Luận văn Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại cục hải quan tỉnh Bình Định

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
--------------------  
ĐỒNG THỊ TÍNH  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ RỦI RO ĐỐI  
VỚI HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU  
TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BÌNH ĐỊNH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP.Hồ Chí Minh- Năm 2016  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
-------------------  
ĐỒNG THỊ TÍNH  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ RỦI RO  
ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU  
TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BÌNH ĐỊNH  
Chuyên ngành: Quản lý công  
Mã số:  
60340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS.TS.NGUYỄN HỒNG THẮNG  
TP.Hồ Chí Minh- Năm 2016  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu mang tính độc lập của cánhânqua quá  
trình nghiên cứu học tập chuyên ngành Quản lý công, thực tế công việc tại đơn vị  
và dưới sự hướng dẫn khoa học của thầy PGS.TS. Nguyễn Hồng Thắng. Luận văn  
này chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào.  
Luận văn có sử dụng một số đánh giá, nhận xét, cơ sở lý thuyết về quản lý rủi ro  
của một số nghiên cứu khoa học, tài liệu, trang website… đều được tác giả ghi chú  
thích nguồn gốc trích dẫn.  
Tác giả  
Đồng Thị Tính  
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
LỜI CAM ĐOAN  
MỤC LỤC  
DANH MỤC VIẾT TẮT  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
DANH MỤC HÌNH VẼ  
TÓM TẮT LUẬN VĂN  
DANH MỤC VIẾT TẮT  
Quản lý rủi ro (Risk management)  
QLRR  
WCO  
WTO  
XNK  
Tổ chức Hải quan thế giới (World Customs Organization)  
Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)  
Xuất nhập khẩu  
Hệ thống thông quan tự động và cơ chế một cửa quốc gia  
Doanh nghiệp  
VNACCS/VCIS  
DN  
Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis)  
Công nghệ thông tin  
EFA  
CNTT  
ASEAN  
AFTA  
GDP  
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á  
Khu vực thương mại tự do ASEAN  
Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product)  
Hệ số Kaiser – Mayer- Olkin  
KMO  
SIG  
Mức ý nghĩa quan sát (Observed significance level)  
Phần mềm thống kê cho khoa học xã hội  
Phương pháp bình phương bé nhất (Ordinary Least Squares)  
SPSS  
OLS  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
TÓM TẮT LUẬN VĂN  
Nhằm nghiên cứu sâu hơn về thực trạngnhữngkhó khăn, vướng mắc của  
công tác quản lý rủi ro (QLRR) từ cấp cơ sở, tìm ra các nhân tố thực sự ảnh hưởng  
đến công tác QLRR làm tiền đề xây dựng các giải pháp hoàn thiện công tác QLRR  
đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Cục Hải quan tỉnh Bình Định nói riêng  
và Ngành Hải quannói chung trong thời gian tới. Nội dung nghiên cứu trình bày  
thực trạng công tác QLRR và các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến công tác QLRR  
hàng hóa xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định. Kết quả nghiên cứu phân  
tích thực trạng có mối liên hệ trực tiếp đến kết quả phân tích định lượng dữ liệu  
nghiên cứu bằng phương pháp hồi quy Linear Regression/ Enter Remove ta thấy khi  
áp dụng mô hình cho nghiên cứu các thang đo (bảng phỏng vấn) 130 chuyên gia  
đến từ Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan Bình Định cho thấy không hình thành  
những khái niệm khác so với mô hình gốc lý thuyết được tác giả xây dựng. Yếu tố  
ảnh hưởng nhiều nhất là Chất lượng nguồn nhân lực, tiếp theo là yếu tố Quy trình  
QLRR, còn yếu tố tuân thủ của DN tác động mạnh thứ ba và cuối cùng là hai yếu tố  
cơ sở vật chất và yếu tố thể chế ảnh hưởng đến QLRR hàng hóa XNK tại Cục hải  
quan tỉnh Bình Định.Qua kết quả nghiên cứu tác giả đề xuất các giải pháp tương  
ứng với từng nhân tố. Nhân tố chất lượng nguồn nhân lực ảnh hưởng nhiều nhất nên  
trong thời gian tới Cục Hải quan tỉnh Bình Định cần đầu tư nhiều hơn cho lực lượng  
chuyên trách làm QLRR đảm bảo đủ về lượng và đảm bảo về chất, chú trọng công  
tác đào tạo bồi dưỡng chuyên sâuvề QLRR và nâng cao nhận thức của tất cả công  
chức về QLRR để nhận thấy được tầm quan trọng của QLRR trong hiện đại hóa Hải  
quan. Kết quả cho thấy sự phù hợp với các công trình nghiên cứu trước đây và thực  
tiễn tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định.  
