 10 năm nay, nhưng đa số các đối tượng được luật  
điều chỉnh còn mơ hồ, chưa nhận thức rõ về sự tồn tại và tầm quan trọng của luật dược  
trong đời sống xã hội cũng như hoạt động sản xuất – kinh doanh. Bên cạnh đó, Luật  
Dược 2005 cũng phát sinh một số vấn đề hạn chế chưa giải quyết tốt nhu cầu thực tiễn.  
Cho đến thời điểm này, Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Luật Dược 2016 để phù hợp  
với tình hình xã hội trong giai đoạn mới.  
Trước tình hình Luật Dược 2016 mới được ban hành phát sinh hiệu lực vào ngày  
01/01/2017, nhưng chưa có hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật Dược 2016, đề  
tài nghiên cứu “Khảo sát những điểm mới và đánh giá mức độ nhận thức về luật dược  
2016 trên địa bàn thành phố cần thơ” được thực hiện với hy vọng đóng góp một tri thức  
mới cho xã hội, góp phần nâng cao nhận thức của mọi người về ngành dược, đặc biệt là  
ý thức của những người hoạt động trong lĩnh vực dược.  
1.2. Tình hình nghiên cứu  
Luật Dược 2016 được thông qua sẽ có hiệu lực áp dụng vào ngày 01/01/2017 nhưng  
chưa có các văn bản hướng dẫn thi hành. Hiện tại những bài viết liên quan đến Luật  
Dược 2016 chỉ dừng lại ở mức truyền tải thông tin khái quát về Luật Dược mới, chưa  
có những bài nghiên cứu khoa học về vấn đề này.  
1.3. Mục tiêu nghiên cứu  
Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, so sánh đối chiếu những quy định của Luật Dược  
cũ 2005 so với Luật Dược mới 2016, đồng thời khảo sát nhận thức của những đối tượng  
được Luật Dược áp dụng và đánh giá tính khả thi của Luật Dược mới đối với đời sống  
xã hội tại địa bàn thành phố Cần Thơ nói riêng và nước Việt Nam nói chung.  
1
       
1.4. Phương pháp nghiên cứu  
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phân tích quy định của văn bản quy phạm pháp  
luật, so sánh đối chiếu với quy định cũ để tìm ra điểm mới. Bên cạnh đó, luận văn sử  
dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang để đánh giá kết quả khảo sát.  
1.5. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu  
Luận văn nghiên cứu khảo sát những nhân viên dược trên địa bàn thành phố Cần Thơ.  
1.6. Kết quả nghiên cứu  
Vấn đề nghiên cứu là một vấn đề hoàn toàn mới, vì đó là một văn bản pháp luật mới  
được ban hành, chưa có hệ thống văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành. Cho nên, kết  
quả nghiên cứu phụ thuộc vào kết quả điều tra khảo sát.  
2
     
CHƯƠNG 2. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU  
2.1. Lược sử hình thành Luật Dược và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về  
nghề dược  
2.1.1. Các quan điểm, chủ trương của Đảng có liên quan đến dược  
Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/01/1993 Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành  
Trung ương Đảng khóa VII về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo  
vệ sức khoẻ nhân dân [1]. Nghị quyết khẳng định:  
“Tổ chức lại ngành dược và trang thiết bị y tế ở trung ương và địa phương. Củng cố  
ngành dược và trang thiết bị y tế quốc doanh, lập lại trật tự trong sản xuất, xuất nhập  
khẩu và lưu thông phân phối thuốc và trang thiết bị y tế. Ngăn chặn nguồn nhập thuốc  
bất hợp pháp. Nghiêm trị bọn sản xuất và buôn bán thuốc giả. Có chính sách bảo hộ  
thuốc sản xuất trong nước có chất lượng cao. Kiện toàn các cơ sở kiểm tra chất lượng  
thuốc và nghiên cứu khoa học dược. Khai thác tiềm năng các thành phần kinh tế trong  
nước và mở rộng hợp tác quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho nước ngoài đầu tư vốn, kỹ  
thuật và công nghệ tiên tiến để xây dựng và phát triển ngành công nghiệp dược và trang  
thiết bị y tế, đặc biệt là công nghiệp sản xuất nguyên liệu làm thuốc. Có chính sách ưu  
tiên phát triển dược liệu, nhất là dược liệu quý hiếm”.  
