Luận văn Phân tích hoạt động Báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010-2013

BỘ Y TẾ  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI  
ONG THẾ VŨ  
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO  
PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC  
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH  
QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2010 - 2013  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ  
Hà Nội – 2014  
BỘ Y TẾ  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI  
ONG THẾ VŨ  
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO  
PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC  
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH  
QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2010 - 2013  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ  
Ngƣời hƣớng dẫn:  
1. Ths. Trần Thị Lan Anh  
2. DS. Trần Ngân Hà  
Nơi thực hiện:  
1. Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc  
và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc  
2. Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Quảng Ninh  
Hà Nội – 2014  
LỜI CẢM ƠN  
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Hoàng Anh –  
Giảng viên Bộ môn Dược lực, Phó giám đốc Trung tâm DI&ADR Quốc gia đã cho  
tôi nhiều ý kiến nhận xét quí báu trong quá trình tôi thực hiện khóa luận này.  
Tôi xin chân thành cảm ơn ThS. Trần Thị Lan Anh - Giảng viên Bộ môn  
Quản lý và kinh tế Dược, Trường Đại học Dược Hà Nội, cô là người trực tiếp  
hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận này.  
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn DS. Trần Ngân Hà – Chuyên viên Trung  
tâm DI&ADR Quốc gia, tôi sẽ không thể hoàn thành khóa luận nếu không có sự  
quan tâm, tận tình giúp đỡ và dìu dắt tôi từ những bước đầu tiên khi tôi thực hiện  
khóa luận này của chị.  
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Bộ môn Quản lý và kinh tế  
Dược, cùng các thầy cô giảng viên Trường Đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ,  
truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt những năm tháng tôi học tập tại trường.  
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô, các anh chị làm việc tại Trung tâm  
DI&ADR Quốc gia, các cán bộ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh đã tạo mọi  
điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện khóa luận này.  
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè tôi, những người đã  
luôn giúp đỡ, động viên, quan tâm tới tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành  
khóa luận này.  
Hà Nội, ngày 13 tháng 05 năm 2014.  
Sinh viên  
Ong Thế Vũ  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
STT  
Tên bảng  
Trang  
1
Bảng 3.1. Số lượng báo cáo ADR giai đoạn 2010 - 2013  
19  
Bảng 3.2. Số lượng báo cáo ADR nghiêm trọng giai đoạn 2010  
2013  
2
19  
3
4
5
Bảng 3.3. Đối tượng tham gia báo cáo ADR  
20  
21  
22  
Bảng 3.4. Các khoa phòng tham gia báo cáo ADR  
Bảng 3.5. Lý do sử dụng thuốc phân loại theo ICD – 10  
Bảng 3.6. Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng  
thuốc  
6
22  
7
8
Bảng 3.7. Các họ dược lý được báo cáo nhiều nhất  
23  
24  
Bảng 3.8. Các thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo nhiều nhất  
Bảng 3.9. Tổng hợp phân loại báo cáo ADR theo tổ chức cơ thể bị  
ảnh hưởng  
9
24  
10  
11  
12  
13  
14  
Bảng 3.10. Biểu hiện ADR được ghi nhận nhiều nhất  
Bảng 3.11. Kết quả đánh giá mối liên quan giữa thuốc – ADR  
Bảng 3.12. Các ADR hiếm gặp được ghi nhận  
Bảng 3.13. Mức độ nặng của ADR  
25  
25  
26  
27  
28  
Bảng 3.14. Biểu hiện ADR phân loại ở mức độ 4  
Bảng 3.15. Các thông tin bị thiếu/không hợp lý trong báo cáo  
ADR  
15  
29  
16  
17  
18  
Bảng 3.16. So sánh điểm chất lượng báo cáo trung bình  
Bảng 3.17. Tỷ lệ nhân viên y tế tham gia khảo sát  
Bảng 3.18. Đặc điểm đối tượng tham gia khảo sát  
30  
31  
32  
Bảng 3.19. Lý do nhân viên y tế cho rằng báo cáo ADR là quan  
trọng  
19  
33  
20  
21  
22  
23  
24  
25  
26  
27  
28  
Bảng 3.20. Nhận thức về các trường hợp ADR cần báo cáo  
Bảng 3.21. Tỷ lệ nhân viên y tế đã gặp ADR  
34  
35  
35  
36  
36  
37  
37  
38  
39  
Bảng 3.22. Cách xử lý của nhân viên y tế khi gặp ADR  
Bảng 3.23. Tỷ lệ nhân viên y tế đã báo cáo ADR  
Bảng 3.24. Nơi nhân viên y tế lấy mẫu báo cáo ADR  
Bảng 3.25. Thời gian thực hiện báo cáo ADR  
Bảng 3.26. Nơi nhân viên y tế gửi báo cáo ADR  
Bảng 3.27. Nguyên nhân nhân viên y tế chưa báo cáo ADR  
Bảng 3.28. Các biện pháp cải thiện hoạt động báo cáo ADR  
DANH MỤC CÁC HÌNH  
STT  
Tên hình  
Trang  
13  
1
2
3
4
5
6
Hình 1.1. Số lượng báo cáo ADR từ năm 2003 đến năm 2013  
Hình 3.1. Thời gian trì hoãn gửi báo cáo trung bình (ngày)  
Hình 3.2. Số lượng ADR hiếm gặp được ghi nhận  
Hình 3.3. Chất lượng báo cáo ADR  
20  
26  
29  
Hình 3.4. Điểm chất lượng báo cáo trung bình  
Hình 3.5. Nhận thức của nhân viên y tế về ADR  
30  
33  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
ADR  
Phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reaction)  
ICD - 10  
Bảng phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ 10  
(International Classification of Diseases – 10)  
NVYT  
Nhân viên y tế  
Số thứ tự  
STT  
Trung tâm DI&ADR Quốc gia  
Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi  
phản ứng có hại của thuốc  
WHO  
Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)  
1
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Cùng với sự tiến bộ không ngừng của y học, ngành công nghiệp dược phẩm  
cũng đã có những bước tiến quan trọng trong việc nghiên cứu và chế tạo thuốc mới.  