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU  
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trong xu hướng toàn cầu hóa, cùng với việc hội nhập sâu giữa các quốc gia, các  
Hiệp định thương mại, các Công ước quốc tế được ký kết ngày càng nhiều tạo sự  
gia tăng mạnh mẽ việc lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, công nghệ, vốn …giữa các  
quốc gia. Yêu cầu đặt ra cho mỗi quốc gia là làm sao vừa kiểm soát tốt việc tuân thủ  
luật pháp vừa đảm bảo tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại. Yêu cầu đặt ra  
đối với cơ quan Hải quan là phải thường xuyên cải tiến các phương pháp quản lý để  
duy trì tính hiệu quả và tính phù hợp của các phương pháp quản lý. Cơ quan Hải  
quan không thể tương tác một cách thủ công với dòng chảy của hàng hóa mà cần  
phải chuyển từ cách kiểm soát của “người lính gác cửa truyền thống” sang một mô  
hình điều hành dựa trên quản lý rủi ro (QLRR).Quản lý nhà nước về Hải quan là  
hoạt động quản lý nhà nước đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quả cảnh,  
phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước  
và nước ngoài trong lãnh thổ Hải quan.1 Quản lý nhà nước về Hải quan là cần thiết  
nhằm bảo đảm tuân thủ chính sách pháp luật của nhà nước về phát triển kinh tế, văn  
hóa, xã hội và khoa học công nghệ.  
Từ 01/1/2006, Cục Hải quan tỉnh Bình Định đã áp dụng phương pháp QLRR để  
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Hải quan. Việc áp dụng QLRR vào hoạt  
động quản lý bước đầu đã đạt được một số kết quả, cân bằng giữa kiểm soát và tạo  
thuận lợi giúp giảm áp lực công việc, thủ tục Hải quan được thực hiện nhanh chóng  
thông qua phân tích đối tượng trọng điểm, mặt hàng trọng điểm có mức rủi ro cao  
và có phương pháp quản lý phù hợp.  