Nghị quyết của Bộ chính trị số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 [2] về công  
tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới nêu rõ:  
“1.1-Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội. Bảo vệ, chăm  
sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn  
nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách ưu  
tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư phát triển, thể  
hiện bản chất tốt đẹp của chế độ.  
1.2- Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát  
triển, nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao  
sức khoẻ với chất lượng ngày càng cao, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của  
đất nước.  
1.4- Xã hội hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe gắn với tăng cường đầu tư của Nhà  
nước; thực hiện tốt việc trợ giúp cho các đối tượng chính sách và người nghèo trong  
chăm sóc và nâng cao sức khỏe”.  
2.1.2. Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến nghề dược qua các thời kỳ  
Năm 1978, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 200-CP về việc phát triển  
dược liệu trong nước [11]. Đây là văn bản dưới luật đầu tiên thể hiện sự quan tâm của  
Nhà nước đối với lĩnh vực dược, do tình hình đất nước chưa ổn định nên chỉ chú trọng  
3
       
đến vấn đề thuốc cổ truyền và dược liệu, không thể phát triển thành một văn bản luật  
riêng để quy định cụ thể và toàn diện các hoạt động về dược.  
Sau khi Hiến pháp 1980 được ban hành, năm 1989 Quốc hội ban hành luật Bảo vệ  
Sức khỏe nhân dân trên tinh thần điều 47, Điều 61 và Điều 83 của Hiến pháp 1980. Luật  
này nhấn mạnh: “Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều cơ  
bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong việc phát  
triển kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ Tổ quốc” [6]. Trong đó, chương VI có liên quan  
đến nghề dược quy định về thuốc phòng bệnh, chữa bệnh (Điều 38, Điều 39 và Điều  
40).  
Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe”  
(khoản 1, Điều 61). Đến năm 2005, Luật Dược đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam được Quốc hội Khóa XI thông qua ngày 14 tháng 06 năm 2005 [7] căn  
cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa  
đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc  
hội khóa X, kỳ họp thứ 10. Có thể nói, đây là văn bản hoàn thiện tất cả các phương diện  
hoạt động trong lĩnh vực dược quy định về “việc kinh doanh thuốc; đăng ký, lưu hành  
thuốc; sử dụng thuốc; cung ứng thuốc; thông tin, quảng cáo thuốc; thử thuốc trên lâm  
sàng; quản lý thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần, tiền chất dùng làm thuốc và  
thuốc phóng xạ; tiêu chuẩn chất lượng thuốc và kiểm nghiệm thuốc”.  
Quyết định số 122/QĐ-TTg [12] ngày 10 tháng 01 năm 2013, Quyết định Phê duyệt  
Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 -  
2020, tầm nhìn đến năm 2030 khẳng định:  
“5. Phát triển y dược học cổ truyền  
- Triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách quốc gia về y dược học cổ truyền và kế  
hoạch hành động về phát triển y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020; đẩy mạnh  
sản xuất thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và dược liệu. Củng cố hệ thống tổ chức y dược  
cổ truyền từ trung ương đến địa phương, phát triển các bệnh viện y dược cổ truyền tại  
các tỉnh với quy mô hợp lý; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các khoa y  
học cổ truyền tại các bệnh viện đa khoa tỉnh, huyện; tăng cường hoạt động y học cổ  
truyền tại các trạm y tế.  