Sự ra đời của nhiều loại thuốc mới làm thay đổi cơ bản diễn biến nhiều loại bệnh  
tật, tạo nên những cuộc cách mạng trong điều trị mang lại sức khỏe cho hàng triệu  
người. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà thuốc mang lại, không thể phủ nhận  
một thực tế là thuốc có thể gây ra những phản ứng bất lợi, những bệnh lý nghiêm  
trọng, thậm chí gây tử vong cho người dùng thuốc. Nhiều nghiên cứu trên thế giới  
đã chứng minh phản ứng có hại của thuốc tạo ra những gánh nặng lớn về bệnh tật  
và kinh tế [34], [40].  
Với mục đích đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý trong phòng và điều trị bệnh,  
Cảnh giác Dược là một hoạt động chuyên môn quan trọng chăm sóc sức khỏe bệnh  
nhân [48]. Tại Việt Nam, hoạt động Cảnh giác Dược đã được triển khai từ năm  
1994 với việc thành lập Trung tâm theo dõi ADR phía Bắc. Năm 1999, Việt Nam  
trở thành thành viên của Chương trình giám sát thuốc toàn cầu của Tổ chức Y tế  
Thế giới (WHO). Đến năm 2009, Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và theo  
dõi phản ứng có hại của thuốc được thành lập và chính thức tiếp nhận các báo cáo  
ADR tự nguyện của cả nước từ ngày 1/1/2010.  
Trong hoạt động Cảnh giác Dược, báo cáo phản ứng có hại của thuốc tự  
nguyện là phương pháp phổ biến nhất được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới  
để phát hiện và giám sát các phản ứng có hại của thuốc [44]. Hệ thống báo cáo  
ADR tự nguyện được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới bởi ưu điểm là cơ cấu  
đơn giản và ít tốn kém. Tuy nhiên, báo cáo ADR tự nguyện cũng có những hạn chế  
nhất định là hiện tượng báo cáo thiếu và báo cáo chất lượng kém [44], [46]. Vì vậy,  
nâng cao số lượng và chất lượng báo cáo ADR là một nhiệm vụ trọng tâm của hoạt  
động Cảnh giác Dược.  
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh là một bệnh viện trọng điểm của dự án  
―Tăng cường hệ thống y tế‖ - Hợp phần 2.1 ―Tăng cường các hoạt động Cảnh giác  
Dược‖ triển khai tại Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2016 [15]. Năm 2013, Bệnh  
viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh là 1 trong 10 bệnh viện có số lượng báo cáo ADR  
nhiều nhất cả nước, với số lượng báo cáo ADR là 106 (chiếm 1,94%) [14]. Tuy  
 
2
nhiên, đây vẫn chưa phải là con số kỳ vọng so với thực tế số lượng bệnh nhân điều  
trị tại bệnh viện này. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng  
Ninh để thực hiện đề tài ―Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc  
tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 – 2013‖ với mục tiêu:  
- Phân tích hoạt động báo cáo ADR của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh  
thông qua số lượng và chất lượng báo cáo gửi tới Trung tâm DI&ADR Quốc gia  
giai đoạn 2010 – 2013.  
- Phân tích thực trạng nhận thức, thái độ và thực hành của nhân viên y tế  
trong hoạt động báo cáo ADR tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh.  
3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN  
1.1. Hoạt động Cảnh giác Dƣợc trong bệnh viện  
1.1.1. Định nghĩa và mục tiêu của Cảnh giác Dƣợc  
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa ―Cảnh giác Dược là khoa học và  
các hoạt động liên quan đến việc phát hiện, đánh giá, nghiên cứu và phòng tránh các  
phản ứng có hại của thuốc (ADR) và các vấn đề liên quan đến quá trình sử dụng  
thuốc‖ [44], [48], [50].  