Tuy nhiên, việc thực hiện QLRR trong thực tế còn rất nhiều khó khăn, vướng  
mắc, lực lượng chuyên trách QLRR còn nhiều hạn chế, việc nhận diện các yếu tố để  
thu thập, phân tích, đánh giá tiêu chí QLRR còn nhiều khó khăn dẫn đến hiệu quả  
quản lý chưa cao. Chính vì việc kiểm soát các yếu tố rủi ro, phân tích, nhận dạng rủi  
ro ở khâu thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu còn nhiều hạn chế dẫn đến  
1 Quốc hội (2001) Luật Hải quan  
   
2
một số doanh nghiệp (DN) lợi dụng sự thông thoáng trong thủ tục mà có những  
hành vi gian lận thương mại. Theo số liệu báo cáo của Cục Kiểm tra Sau thông  
quan- Tổng cục Hải quan, năm 2014 số thuế truy thu được của các DN xuất nhập  
khẩu có hành vi gian lận thuế là 1.104 tỷ đồng và trong năm 2015 lực lượng Kiểm  
tra Sau thông quan truy thu được 1.361 tỷ đồng. Tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định,  
năm 2014 truy thu được 1.819 triệu đồng, năm 2015 là 3.290 triệu đồng. Đối với  
các hành vi vi phạm pháp luật hải quan tại Cục Hải quan Bình Định năm 2014 đã  
xử lý 52 vụ, năm 2015 là 89 vụ vi phạm. Theo kết quả điều tra và thống kê của Cục  
Điều tra chống buôn lậu – Tổng cục Hải quan, hơn 75% các vụ vi phạm pháp luật  
Hải quan liên quan đến vận tải đường biển, đây cũng là đối tượng quản lý chủ yếu  
của Cục Hải quan tỉnh Bình Định. Nhận thức được tầm quan trọng của việc áp dụng  
QLRR trong hoạt động quản lý nhà nước về Hải quan, tôi chọn đề tài “Các nhân tố  
ảnh hưởng tới QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan  
tỉnh Bình Định” làm đề tài nghiên cứu nhằm nghiên cứu sâu hơn về thực trạng  
những khó khăn, vướng mắc của công tác QLRR từ cấp cơ sở, tìm ra các nhân tố  
thực sự ảnh hưởng đến công tác QLRR làm tiền đề xây dựng các giải pháp hoàn  
thiện công tác QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Cục Hải quan tỉnh  
Bình Định nói riêng và Ngành Hải quannói chung trong thời gian tới.  
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  
Đề tài nghiên cứu hướng đến các mục tiêu sau:  
- Thứ nhất là tìm ra các nhân tố chính ảnh hưởng tới công tác QLRR, đánh giá  
mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó tới công tác QLRR đối với hàng hóa xuất  
khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định giai đoạn 2011-2015.  
- Thứ hai là đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả  
QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước  
về Hải quan trong giai đoạn hội nhập và phát triển.  
1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU  
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, Luận văn cần trả lời được các câu hỏi sau:  
   
3
Câu hỏi 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng tới công tác QLRR và mức độ tác  
động của các nhân tố đó đến công tác QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu  
tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định?  
Câu hỏi 2: Cần có những khuyến nghị chính sách gì để nâng cao hiệu quả  
QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định?  
1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là các nhân tố có thể ảnh hưởng  
đến công tác QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh  
Bình Định.  
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu  
Nghiên cứu công tác QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục  
Hải quan tỉnh Bình Định từ năm 2011 đến năm 2015.  
1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
- Phương pháp định tính:  
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua kỹ thuật phỏng  
vấn và thảo luận sâu với các chuyên gia để xác định các yếu tố có thể ảnh hưởng  
đến hiệu quảQLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh  
Bình Định, đồng thời để bổ sung và điều chỉnh các biến quan sát dùng đo lường  
mức độ hảnh hưởng đến QLRR.  
- Phương pháp nghiên cứu định lượng:  
Bảng phỏng vấn chuyên gia là công cụ để thu thập dữ liệu định lượng. Dữ liệu  
sẽ được phân tích thông qua Phân tích nhân tố khám phá (EFA) tìm ra các nhóm  
nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả QLRR.  
Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha để kiểm  
định sự tương quan giữa các biến và loại bỏ các biến có độ tin cậy không phù hợp.  
Đề tài sử dụng các dữ liệu thứ cấp từ nguồn báo cáo năm của Cục Hải quan  
tỉnh Bình Định làm cơ sở phân tích.  
1.6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN  
Để nâng cao hiệu quả QLRR, bên cạnh sự nỗ lực của các cán bộ công chức  
Ngành Hải quan còn phụ thuộc vào tính tuân thủ pháp luật, tinh thần tự giác của  
     
4
Doanh nghiệp (DN) và các yếu tố khác tác động đến QLRR. Luận văn tìm ra những  
nhân tố thực sự tác động đến công tác QLRR tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định, đánh  
giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó và đề xuất một số giải pháp để QLRR đạt  
được hiệu quả cao hơn trong thời gian tới.  