- Xây dựng quy trình kỹ thuật điều trị bằng y dược cổ truyền và quy trình điều trị kết  
hợp y học cổ truyền với y học hiện đại đối với một số chứng, bệnh. Ban hành phác đồ  
điều trị bằng y dược cổ truyền đối với một số bệnh mà y dược cổ truyền có khả năng  
điều trị đạt kết quả tốt. Tiêu chuẩn hoá thuốc bán thành phẩm và thuốc thành phẩm y  
học cổ truyền; tăng cường quản lý thị trường thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và dược  
liệu”.  
4
Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định: “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc  
sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các  
quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh” (khoản 1, Điều 38). Từ sau Hiến pháp  
2013 được ban hành, Quốc hội Khóa XIII thông qua luật Dược 2016 ngày 06 tháng 04  
năm 2016 [9] để phù hợp với xu thế mới của xã hội. Điều 7 luật này quy định chi tiết  
các chính sách của Nhà nước về dược, trong đó một số chính sách ở các khoản 1, 2, 3,  
4, 5, 7 và 8 thể hiện những điểm mới tiến bộ của luật này:  
1. Bảo đảm cung ứng đủ, kịp thời thuốc có chất lượng, giá hợp lý cho nhu cầu phòng  
bệnh, chữa bệnh của Nhân dân, phù hợp với cơ cấu bệnh tật và yêu cầu quốc phòng, an  
ninh, phòng, chống dịch bệnh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa và thuốc hiếm.  
2. Bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả; ưu tiên phát triển hoạt động  
dược lâm sàng và cảnh giác dược.  
3. Ưu đãi đầu tư sản xuất thuốc, nguyên liệu làm thuốc, thuốc thiết yếu, thuốc phòng,  
chống bệnh xã hội, vắc xin, sinh phẩm, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, thuốc hiếm;  
ưu đãi nghiên cứu khoa học về công nghệ bào chế, công nghệ sinh học để sản xuất các  
loại thuốc mới.  
4. Đối với thuốc mua từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm y tế, nguồn  
thu từ dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và các nguồn thu hợp pháp khác của cơ sở y tế  
công lập thực hiện như sau:  
a) Không chào thầu thuốc nhập khẩu thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành  
trên cơ sở nhóm tiêu chí kỹ thuật khi thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều  
trị, giá thuốc và khả năng cung cấp.  
Ưu tiên mua thuốc generic, sinh phẩm tương tự đầu tiên sản xuất trong nước được  
cấp giấy đăng ký lưu hành tại Việt Nam; thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền được sản xuất  
từ nguồn dược liệu trong nước; thuốc có sử dụng dược chất, tá dược, vỏ nang hoặc bao  
bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc được sản xuất bởi cơ sở trong nước đáp ứng Thực hành  
tốt sản xuất; dược liệu tươi; thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền được sản xuất trên cơ sở  
nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ hoặc cấp tỉnh;  
b) Không chào thầu dược liệu nhập khẩu thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Y tế ban  
hành khi dược liệu được nuôi trồng, thu hái trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị và  
khả năng cung cấp, giá hợp lý.  
Chính phủ quy định về giá hợp lý tại điểm này;  
c) Ưu tiên mua thuốc thuộc Danh mục sản phẩm quốc gia.  
5. Tạo điều kiện thuận lợi về trình tự, thủ tục nộp đơn đăng ký lưu hành thuốc generic  
sắp hết hạn bằng sáng chế hoặc độc quyền có liên quan, sinh phẩm tương tự đầu tiên;  
5
ưu tiên về trình tự, thủ tục đăng ký lưu hành, cấp phép nhập khẩu thuốc hiếm, vắc xin  
đã được Tổ chức Y tế Thế giới tiền thẩm định.  
7. Hỗ trợ, tạo điều kiện phát hiện, thử lâm sàng, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ  
có liên quan, đăng ký lưu hành và kế thừa đối với thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu có  
đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ hoặc cấp tỉnh đã được nghiệm thu;  
tìm kiếm, khai thác, sử dụng dược liệu mới; xuất khẩu dược liệu nuôi trồng; di thực  
dược liệu; khai thác dược liệu thiên nhiên hợp lý; nghiên cứu, khảo sát, điều tra loài  
dược liệu phù hợp để nuôi trồng tại địa phương; phát triển các vùng nuôi trồng dược  
liệu; hiện đại hóa sản xuất dược liệu, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền.  