Gần đây, trọng tâm của Cảnh giác Dược được mở rộng trong các lĩnh vực:  
thuốc có nguồn gốc dược liệu, thuốc cổ truyền, thực phẩm chức năng, thuốc có  
nguồn gốc sinh học, trang thiết bị y tế và vắc xin [50].  
Mục tiêu cụ thể của hoạt động Cảnh giác Dược là [50]:  
- Cải thiện việc chăm sóc bệnh nhân và an toàn trong mối liên quan sử dụng  
thuốc với can thiệp của điều trị và hỗ trợ điều trị trên người bệnh.  
- Cải thiện sức khỏe cộng đồng và đảm bảo an toàn trong sử dụng thuốc.  
- Góp phần đánh giá lợi ích, nguy cơ, hiệu quả và độ an toàn của thuốc,  
khuyến khích sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả (bao gồm các yếu tố kinh tế).  
- Thúc đẩy sự hiểu biết, giáo dục và đào tạo trên lâm sàng trong Cảnh giác  
Dược và tuyên truyền hiệu quả tới cộng đồng.  
1.1.2. Sự cần thiết triển khai hoạt động Cảnh giác Dƣợc trong bệnh viện  
Phản ứng có hại của thuốc (ADR) là lý do được báo cáo nhiều nhất trong số  
những biến cố có hại của thuốc trong thời gian nằm viện, với tỷ lệ lên tới gần 20%  
[39]. Tần suất xuất hiện ADR trong 6 tháng tại Bệnh viện Hoàng gia Liverpool,  
vương quốc Anh là 20%, với hậu quả 73% tổn thương nhẹ, 25% tổn thương trung  
bình, 2% tổn thương nặng, 0,2% tử vong [22]. Tại Mỹ, hàng năm có 2,2 triệu ca  
ADR nặng trong những bệnh nhân nội trú, trong đó có 106 000 ca tử vong. Gần  
20% bệnh nhân nội trú có xuất hiện ít nhất một ADR trong thời gian nằm viện,  
trong số này có đến trên 14% chịu hậu quả là để lại dị tật nghiêm trọng [34].  
Một nghiên cứu tại Mỹ đã cho thấy phản ứng có hại của thuốc trung bình làm  
tăng thời gian nằm viện của mỗi bệnh nhân lên gần 2 ngày, tiêu tốn gần 3500 đô-la  
Mỹ (với thời giá đô-la năm 1997). Tổn thất này chưa tính đến chi phí do sai sót  
trong điều trị cũng như chi phí thiệt hại của bản thân bệnh nhân [26].  
       
4
Việc báo cáo ADR trong bệnh viện đóng vai trò vô cùng quan trọng trong  
việc phát hiện các ADR của thuốc mới được đưa vào sử dụng, các ADR nghiêm  
trọng và các ADR có thể được phát hiện sớm [43]. Hơn nữa, các dữ liệu về ADR  
thu thập được trong mỗi bệnh viện sẽ giúp cho việc quản lý sử dụng thuốc phù hợp  
hơn [12].  
Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định nhờ hiệu quả của việc tăng  
cường hoạt động Cảnh giác Dược cho cán bộ y tế trong bệnh viện bao gồm đào tạo,  
tập huấn, cung cấp thông tin thuốc, phản hồi báo cáo… làm cải thiện tích cực số  
lượng cũng như chất lượng báo cáo ADR đã ghi nhận được [24], [27], [38], [45].  
Như vậy, Cảnh giác Dược đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện và  
đo lường nguy cơ về ADR, từ đó hình thành các biện pháp ngăn chặn những hậu  
quả khác có thể xảy ra, đảm bảo sự an toàn cho người sử dụng thuốc, đồng thời  
giảm bớt gánh nặng về chi phí không đáng có cho hệ thống chăm sóc sức khoẻ cộng  
đồng.  
1.1.3. Các đối tác tham gia hoạt động Cảnh giác Dƣợc trong bệnh viện  
Các đối tác tham gia hoạt động Cảnh giác Dược trong bệnh viên bao gồm:  
Hội đồng Thuốc và Điều trị, khoa Dược Bệnh viện, đơn vị Thông tin thuốc và nhân  
viên y tế. Các văn bản pháp quy ở Việt Nam đã có quy định khá rõ ràng về vai trò  
của các đối tác này trong hoạt động Cảnh giác Dược trong bệnh viện.  
1.1.3.1. Hội đồng Thuốc và Điều trị  
Theo WHO, một trong ba nhiệm vụ quan trọng của Hội đồng thuốc và điều  
trị giúp đảm bảo sử dụng thuốc an toàn và hợp lý là giám sát và quản lý ADR. Hội  
đồng Thuốc và Điều trị cần xây dựng một hệ thống giám sát, theo dõi, điều tra và  
báo cáo các phản ứng có hại của thuốc trong bệnh viện [30].  