1.7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN  
Luận văn được kết cấu gồm các chương:  
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu.  
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về QLRR trong lĩnh vực hải quan.  
Chương 3: Thực trạng công tác QLRRđối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu  
tại Cục Hải quan tỉnh Bình Định  
Chương 4: Kết quả nghiên cứu  
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách  
 
5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG LĨNH  
VỰC HẢI QUAN  
2.1. Rủi ro và quản lý rủi ro  
2.1.1 Các khái niệm về rủi ro  
Cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro, ở những trường  
phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa khác nhau về rủi ro.  
Những định nghĩa có thể chia làm 2 trường phái lớn, trường phái truyền thống (còn  
gọi là trường phái tiêu cực) và trường phái trung hòa.  
Theo trường phái tiêu cực hay cách nghĩ truyền thống thì rủi ro là những thiệt  
hại, mất mát, nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho  
con người. Theo cách nghĩ của trường phái này thì rủi ro được định nghĩa như sau:  
“Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy ra” (Từ điển tiếng Việt,  
1995);“Rủi ro là sự không may”GS. Nguyễn Lân (1998) Từ và ngữ Việt Nam.  
Tuy nhiên, theo trường phái trung hòa được đại diện bởi Frank Knight  
(2012)cho rằng: “rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” hoặc “Rủi ro là sự bất  
trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi “ Willett, A.  
H. (1901). Theo tài liệu của “ISO/IEC 73 (2002) QLRR - các khái niệm và hướng  
dẫn sử dụng tiêu chuẩn” của tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO thì rủi ro là sự kết hợp  
giữa xác suất xảy ra của một sự kiện và hậu quả của sự kiện đó. Rủi ro xảy ra có thể  
mang lại lợi ích nhưng cũng có thể gây ảnh hưởng, đem lại các kết quả xấu, không  
mong đợi.  
Vậy theo trường phái trung hòa thì rủi ro là những bất trắc có thể đo lường  
được. Rủi ro vừa mang tính tiêu cực vừa mang tính tích cực. Rủi ro có thể mang  
đến những tổn thất, mất mát, nguy hiểm... cho con người, nhưng cũng có thể mang  
đến những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận dạng, đo lường rủi ro người  
ta có thể tìm ra biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận  
những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai.  
     
6
2.1.2 Rủi ro và sự không chắc chắn  
Rủi ro và sự không chắc chắn là hai khái niệm thường được sử dụng trong  
các tài liệu thuộc lĩnh vực QLRR. Một số tác giả đã có sự phân biệt giữa chúng.  
Thường thì định nghĩa về rủi ro hay không chắc chắn được thiết kế cho một nghiệp  
vụ hay dự án cụ thể. Để làm cho nó có hệ thống hơn, một nghiên cứu đã được thực  
hiện để định nghĩa về rủi ro và không chắc chắn. Những điều này đã được biên soạn  
và được thể hiện trong Bảng 2.1.  
Bảng 2.1. Một số khái niệm về rủi ro  
Tác giả  
Winch  
Định nghĩa rủi ro  
Định nghĩa sự không chắc chắn  
Thiếu thông tin, nhưng bằng Là một phần của thông tin cần thiết  
cách nhìn vào kinh nghiệm quá để đưa ra quyết định. Các thông tin  
khứ, đó là cách dễ dàng để dự cần thiết bao gồm số lượng thông  
đoán tương lai. Sự kiện và kết tin sẵn có và sự không chắc chắn.  
quả đã được biết đến và mong Mức độ không chắc chắn sẽ giảm  
(2002)  
đợi.  
một phần của dự án đang được tiến  
hành trong suốt vòng đời.  
Cleden  
(2009)  
Rủi ro là những gì có thể phát Là các biện pháp đo lường phi vật  
sinh từ sự thiếu hiểu biết. Rủi thể của những gì chúng ta không  
ro là những khoảng trống trong biết. Sự không chắc chắn là những  
kiến thức mà chúng ta nghĩ là gì còn lại sau khi tất cả những rủi  
mối đe dọa đối với dự án.  
ro đã được xác định. Sự không chắc  
chắn là lỗ hổng kiến thức của  
chúng ta,thậm chí không nhận thức  
được.  