8. Có chính sách bảo vệ bí mật trong bào chế, chế biến và dữ liệu thử nghiệm lâm  
sàng thuốc cổ truyền; đãi ngộ hợp lý đối với người hiến tặng cho Nhà nước bài thuốc  
cổ truyền quý; tạo điều kiện để cấp chứng chỉ hành nghề y, dược cổ truyền cho người  
sở hữu bài thuốc gia truyền được Bộ Y tế công nhận”.  
2.2. Những bất cập của Luật Dược 2005, sự cần thiết của việc ban hành Luật  
Dược mới để phù hợp tình hình thực tiễn  
Luật Dược 2005, bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn một số khó khăn,  
vướng mắc do thực tế nảy sinh, do một số quy định không còn phù hợp với thực tiễn và  
quá trình hội nhập quốc tế, cần phải được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:  
2.2.1. Về quản lý giá thuốc  
- Luật Dược 2005 quy định việc kê khai và kê khai lại giá thuốc phải “bảo đảm giá  
thuốc không cao hơn giá thuốc tại các nước trong khu vực có điều kiện y tế, thương mại  
tương tự như Việt Nam”. Trên cơ sở đó, Nghị định số 79/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8  
năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Dược 2005 quy  
định: “Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Thương mại và các Bộ, ngành liên quan công bố  
cụ thể danh sách các nước trong khu vực có điều kiện y tế, thương mại tương tự Việt  
Nam”. Tuy nhiên, cho đến nay liên Bộ vẫn chưa ban hành được văn bản hướng dẫn nội  
dung này do khó khăn trong việc xác định điều kiện y tế, thương mại của các nước tương  
tự Việt Nam, đồng thời việc tham khảo giá thuốc tại các nước không có ý nghĩa đối với  
những mặt hàng cung ứng cho thị trường Việt Nam nhưng không bán tại các nước tham  
khảo.  
- Quy định “cơ quan nhà nước có thẩm quyền định kỳ công bố giá tối đa đối với các  
loại thuốc do ngân sách nhà nước và bảo hiểm y tế chi trả” (điểm d khoản 2 Điều 5)  
chưa thực hiện được do số lượng thuốc sản xuất, lưu hành tại Việt Nam hiện có khoảng  
hơn 25.000 mặt hàng, với trên 1.500 hoạt chất. Mỗi hoạt chất có rất nhiều chủng loại,  
hàm lượng, quy cách đóng gói, dạng bào chế, nhà sản xuất khác nhau nên việc xác định  
mức giá tối đa cho tất cả các mặt hàng nêu trên là không khả thi. Mặt khác, cơ quan  
6
 
chức năng cũng gặp khó khăn trong việc xác định cơ sở xây dựng giá tối đa vì nếu công  
bố giá tối đa theo giá mặt hàng thuốc thấp nhất thì sẽ không bảo đảm có đủ thuốc cung  
ứng nhưng nếu công bố giá tối đa theo giá mặt hàng thuốc cao nhất thì giá thuốc sẽ tăng  
theo.  
2.2.2. Về thời hạn cấp số đăng ký thuốc  
Điều 35 Luật Dược 2005 quy định “trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày nhận đủ hồ  
sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Y tế cấp số đăng ký thuốc; trường hợp không cấp phải có văn  
bản trả lời và nêu rõ lý do”.  