Bộ Y tế cũng quy định một trong những nhiệm vụ của Hội đồng Thuốc và  
Điều trị là giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) và các sai sót trong điều trị,  
cụ thể là:  
- Xây dựng quy trình phát hiện, đánh giá, xử trí, dự phòng ADR và các sai sót  
trong chu trình sử dụng thuốc tại bệnh viện từ giai đoạn chẩn đoán, kê đơn của thầy  
thuốc, chuẩn bị và cấp phát thuốc của dược sĩ, thực hiện y lệnh và hướng dẫn sử  
 
5
dụng của điều dưỡng, sự tuân thủ điều trị của người bệnh nhằm bảo đảm an toàn  
cho người bệnh trong quá trình điều trị.  
- Tổ chức giám sát ADR, ghi nhận và rút kinh nghiệm các sai sót trong điều  
trị.  
- Triển khai hệ thống báo cáo ADR trong bệnh viện.  
- Thông tin cho cán bộ y tế trong bệnh viện về ADR, sai sót trong sử dụng  
thuốc để kịp thời rút kinh nghiệp chuyên môn.  
- Cập nhật, sửa đổi, bổ sung danh mục thuốc của bệnh viện, hướng dẫn điều trị  
và các quy trình chuyên môn khác dựa trên thông tin về ADR và sai sót trong sử  
dụng thuốc ghi nhận tại bệnh viện.  
- Tổ chức tập huấn cho cán bộ y tế về ADR và sai sót trong sử dụng thuốc [3].  
1.1.3.2. Khoa Dược bệnh viện  
Thông tư 22/2011/TT-BYT của Bộ Y tế quy định một trong những hoạt động  
của khoa Dược là: ―Tham gia công tác Cảnh giác Dược; theo dõi, tập hợp các báo  
cáo về tác dụng không mong muốn của thuốc trong đơn vị và báo cáo về Trung tâm  
Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc. Đề xuất biện  
pháp giải quyết và kiến nghị về sử dụng thuốc hợp lý, an toàn‖ [5].  
Thông tư 23/2011/TT – BYT cũng quy định: ―Khoa Dược có nhiệm vụ làm  
đầu mối trình lãnh đạo bệnh viện báo cáo phản ứng có hại của thuốc theo mẫu của  
Bộ Y tế và gửi về Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có  
hại của thuốc ngay sau khi xử lý‖ [6].  
1.1.3.3. Đơn vị Thông tin thuốc  
Công văn 10766/YT-Đtr của Bộ Y tế về hướng dẫn tổ chức và hoạt động của  
Đơn vị Thông tin thuốc trong bệnh viện có quy định nhiệm vụ của Đơn vị Thông tin  
thuốc là: ―Tham gia theo dõi, xử lý các phản ứng có hại và theo dõi chất lượng  
thuốc‖ [8].  
1.1.3.4. Nhân viên y tế  
Theo WHO, các nhân viên y tế có điều kiện tốt nhất để báo cáo các nghi ngờ  
về một ADR xảy ra ở bệnh nhân. Tất cả nhân viên y tế tham gia vào hệ thống chăm  
sóc sức khỏe đều tham gia báo cáo các ADR như một phần trong trách nhiệm  
6
chuyên môn của mình, ngay cả khi ADR bị nghi ngờ chưa có mối quan hệ rõ ràng  
với việc điều trị [51].  
Điều 51, Luật Dược quy định: ―Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cán bộ, nhân  
viên y tế có trách nhiệm theo dõi và báo cáo cho người phụ trách cơ sở, cơ quan có  
thẩm quyền quản lý thuốc về các phản ứng có hại của thuốc‖ [11].  
Thông tư 31 của Bộ Y tế ban hành ngày 20/12/2012 về hướng dẫn hoạt động  
dược lâm sàng trong bệnh viện quy định một trong những nhiệm vụ của dược sĩ lâm  
sàng là: ―Theo dõi, giám sát ADR và là đầu mối báo cáo các ADR tại đơn vị theo  
quy định hiện hành‖. Tại khoa lâm sàng, dược sĩ lâm sàng ngoài xem xet các thuốc  
́
̣ ̣  
đươc kê đơn cho ngư ời bênh v ề chỉ định, chống chỉ định… còn phải xem xét đến  
các ADR của thuốc [4].  
1.1.4. Các hoạt động theo dõi ADR trong bệnh viện  
Có nhiều văn bản hướng dẫn hoạt động theo dõi ADR trong bệnh viện bao  
gồm các bước: phát hiện, xử trí, đánh giá, báo cáo và dự phòng ADR.  
1.1.4.1. Phát hiện ADR  
Điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuật viên trong bệnh viện có trách nhiệm:  
―Theo dõi và phát hiện những biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng bất thường trên  
người bệnh, thông báo ngay cho bác sĩ điều trị và khoa Dược và ghi lại các thông  
tin liên quan tới thuốc mà người bệnh đã sử dụng‖.  