Smith et al. Rủi ro xảy ra khi có một số Có thể có không đủ thông tin về sự  
(2006)  
kiến thức về sự kiện này.  
xuất hiện của một sự kiện, nhưng  
biết rằng nó có thể xảy ra.  
Webb  
Rủi ro là một tình huống mà Sự không chắc chắn là một tình  
trong đó chúng ta sở hữu một huống với kết quả về những người  
(2003)  
 
7
số thông tin mục tiêu về những không có kiến thức.  
kết quả có thể có được. Nguy  
cơ rủi ro có thể được đánh giá  
một cách tích cực hay tiêu cực.  
Darnall and Rủi ro là xác suất tổn thất hoặc  
Preston  
(2010)  
thất bại  
Thiếu thông tin và kiến thức là những yếu tố thường được nhắc đến nhiều  
nhất bởi tất cả các tác giả là nguyên nhân hàng đầu cho một sự thất bại. Mô tả được  
cung cấp bởi Cleden (2009) sẽ phù hợp nhất với mục đích của bài viết này; rủi ro  
được định nghĩa là một khoảng trống trong kiến thức mà nếu không được xử lý  
đúng cách, sẽ tạo thành một mối đe dọa. Sự không chắc chắn được xác định theo  
một cách trừu tượng hơn. Các mô tả cung cấp trong bảng 2.1 là tương tự như nhau  
và yếu tố phổ biến là thiếu thông tin và kiến thức. Sự khác biệt lớn nhất theo định  
nghĩa là ý thức. Darnall và Preston (2010) tìm thấy một số rủi ro để có thể dự đoán  
được và dễ dàng để xác định trước khi chúng xảy ra, trong khi những người khác là  
không thể lường trước và có thể dẫn đến sự chậm trễ thời gian bất ngờ hoặc các chi  
phí bổ sung. Tuyên bố này tìm thấy xác trong định nghĩa được cung cấp bởi Cleden  
(2009), người sử dụng cùng một đối số xác định chắc chắn là khá khó lường, các sự  
kiện không lường trước được, trong khi rủi ro có thể thấy trước. Tổng quan về định  
nghĩa này có thể được tìm thấy trong hai thuật ngữ ngụ ý rằng không chắc chắn là  
một khái niệm rộng và nguy cơ là một phần của nó. Điều này khẳng định mối quan  
hệ chặt chẽ giữa hai khái niệm nhưng đồng thời phân biệt chúng  
2.1.3. Quản lý rủi ro (risk management)  
Smith et al (2006) đã cung cấp mô tả toàn diện về khái niệm của QLRR và  
làm thế nào quản lý rủi ro có thể được sử dụng trong thực tế. Theo các tác giả,  
QLRR không thể được coi là một công cụ để dự đoán tương lai vì điều đó là không  
thể. Thay vào đó, mô tả QLRR như là một công cụ tạo điều kiện để đưa ra quyết  
định tốt hơn dựa trên những thông tin. Bằng cách này, các quyết định dựa trên  
 
8
thông tin không đầy đủ có thể tránh được và điều này sẽ đem đến hiệu suất tổng thể  
tốt hơn. Trong các nghiên cứu trước đây, QLRR được mô tả như là một quá trình  
với một số thủ tục được xác định trước. Phạm vi định nghĩa về QLRR có sự khác  
nhau giữa các tác giả, tuy nhiên những thông tin cốt lõi là như nhau. Cooper et al.  