Tuy nhiên, quy định này không phù hợp với thực tiễn do quy định về thời hạn cấp số  
đăng ký nêu trên được áp dụng chung cho tất cả các loại thuốc đăng ký nên không phù  
hợp với sự khác nhau về mức độ yêu cầu thẩm định hồ sơ giữa thuốc mới và thuốc  
generic. Bên cạnh đó, để có thể thẩm định được đủ ba tiêu chí về tính an toàn, hiệu quả  
và chất lượng của thuốc thì thực tế tại Việt Nam cho thấy hầu hết các thuốc được cấp số  
đăng ký với thời gian trung bình từ 12 tháng, đặc biệt đối với thuốc mới phải tới 18  
tháng hoặc hơn mới được cấp số đăng ký. Mặt khác, theo yêu cầu hội nhập với các nước  
trong khu vực ASEAN, hồ sơ đăng ký thuốc hiện nay cũng phức tạp hơn rất nhiều so  
với thời điểm ban hành Luật Dược 2005. Các nước trên thế giới và các nước trong khối  
ASEAN quy định thời gian cấp số đăng ký thuốc tối đa có thể lên tới 18 tháng. Vì vậy,  
cần thiết phải điều chỉnh lại thời hạn cấp số đăng ký cho phù hợp.  
2..2.3. Về công tác dược lâm sàng  
Tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, công tác dược lâm sàng bao gồm nhiều hoạt  
động: quản lý việc kê đơn hợp lý, giám sát sử dụng thuốc, thông tin thuốc và theo dõi  
phản ứng có hại của thuốc (ADR), bình bệnh án để các thầy thuốc trao đổi và học tập  
lẫn nhau về cách sử dụng thuốc hợp lý, từ đó lập danh mục và lên kế hoạch dự trù mua  
thuốc phù hợp với mô hình bệnh tật, với điều kiện kinh tế của từng bệnh viện, từng vùng  
miền để người bệnh được sử dụng thuốc với giá cả hợp lý mà vẫn bảo đảm hiệu quả  
điều trị tốt nhất. Nếu công tác dược lâm sàng được coi trọng thì người bệnh sẽ được sử  
dụng thuốc một cách tốt nhất mà lại kinh tế và khoa dược không chỉ là cái kho giữ thuốc  
và cấp phát thuốc theo yêu cầu của bác sĩ.  
Trong nhiều bệnh viện hiện nay, tùy thuộc vào quy mô, nhân lực và trình độ cán bộ  
dược, đã phần nào triển khai hoạt động dược lâm sàng. Tuy nhiên, do chưa được luật  
hoá nên các đơn vị triển khai chưa đồng bộ và không thống nhất. Vì vậy, đây là nội dung  
quan trọng cần bổ sung quy định tại Luật Dược.  
7
2.2.4. Về thử thuốc trên lâm sàng  
Luật Dược 2005 không quy định rõ trường hợp nào được miễn thử lâm sàng và  
trường hợp nào được miễn một số giai đoạn thử lâm sàng. Bên cạnh đó, quy định miễn  
thử lâm sàng hoặc miễn một số giai đoạn thử lâm sàng chỉ áp dụng đối với thuốc đã  
được lưu hành hợp pháp ít nhất 5 năm tại nước xuất xứ đã ảnh hưởng đến khả năng tiếp  
cận thuốc của người dân, đặc biệt là đối với các thuốc liên quan đến sự sống còn của  
bệnh nhân.  
Trên thực tế, có thuốc đã được lưu hành nhiều nước trên thế giới nhưng chưa đủ 05  
năm lưu hành tại nước sở tại nên chưa được phép lưu hành tại Việt Nam do phải thử lâm  
sàng tại Việt Nam theo quy định của Luật Dược.  
2.2.5. Về kinh doanh thuốc  
a) Vấn đề hình thức kinh doanh thuốc:  
Theo tiến trình hòa hợp ASEAN về đăng ký thuốc, việc báo cáo số liệu nghiên cứu  
tương đương sinh học phải được tiến hành tại các đơn vị thử nghiệm đã được cơ quan  
có thẩm quyền đánh giá công nhận. Tuy nhiên, do Luật Dược 2005 chưa quy định dịch  
vụ thử lâm sàng và thử tương đương sinh học là các hình thức kinh doanh thuốc nên  
chưa có cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện.  