Bác sĩ có trách nhiệm: ―Phát hiện, ghi nhận những biểu hiện lâm sàng và cận  
lâm sàng bất thường trên người bệnh vào bệnh án, kiểm tra lại tất cả các thuốc thực  
tế người bệnh đã sử dụng, kiểm tra chất lượng cảm quan mẫu thuốc được lưu lại,  
kiểm tra việc sử dụng thuốc có phù hợp tình trạng bệnh lý hay không, có cân nhắc  
đến các bệnh mắc kèm và chống chỉ định trên người bệnh hay không, liều dùng  
thuốc đã đúng như khuyến cáo chưa, người bệnh có tiền sử dị ứng, đặc biệt là dị  
ứng thuốc không và có sự phù hợp về thời điểm dùng thuốc nghi ngờ và thời điểm  
xuất hiện ADR không‖.  
Với dược sĩ: ―Trong quá trình xem bệnh án hoặc duyệt thuốc tại Khoa Dược,  
dược sĩ phát hiện ADR dựa trên các thuốc có khả năng được sử dụng để xử trí phản  
ứng có hại của thuốc, biểu hiện lâm sàng và kết quả xét nghiệm cận lâm sàng bất  
 
7
thường. Ưu tiên xem xét bệnh án các đối tượng đặc biệt, sử dụng thuốc có nguy cơ  
cao xảy ra ADR‖ [2].  
1.1.4.2. Xử trí ADR  
Với điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuật viên: ―Thực hiện xử trí ADR  
theo đúng y lệnh, theo dõi người bệnh, thông báo kịp thời cho bác sĩ điều trị nếu có  
diễn biến bất thường của người bệnh. Trường hợp khẩn cấp có thể ngừng sử dụng  
thuốc nghi ngờ gây ảnh hưởng tới tính mạng người bệnh trước khi thông báo cho  
bác sĩ‖.  
Bác sĩ có nhiệm vụ: ―Đánh giá mức độ nghiêm trọng của ADR để quyết định  
hướng xử trí lâm sàng phù hợp: giảm liều hoặc ngừng thuốc nghi ngờ gây ADR  
trong điều kiện lâm sàng cho phép, kịp thời thực hiện các biện pháp điều trị triệu  
chứng, điều trị hỗ trợ, đảm bảo chức năng sống còn cho người bệnh, thực hiện theo  
các hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế có liên quan nếu việc xử trí ADR thuộc  
phạm vi các hướng dẫn đó. Trường hợp cần thiết, có thể trao đổi hướng xử trí với  
đồng nghiệp, tổ chức hội chẩn chuyên môn, tham khảo thêm thông tin về ADR từ  
Dược sĩ, Đơn vị thông tin thuốc bệnh viện hoặc các Trung tâm về Thông tin thuốc  
và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc. Giám sát chặt chẽ người bệnh trong trường  
hợp bắt buộc sử dụng lại thuốc nghi ngờ gây ADR khi không có thuốc thay thế hoặc  
khi lợi ích của thuốc vượt trội hơn nguy cơ‖.  
Dược sĩ cần phải: ―Trao đổi với bác sĩ điều trị nếu phát hiện ADR khi thực  
hiện hoạt động dược lâm sàng tại khoa phòng để có biện pháp xử trí phù hợp, cũng  
như cung cấp thông tin về thuốc trong quá trình xác định và xử trí ADR theo yêu  
cầu của cán bộ y tế‖ [2].  
1.1.4.3. Đánh giá ADR  
Khi một ADR xảy ra trong quá trình điều trị nhân viên y tế cần kiểm tra tiền  
sử bệnh nhân và tra cứu các tài liệu cần thiết để đánh giá đầy đủ ADR nghi ngờ. Đối  
với một số bệnh nhân, có thể tìm kiếm sự hỗ trợ từ dược sĩ lâm sàng để đánh giá  
nguyên nhân, chẩn đoán cụ thể và quản lý ADR nghi ngờ [42].  
Các quan hệ nhân quả của một báo cáo ADR hoặc nghi ngờ (ví dụ như xác  
định hoặc không xác đinh, có thể xảy ra, có thể không) nên được đánh giá để phân  
loại từng ADR với việc xem xét những điều sau đây [42]:  
8
- Sự liên quan giữa thời điểm bắt đầu điều trị bằng thuốc và các tác dụng phụ  
của phản ứng.  
- Kết quả sau khi ngừng sử dụng thuốc  
- Dấu hiệu và triệu chứng của ADR có thể được giải thích là do bệnh của bệnh  
nhân không.  
- Các xét nghiệm cung cấp bằng chứng cho các phản ứng là một ADR  
- Nếu tái sử dụng, triệu chứng có trở lại không.  
Cần đánh giá mức độ nghiêm trọng của một báo cáo ADR hoặc nghi ngờ (ví  
dụ: nhẹ, trung bình, nặng, đe dọa tính mạng) [42].  