(2005) giải thích bản chất của khái niệm nàynhư sau: Quá trình QLRR liên quan  
đến việc ứng dụng hệ thống các chính sách quản lý, quy trình và thủ tục với nhiệm  
vụ thiết lập bối cảnh, xác định, phân tích, đánh giá, xử lý, giám sát và giải quyết rủi  
ro (Cooper et al, 2005). Quá trình QLRR (Risk Management Process) là nguyên tắc  
cơ bản của sự hiểu biết và QLRR trong một nghiệp vụ, dự án. Nó bao gồm các giai  
đoạn chính như: xác định, đánh giá và phân tích, và phản ứng (Smith et al 2006)  
được thể hiện như trong hình 2.1. Tất cả các bước trong quá trình QLRR bao gồm  
khi đối phó với những rủi ro, để thực hiện hiệu quả các quá trình trong các nghiệp  
vụ, dự án. Có rất nhiều biến thể của quá trình QLRR có sẵn trong các nghiên cứu  
trên thế giới, nhưng khung mô tả phổ biến nhất bao gồm những bước được đề cập.  
Trong một số mô hình có thêm một bước gia tăng, và phần lớn các nguồn xác định  
nó như là giám sát rủi ro hoặc đánh giá.  
Hình 2.1. Chu trình QLRR  
Nguồn : Smith et al. (2006)  
2.2. QLRR đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại cơ quan hải quan và các  
yếu tố ảnh hưởng  
2.2.1. Rủi ro về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu  
Theo quan điểm của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO): rủi rolà những tác  
động không mong muốn, không đoán trước được đối với một đối tượng và rủi ro  
trong lĩnh vực hải quan là sự không tuân thủ pháp luật về hải quan.Theo Công ước  
KYOTO sửa đổi(1999) định nghĩa rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn của việc không tuân thủ  
     
9
pháp luật hải quan.Rủi ro về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có thể phát sinh từ các  
hạn chế, sơ hở trong chính sách quản lý hải quan, chính sách thuế, quy trình thủ tục  
hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩuhoặc trong tổ chức thực hiện các hoạt  
động nghiệp vụ hải quan có thể bị lợi dụng vi phạm pháp luật hải quan. Cụ thể, có  
thể khái quát các loại rủi ro về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu như sau:  
Một là rủi ro trong tuân thủ chính sách quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu: Một  
số phương thức, thủ đoạn vi phạm như: khai báo hàng hóa thuộc diện ưu tiên miễn  
kiểm tra nhưng thực tế nhập khẩu hàng hóa thuộc diện chính sách quản lý, hoặc cất  
giấu hàng cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu trong hàng hóa thuộc diện miễn kiểm tra,  
xuất khẩu nhập khẩu hàng hóa vi phạm về môi trường như nhập khẩu phế liệu  
không đáp ứng tiêu chuẩn quy định, nhập khẩu rác thải công nghiệp, các chất làm  
suy giảm ôzôn, động thực vật quý hiếm có nguy cơ tiệt chủng hoặc làm giả, tẩy sửa  
giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu...  
Hai là rủi ro về phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu. Phương thức, thủ đoạn chủ  
yếu là khai báo sai mã hàng hóa hoặc khai mã hàng dễ nhầm lẫn hoặc mã hàng khác  
nhằm hưởng ưu đãi về thuế suất thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu hoặc để né tránh  
việc áp dụng biện pháp kiểm tra giám sát của cơ quan Hải quan (đối với trường hợp  
hàng hóa thuộc diện cấm xuất khẩu, nhập khẩu, hàng hóa thuộc quản lý chuyên  
ngành...). Để hợp thức hóa việc khai mã số hàng hóa, các đối tượng thường khai sai  
về chủng loại, tính chất, thành phần, công dụng của hàng hóa...  
Ba là rủi ro về trị giá hải quan. Phương thức, thủ đoạn vi phạm được thể hiện  
chủ yếu dưới hai dạng: khai thấp hơn so với trị giá giao dịch thực tế hàng xuất khẩu,  
nhập khẩu nhằm giảm số thuế phải nộp; hoặc khai cao hơn so với trị giá giao dịch  
thực tế hàng hóa xuất nhập khẩu để hưởng thuế hoàn cao hơn số thuế thực được  
hoàn hoặc khai cao hơn để hợp thức hóa việc khai gian lận nguồn vốn đóng góp của  
các công ty liên doanh, đầu tư nước ngoài, trốn tránh việc rửa tiền...  