b) Vấn đề cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc:  
Hiện nay, cơ sở kinh doanh thuốc muốn hoạt động, phải được cấp giấy chứng nhận  
đủ điều kiện kinh doanh thuốc và giấy chứng nhận thực hành tốt theo lộ trình thực hiện  
nguyên tắc thực hành tốt nhà thuốc (GPP). Tuy nhiên, điều kiện để cấp hai loại giấy này  
lại có sự trùng lặp về nội dung liên quan đến cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân sự nên  
cần được điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn cũng như phù hợp với chủ trương cải  
cách thủ tục hành chính hiện nay.  
c) Vấn đề cấp chứng chỉ hành nghề dược:  
Hiện nay, Luật Dược chỉ quy định người quản lý chuyên môn về dược của cơ sở kinh  
doanh dược phải có chứng chỉ hành nghề dược phù hợp với hình thức kinh doanh chứ  
không quy định những người khác làm công tác chuyên môn về dược tại các cơ sở kinh  
doanh thuốc và những người hoạt động về dược tại các cơ sở không phải là cơ sở kinh  
doanh thuốc như cơ sở kiểm nghiệm, kiểm định, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh... phải có  
chứng chỉ hành nghề dược. Những tồn tại này dẫn đến tình trạng không kiểm soát được  
chất lượng của đội ngũ những người hoạt động trong lĩnh vực dược cũng như không đáp  
ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế khi hầu hết các nước trong khu vực đã thực hiện cấp  
chứng chỉ hành nghề dược cho các đối tượng nêu trên.  
Bên cạnh đó, quy định về thời hạn của chứng chỉ hành nghề dược cũng cần được  
nghiên cứu điều chỉnh. Theo quy định của Luật Dược 2005 thì chứng chỉ hành nghề  
8
dược thuộc loại chứng chỉ có thời hạn, được thể hiện tại khoản 4 Điều 13 Luật Dược  
trong việc giao Chính phủ quy định hồ sơ, thủ tục gia hạn chứng chỉ hành nghề dược.  
Trên cơ sở quy định của Luật Dược, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2006/NĐ-  
CP trong đó quy định chứng chỉ hành nghề dược có giá trị 05 năm kể từ ngày cấp. Tuy  
nhiên, để thực hiện Nghị quyết số 62/NQ-CP của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục  
hành chính, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/2012/NĐ-CP trong đó quy định  
chứng chỉ hành nghề dược được cấp một lần, có giá trị vĩnh viễn. Quy định này không  
phù hợp với thực tiễn cũng như thông lệ quốc tế vì kinh doanh thuốc là kinh doanh có  
điều kiện, trong đó điều kiện về con người là yếu tố quan trọng nhất, có tác động lớn  
đến toàn bộ các khâu trong quá trình hành nghề dược. Chính vì vậy, đòi hỏi người hành  
nghề dược phải thường xuyên cập nhật thông tin, kiến thức mới, phải được đào tạo lại,  
đồng thời phải được xem xét, đánh giá về đạo đức nghề nghiệp trong thời gian hành  
nghề. Nếu không quy định về thời hạn hiệu lực của chứng chỉ thì sau khi được cấp chứng  
chỉ hành nghề, cá nhân có thể hành nghề dược không liên tục, không cập nhật kiến thức  
mới mà vẫn sử dụng chứng chỉ đã được cấp để hành nghề, dẫn tới chất lượng hành nghề  
không bảo đảm. Ngoài ra, khi người hành nghề dược không đáp ứng được các điều kiện  
về sức khỏe, đạo đức hành nghề (mất năng lực hành vi dân sự, không còn đủ sức khỏe  
hoặc đã chết…), cơ quan quản lý khó phát hiện kịp thời để ra quyết định thu hồi chứng  
chỉ hành nghề dược vì hiện nay nguồn lực thanh tra, kiểm tra về dược còn rất hạn chế.  