1.1.4.4. Báo cáo ADR  
―Người trực tiếp viết báo cáo ADR có thể là bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng viên,  
hộ sinh viên, kỹ thuật viên và các cán bộ y tế khác, sử dụng mẫu báo cáo do Bộ Y tế  
quy định‖.  
―Báo cáo cần được gưi trong th ời gian sớm nhất có thể sau khi xảy ra phản  
̉
ứng, ngay cả khi thông tin thu được chưa đầy đủ (báo cáo ban đầu). Trong trường  
hợp này, có thể bổ sung báo cáo nếu thu thập được thêm thông tin (báo cáo bổ  
sung)‖ [2].  
1.1.4.5. Phản hồi báo cáo ADR  
Hội đồng Thuốc và Điều trị thông tin cho cán bộ y tế trong bệnh viện về  
ADR, sai sót trong sử dụng thuốc để kịp thời rút kinh nghiệm chuyên môn [3].  
Dược sĩ cần cung cấp thông tin phản hồi cho các bác sĩ, điều dưỡng; phổ  
biến thông tin về ADR không được báo cáo trước đây [19].  
1.1.4.6. Dự phòng ADR  
Nhiều phản ứng có hại của thuốc có thể ngăn ngừa được bằng các biện pháp  
dự phòng trong quá trình sử dụng thuốc cho người bệnh.  
Hội đồng Thuốc và Điều trị có thể tăng cường việc sử dụng thuốc an toàn và  
dự phòng các trường hợp ADR bằng cách khuyến khích báo cáo ADR [30]. Đồng  
thời, Hội đồng Thuốc và Điều trị cần: ―Xác định danh mục các thuốc có nguy cơ  
cao cần giám sát, xây dựng qui trình hướng dẫn sử dụng các thuốc này trong bệnh  
viện; tổ chức hội chẩn, thảo luận và đánh giá, đề xuất các biện pháp dự phòng trong  
trường hợp xảy ra ADR nghiêm trọng; định kỳ tổng kết công tác báo cáo ADR  
9
trong bệnh viện; tổ chức tập huấn định kỳ cho cán bộ y tế về kỹ năng phát hiện, xử  
trí ADR, báo cáo ADR‖ [2].  
Đối với cán bộ y tế cần phải: ―Tuân thủ chỉ định, chống chỉ định, thận trọng,  
liều dùng của thuốc, qui trình bảo quản và sử sử dụng thuốc cho người bệnh; chú ý  
tương tác thuốc trong kê đơn‖ [2].  
Tại khoa Dược và Đơn vị Thông tin Thuốc của bệnh viện cần: ―Cập nhật  
thông tin sử dụng thuốc, thông tin về thuốc mới, an toàn thuốc gửi đến cán bộ y tế  
và người bệnh; giám sát chất lượng trước khi cấp phát thuốc về các khoa phòng;  
hướng dẫn và hỗ trợ cán bộ y tế trong công tác báo cáo ADR‖ [2].  
1.2. Hệ thống báo cáo tự nguyện  
1.2.1. Định nghĩa hệ thống báo cáo tự nguyện  
Hệ thống báo cáo tự nguyện về ADR được định nghĩa là: ―hệ thống thu thập  
các báo cáo về phản ứng có hại của thuốc, được các cán bộ y tế cũng như các công  
ty sản xuất kinh doanh dược phẩm báo cáo một cách tự nguyện về cơ quan có thẩm  
quyền quản lý về các phản ứng có hại của thuốc‖ [44].  
Sự thành công hay thất bại của hoạt động Cảnh giác Dược ở bất kỳ một quốc  
gia nào đều phụ thuộc vào hệ thống báo cáo ADR tự nguyện. Hệ thống này cần phải  
có sự tham gia của tất cả các thành phần trong lĩnh vực y tế, bao gồm các cơ sở  
khám, chữa bệnh, nhân viên y tế và các công ty sản xuất kinh doanh dược  
phẩm...[48].  
Hiện nay, hệ thống báo cáo ADR tự nguyện được triển khai tại hầu hết các  
quốc gia trên thế giới. Ở mỗi quốc gia, hoạt động này được tiến hành bởi một hoặc  
một số trung tâm Cảnh giác Dược dưới sự chỉ đạo của cơ quan quản lý thuốc quốc  
gia. Một số quốc gia lớn, có các trung tâm khu vực hoạt động như một cơ sở địa  
phương để tiếp nhận, xử lý báo cáo ADR, hỗ trợ trong việc báo cáo và giáo dục về  
ADR. Tại Pháp, cả nước được bao phủ bởi các trung tâm khu vực như vậy. Tại  
Anh, các trung tâm khu vực chỉ được xây dựng ở một số địa phương [44].  