Bốn là rủi ro về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Đối với hàng hóa  
nhập khẩu, các đối tượng thường sử dụng các hình thức khai báo sai hoặc giả mạo  
chứng nhận xuất xứ hàng hóa để được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt. Rủi ro này  
thường xảy ra với các loại hàng hóa có thuế suất thuế nhập khẩu cao.  
10  
Năm là rủi ro về lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, bao gồm các nguy cơ  
vi phạm như khai khống hoặc khai sai về số lượng hàng xuất nhập khẩu nhằm mục  
đích gian lận số tiền thuế phải nộp, gian lận hàng hóa phải có giấy phép, hàng cấm  
hoặc khai sai, khai khống hàng hóa thực xuất khẩu để hợp thức hóa nguyên liệu đầu  
vào của hàng hóa nhập khẩu nhằm tiêu thụ sản phẩm, nguyên liệu trong nước.  
Sáu là rủi ro trong nhập khẩu nguyên liệu để gia công, sản xuất hàng xuất  
khẩu. Rủi ro này có thể là việc hạch toán sai định mức nguyên liệu, vật tư thực tế sử  
dụng để sản xuất hàng hóa trong sổ sách kế toán; tráo đổi nguyên liệu nhập khẩu  
với nguyên liệu trong nước; lợi dụng việc gia công để thẩm lậu nguyên liệu, hàng  
hóa vào trong nước, gian lận trong hoàn thuế, không thu thuế và báo cáo quyết toán  
tài chính...  
Bảy là rủi ro trong kinh doanh tạm nhập – tái xuất: đó là việc lợi dụng hoạt  
động này để vận chuyển, buôn bán hàng hóa thuộc diện cấm sản xuất, kinh doanh  
hoặc thông qua hoạt động này để thẩm lậu hàng hóa cấm nhập khẩu, hàng nhập  
khẩu có điều kiện, hàng hóa có thuế suất cao vào nội địa Việt Nam.  
Tám là rủi ro về hàng giả, sở hữu trí tuệ. Ở nước ta hiện nay, các nguy cơ vi  
phạm về hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra khá phổ biến. Tuy  
vậy, hành lang pháp lý và các biện pháp quản lý chưa rõ ràng nên số lượng các vụ  
vi phạm bị phát hiện trong thời gian qua chưa phản ánh đúng tình hình thực tế.  
Những nguy cơ vi phạm chủ yếu như: nhập khẩu hàng nhái, hàng giả, hàng không  
đảm bảo chất lượng, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã được đăng ký tại Việt  
Nam.  
Chín là rủi ro về ma túy, tiền chất: Việt Nam được đánh giá vừa là thị trường  
trung chuyển vừa là thị trường tiêu thụ chất ma túy. Các đối tượng thường sử dụng  
thủ đoạn cất giấu ma túy trong hàng hóa hoặc khai báo sai chủng loại hàng hóa.  
Mười là rủi ro trong việc làm giả hồ sơ, chứng từ, quay vòng hồ sơ, chứng từ  
để hợp thức các lô hàng buôn lậu, gian lận thương mại. Các phương thức chủ yếu  
như: làm giả giấy phép, giấy chứng nhận kiểm tra chuyên ngành, làm giả hợp đồng,  
hóa đơn thương mại để hợp thức cho việc gian lận về trị giá hải quan; làm giả vận  
đơn, Packinglist, giấy chứng nhận xuất xứ để hợp thức nguồn gốc và luồng vận  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 114 trang yennguyen 11680 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại cục hải quan tỉnh Bình Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_cac_nhan_to_anh_huong_den_quan_ly_rui_ro_doi_voi_ha.pdf