Mặt khác, quy định này cũng đi ngược lại thông lệ quốc tế là hầu hết các quốc gia đều  
quy định thời hạn giá trị của chứng chỉ hành nghề dược, thậm chí nhiều nước có có quy  
định mức thời hạn cụ thể đối với từng loại hình hành nghề dược phụ thuộc vào mức độ  
phức tạp của loại hình hành nghề đó. Ví dụ, tại Singapore, chứng chỉ hành nghề của  
người bán lẻ thuốc có thời hạn 05 năm nhưng chứng chỉ hành nghề dược của người tham  
gia hoạt động thử tương đương sinh học chỉ có giá trị 02 năm kể từ ngày cấp.  
2.2.6. Về chính sách của Nhà nước về lĩnh vực dược  
Điều 3 Luật Dược 2005 đã quy định các chính sách của Nhà nước nhằm tạo cơ chế cho  
việc phát triển ngành dược. Tuy nhiên, do các chính sách quy định trong Luật Dược 2005  
năm 2005 còn chung chung, thiếu tính đột phá, thiếu sự đầu tư của nhà nước về cả vốn và  
các nguồn lực khác như ODA, xã hội hóa,... đồng thời chưa đề cập đến một số chính sách  
nhằm tạo động lực cho việc phát triển công nghiệp dược như bảo đảm đầu ra cho thuốc  
sản xuất trong nước góp phần thực hiện đề án Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt  
Nam, phát triển thuốc từ dược liệu, công nghệ bào chế, thuốc chuyên khoa đặc trị... nên  
dẫn đến tình trạng:  
- Sau 08 năm thực hiện Luật Dược, ngành dược vẫn chưa trở thành một ngành kinh  
tế - kỹ thuật mũi nhọn do trên thực tế giá trị thuốc sản xuất trong nước mới chiếm tỷ lệ  
0,93% tổng GDP của Việt Nam vào năm 2011, khu vực sản xuất dược phẩm trong nước  
9
chỉ chiếm 0,11% so với tổng doanh thu ngành công nghiệp sản xuất quốc gia. Việt Nam  
vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốc của nhân dân và đến  
nay sản xuất trong nước mới đáp ứng được 50% nhu cầu mà chủ yếu là các thuốc thông  
thường; nguyên liệu, bao bì sử dụng để sản xuất thuốc trong nước vẫn phải nhập tới  
90%.  
- Các cơ sở sản xuất thuốc chủ yếu đầu tư các dây chuyền sản xuất các dạng bào chế  
đơn giản mà rất hạn chế đầu tư, áp dụng công nghệ để sản xuất các dạng bào chế hiện  
đại như: thuốc phóng thích hoạt chất có kiểm soát, thuốc ngấm qua da... do thiếu sự hỗ  
trợ của Nhà nước về vốn và đầu ra của sản phẩm.  
- Thiếu các chính sách cụ thể để hỗ trợ việc sản xuất thuốc generic dù thực tiễn đã  
chứng minh rằng nếu phát triển lĩnh vực này thì vừa bảo đảm được chất lượng thuốc,  
bảo đảm hiệu quả điều trị vừa giảm chi phí cho người sử dụng thuốc vì giá thuốc generic  
rẻ hơn giá thuốc mới nhiều lần.  
- Hệ thống phân phối, cung ứng thuốc của Việt Nam hiện nay thiếu tính chuyên  
nghiệp, dàn trải dẫn đến tăng chi phí phân phối, gây khó khăn cho công tác giám sát chất  
lượng thuốc.  
Chính vì vậy, ngành dược Việt Nam cần có chính sách phát triển mang tính đột phá  
theo hướng chyên môn hóa, hiện đại hóa và tiêu chuẩn hóa.  
2.2.7. Một số nội dung khác phát sinh từ thực tiễn cũng đòi hỏi cần phải được sửa  
đổi, bổ sung  
Một số khái niệm không còn phù hợp với thực tiễn, thiếu một số khái niệm, thiếu một  
số hành vi bị nghiêm cấm, vấn đề xuất khẩu, nhập khẩu thuốc, tiêu chuẩn chất lượng  
thuốc...  