Mục đích chính của hệ thống báo cáo tự nguyện là phát hiện kịp thời các tín  
hiệu về an toàn thuốc, đưa ra giả thuyết và cung cấp những thông tin quan trọng về  
các đối tượng nguy cơ, yếu tố nguy cơ. Sau đó, những tín hiệu sẽ được đánh giá và  
phân tích sâu hơn để đưa ra các can thiệp quản lý kịp thời. Báo cáo tự nguyện về  
   
10  
các ADR nghi ngờ của thuốc đặc biệt có ích khi phát hiện những phản ứng hiếm  
gặp và xảy ra muộn, bởi vì hệ thống có khả năng theo dõi trong suốt vòng đời của  
thuốc [44], [46].  
1.2.3. Ƣu điểm và hạn chế của hệ thống báo cáo ADR tự nguyện  
Hệ thống báo cáo ADR tự nguyện đã hình thành ở nhiều quốc gia và trở  
thành phương pháp phổ biến nhất bởi những ưu điểm nổi bật sau [20], [44], [46]:  
- Cơ cấu đơn giản, ít tốn kém hơn so với các phương pháp theo dõi ADR khác.  
- Phạm vi áp dụng rộng rãi với tất cả các thuốc trong suốt thời gian thuốc lưu  
hành, với số lượng lớn dân số, không phân biệt các đối tượng, áp dụng được cho cả  
bệnh nhân nội trú và ngoại trú.  
- Khả năng nắm bắt nhanh các biểu hiện lâm sàng chưa được ghi nhận, đặc  
biệt là các ADR hiếm gặp và nghiêm trọng, do đó, hỗ trợ tốt cho hệ thống cảnh báo  
sớm.  
Xét trên quan điểm chi phí – lợi ích, báo cáo ADR tự nguyện được xem là  
phương pháp phát hiện ADR với hiệu suất kinh tế cao nhất. Tuy nhiên, báo cáo  
ADR tự nguyện cũng có một số hạn chế [44], [46]:  
- Thông tin trong báo cáo không đầy đủ, thiếu dữ liệu nên khó có thể ngoại  
suy được nguy cơ liên quan đến một thuốc.  
- Tử vong do ADR có thể được ghi nhận không đầy đủ nếu nó không xảy ra ở  
các cơ sở khám chữa bệnh.  
- Số trường hợp xuất hiện ADR cũng khó xác định do việc báo cáo thiếu  
(under-reporting) vẫn diễn ra phổ biến, không chỉ với các ADR đã biết hoặc không  
nghiêm trọng mà còn xảy ra với cả các ADR mới, hiếm gặp và nghiêm trọng. Đây  
là hạn chế lớn nhất của hệ thống báo cáo ADR tự nguyện. Có ý kiến cho rằng một  
loại thuốc khi lưu hành trên thị trường chỉ có khoảng 10% các ADR của thuốc đó  
được báo cáo và có bằng chứng cho thấy tỷ lệ báo cáo các trường hợp tử vong do sử  
dụng quá nhiều bình xịt thuốc giãn phế quản là thấp hơn so với thực tế, cũng như  
các trường hợp tử vong do huyết khối tắc mạch khi sử dụng thuốc tránh thai và các  
vấn đề về mắt liên quan đến practolol [31]. Báo cáo thiếu không chỉ giới hạn ở Anh.  
Kết quả nghiên cứu thực hiện tại Mỹ, Pháp, Tây Ban Nha, Italia, Đan Mạch và Đức  
cũng báo cáo tình trạng tương tự. Trong một nghiên cứu so sánh các ADR được  
 
11  
phát hiện bởi 81 bác sĩ ở Pháp trong 3 ngày liên tiếp và số lượng báo cáo ADR  
Trung tâm Cảnh giác Dược Bordeaux nhận được từ các bác sĩ cho kết quả số lượng  
ADR trung bình là 1,99 trường hợp mỗi ngày và chỉ có 1 trong 24433 ADR đã được  
báo cáo đến trung tâm [31].  
Một số lý do nhân viên y tế không báo cáo ADR đã được Inman liệt kê và  
gọi là ―7 tội lỗi chết người‖ bao gồm:  
- Sự thiếu hiểu biết về nhu cầu báo cáo.  
- Không chắc chắn về phản ứng nghi ngờ.  
- Thờ ơ đối với sự đóng góp vào kiến thức chung.  
- Tin rằng thuốc an toàn.  
- Sợ quy kết trách nhiệm.  
- Muốn thu thập và công bố một loạt các ca lâm sàng đơn lẻ cho mục đích cá  
nhân.  
- Cảm giác tội lỗi vì đã gây ảnh hưởng xấu.  