Xuất phát từ các lý do nêu trên cho thấy, việc sửa đổi, bổ sung Luật Dược là hết sức  
cần thiết. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược ban hành với mục tiêu nhằm  
khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Dược 2005; tạo hành lang pháp lý đầy đủ,  
thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh thuốc, trong đó đa dạng hóa các hình thức kinh  
doanh (sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, bán buôn, bán lẻ, dịch vụ bảo quản, dịch vụ kiểm  
nghiệm thuốc) nhằm bảo đảm cung ứng thường xuyên và đủ thuốc cho người dân, bảo  
đảm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả; tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợi cho việc  
thực hiện các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết trong các điều ước quốc tế; đáp ứng đòi  
hỏi ngày càng cao của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn phát triển  
mới.  
10  
2.3. Tổng quan luật dược 2016  
Luật Dược năm 2016 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa  
XII thông qua ngày 06 tháng 04 năm 2016 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm  
2017, đây cũng là thời điểm chấm dứt toàn bộ hiệu lực của Luật Dược 2005.  
Các quy định về áp dụng các nguyên tắc, tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc tại  
cơ sở sản xuất nguyên liệu làm thuốc; giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược  
đối với cơ sở sản xuất tá dược, vỏ nang, cơ sở sản xuất, chế biến dược liệu; dược lâm  
sàng của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, nhà thuốc và các cơ sở khác có hoạt động kê đơn  
sử dụng thuốc có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.  
2.3.1. Tổng quan về hình thức văn bản  
Luật Dược 2016 gồm 14 Chương và 116 Điều.  
Chương I (từ Điều 1 đến Điều 6) nói về các quy định chung, gồm phạm vi điều chỉnh  
và đối tượng áp dụng Luật Dược, quan trọng nhất là phần giải thích các thuật ngữ được  
sử dụng trong luật. Bên cạnh đó, chương này còn quy định cơ quan quản lý nhà nước về  
dược gồm các cơ quan sau:  
“1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về dược.  
2. Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về dược.  
3. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện  
quản lý nhà nước về dược và phối hợp với Bộ Y tế trong việc thực hiện quản lý nhà nước  
về dược theo phân công của Chính phủ.  
4. Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện  
quản lý nhà nước về dược tại địa phương”. (Điều 4)  
Ngoài ra, chương quy định chung còn đề cập đến Hội về dược (Điều 5) và 16 hành  
vi bị nghiêm cấm trong nghề dược (Điều 6)  
Chương II (từ Điều 7 đến Điều 10) quy định chính sách của Nhà nước về dược và  
phát triển công nghiệp dược, đây là điểm mới so với Luật Dược 2005.  
Chương III (từ Điều 11 đến Điều 31) quy định về hành nghề dược. Ở chương này,  
mục 1 có trọng tâm là vấn đề điều kiện của các đối tượng được cấp chứng chỉ hành nghề  
dược tại Việt Nam và thẩm quyền cấp, cấp lại, điều chỉnh nội dung, thu hồi chứng chỉ  
hành nghề dược. Trong mục 2 quy định về quyền và nghĩa vụ của người hành nghề  
dược, một chủ thể của quan hệ pháp luật ngành dược.  
Chương IV (từ Điều 32 đến Điều 53) quy định về kinh doanh dược, chương này nổi  
bật ba vấn đề: 1/ Cơ sở kinh doanh dược và điều kiện kinh doanh dược; 2/ Giấy chứng  
nhận đủ điều kiện kinh doanh dược; 3/ Quyền và trách nhiệm của cơ sở kinh doanh  
dược.  
11  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 55 trang yennguyen 19840 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Khảo sát những điểm mới và đánh giá mức độ nhận thức về Luật dược 2016 của các nhân viên dược trên địa bàn thành phố Cần Thơ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_khao_sat_nhung_diem_moi_va_danh_gia_muc_do_nhan_th.pdf