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng hầu hết các lý do không báo  
cáo Inman đưa ra là không phù hợp. Trong một nghiên cứu ở Bỉ có sự tham gia của  
500 bác sĩ, các lý do chính không báo cáo là thiếu mẫu báo cáo khi cần thiết (40%),  
quá bận rộn (27%) và không biết cách báo cáo (22%), hơn 11% số người trả lời tin  
rằng chỉ có thuốc an toàn được bán trên thị trường và chỉ 55% các bác sĩ biết rằng  
các phản ứng với vắc-xin cần phải được báo cáo [31]. Nghiên cứu tại Hà Lan cho  
kết quả, những lý do quan trọng nhất không báo cáo là không chắc chắn về việc liệu  
phản ứng được gây ra bởi một loại thuốc (72%), cho rằng các ADR là quá nhẹ để  
báo cáo (75%) hoặc được biết quá rõ (93%), 18% không biết về sự cần thiết phải  
báo cáo ADR , 22% không biết làm thế nào để báo cáo, 38% không có đủ thời gian,  
36% nghĩ rằng báo cáo đã quá quan liêu và chỉ có 26% biết cách báo cáo ADR [31].  
Theo WHO, các nhân viên y tế có điều kiện tốt nhất để báo cáo các nghi ngờ  
về một ADR xảy ra ở bệnh nhân [51]. Mặc dù vậy, kết quả nhiều nghiên cứu cho  
thấy kiến thức của nhân viên y tế về hoạt động báo cáo ADR còn hạn chế và thái độ  
đối với báo cáo ADR còn chưa tích cực. Kết quả một nghiên cứu tại Thụy Điển trên  
748 nhân viên y tế cho thấy có 252 người chưa từng báo cáo ADR và việc quyết  
định có báo cáo ADR dựa trên phản ứng đó có được biết rõ hay không,70% do dự  
12  
báo cáo do nghi ngờ, thiếu hiểu biết về quy định hiện hành, ưu tiên giải quyết các  
việc khác và thiếu thời gian báo cáo ADR [37]. Tại Ấn Độ, nghiên cứu tại 1 bệnh  
viện cho thấy 77% bác sĩ tham gia nghiên cứu biết cụm từ cảnh giác dược, chỉ có  
59% biết về chương trình cảnh giác dược quốc gia, và 23% tự nguyện tham gia báo  
cáo ADR. Chưa nhận thức được tầm quan trọng của báo cáo ADR tự nguyện, thiếu  
thời gian, thiếu kiến thức về cơ chế báo cáo và chuyên môn còn thiếu là những lý do  
chính cho việc không báo cáo ADR [28]. Như vậy, số lượng và chất lượng báo cáo  
ADR phụ thuộc nhiều vào kiến thức và thái độ của nhân viên y tế với hoạt động báo  
cáo ADR.  
Mặc dù có những hạn chế nhất định nêu trên nhưng hệ thống báo cáo ADR  
tự nguyện vẫn là hình thức báo cáo thiết yếu và là công cụ chính của hệ thống Cảnh  
giác Dược của bất kỳ quốc gia nào [21].  
1.2.4. Tình hình báo cáo ADR tự nguyện ở Việt Nam  
Việt Nam bắt đầu triển khai các hoạt động báo cáo ADR từ năm 1994 khi  
Trung tâm theo dõi ADR đầu tiên của Việt Nam được thành lập tại Hà Nội nhờ  
nguồn tài trợ từ Tổ chức SIDA Thụy Điển. Năm 1999, Việt Nam trở thành thành  
viên thứ 56 của Chương trình giám sát thuốc toàn cầu của tổ chức Y tế Thế giới  
(WHO). Năm 2009, Bộ y tế thành lập Trung tâm DI&ADR Quốc gia [7] và Trung  
tâm DI&ADR phía Nam 2 năm sau đó. Nhiều hoạt động tăng cường cơ sở vật chất  
cho lĩnh vực Cảnh giác Dược từ nguồn ngân sách nhà nước cấp và tài trợ từ các tổ  
chức quốc tế, đào tạo nâng cao năng lực cảnh giác dược cho nhân viên y tế tại cơ  
quan quản lý và cơ sở điều trị, bước đầu triển khai hoạt động nghiên cứu, xuất bản  
liên quan đến an toàn thuốc [35].  
Bộ Y tế cũng đã ban hành nhiều văn bản qui định hoạt động báo cáo tự  
nguyện phản ứng có hại của thuốc tại các đơn vị có liên quan đến phân phối, sử  
dụng thuốc. Theo Luật Dược ban hành vào năm 2005: ―Cơ sở khám bệnh, chữa  
bệnh, cán bộ, nhân viên y tế có trách nhiệm theo dõi và báo cáo cho người phụ trách  
cơ sở, cơ quan có thẩm quyền quản lý thuốc về các ADR‖ [11]. Trong các thông tư  
số 13/2009/TT-BYT, thông tư số 22/2011/TT-BYT, công văn số 10766/YT-ĐTr  
năm 2003 và quyết định 1088/QĐ-BYT năm 2013 đều có quy định về việc báo cáo  
ADR [5], [2], [8]. Theo thông tư số 23/2011/TT-BYT hướng dẫn sử dụng thuốc  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 76 trang yennguyen 24900 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Phân tích hoạt động Báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010-2013", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_phan_tich_hoat_dong_bao_cao_phan_ung_co_hai_cua_thu.pdf