Lo âu ở nhóm phụ nữ đến phá thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2019
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
LO ÂU Ở NHÓM PHỤ NỮ ĐẾN PHÁ THAI
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI NĂM 2019
Nguyễn Thị Ngọc Ánh và Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Viện Đào tạo YHDP &YTCC - Trường Đại học Y Hà Nội
Phụ nữ mang thai khi phải quyết định phá thai thường có những rối loạn tâm thần, trong đó lo âu là một trong
những rối loạn tâm thần hay gặp nhất. Mục tiêu nghiên cứu là mô tả đặc điểm lo âu ở phụ nữ đến phá thai tại bệnh
viện Phụ Sản Hà Nội vào năm 2019 và một số yếu tố liên quan. Số liệu nghiên cứu cắt ngang thu thập được từ
429 đối tượng cho thấy tỷ lệ phụ nữ đến phá thai có rối loạn lo âu là 50,8%. Trong đó có khoảng 15% đối tượng
có mức độ lo âu từ nặng đến rất nặng. Sự chủ động mang thai lần này, việc phá thai khi thai kỳ đã ngoài ba tháng
đầu và số ngày quyết định phá thai có liên quan với lo âu ở phụ nữ đến phá thai. Nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ
phụ nữ đến phá thai có dấu hiệu lo âu là tương đối cao và có mối liên quan đến các yếu tố gia đình và xã hội,
do đó cần có những can thiệp và tư vấn thích hợp, nhằm cải thiện sức khỏe tâm thần cho những đối tượng này.
Từ khóa: Lo âu, phụ nữ, phá thai
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Lo âu là một phản ứng cảm xúc tự nhiên của
con người, nhưng sẽ trở thành vấn đề sức khoẻ
đáng quan tâm khi gây trở ngại rõ rệt các hoạt
động thường ngày – được gọi là lo âu bệnh
lý.1 Đây là một vấn đề sức khỏe phổ biến ở Mỹ
với khoảng 18% người lớn ở quốc gia này có
rối loạn lo âu.² Các báo cáo nghiên cứu gần
đây cho thấy các vấn đề sức khỏe tâm thần
có xu hướng gia tăng. Tại Việt Nam, vào năm
2016, hiện có khoảng 30% dân số có rối loạn
tâm thần, trong phụ nữ có nguy cơ mắc các rối
loạn tâm thần như các bệnh rối loạn phân ly
(hysteria), trầm cảm, lo âu...nhiều hơn nam giới
gấp 2 lần.3,4 Theo thống kê của Tổ chức Y tế
thế giới (WHO), ước tính hàng năm có khoảng
211 triệu phụ nữ có thai, tỷ lệ phá thai nói chung
chiếm tới 25%.⁵ Phá thai ngoài việc dẫn đến
những hậu quả dễ nhận thấy về cơ quan sinh
sản của người phụ nữ, thì những rối loạn tâm
thần kéo theo cũng là một hiện tượng đáng lưu
tâm. Những phụ nữ khi đến các cơ sở y tế để
thực hiện thủ thuật phá thai, họ phải trải qua
những gánh nặng tâm lý tiêu cực về việc phải
bỏ đi đứa con trong bụng, những dằn vặt, lo âu
vấn đề về văn hóa, chuẩn mực truyền thống
liên quan đến việc phá thai cũng như những
tác động của việc phá thai đến sức khỏe sinh
sản trong tương lai.⁶ Nghiên cứu các rối loạn
tâm thần thường gặp sẽ cung cấp thông tin cho
các nhà hoạch định chính sách, các nhân viên
y tế nhằm đưa ra các chương trình tư vấn, điều
trị thích hợp giúp giảm thiểu những gánh nặng
về tinh thần mà bệnh nhân phải chịu đựng về
sau. Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về
sức khỏe tâm thần trên đối với phụ nữ phá thai,
nhưng đa phần các nghiên cứu tập trung vào
giai đoạn sau khi làm thủ thuật.7,8,9 Bên cạnh đó,
các nghiên cứu tiến hành theo dõi dọc đều chỉ
ra rằng ở ngay trước thời điểm phá thai, người
phụ nữ có nguy cơ mắc các rối loạn tâm thần
Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Thúy Hạnh, Viện Đào
tạo YHDP & YTCC - Trường Đại học Y Hà Nội
Email: [email protected]
Ngày nhận: 05/02/2019
Ngày được chấp nhận: 11/05/2020
TCNCYH 129 (5) - 2020
277
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
cao hơn bất kỳ thời điểm nào sau đó.10,11 Ở Việt
Nam, những nghiên cứu về vấn đề này còn khá
hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu này được tiến hành
với mục tiêu : mô tả đặc điểm lo âu ở phụ nữ
đến phá thai và một số yếu tố liên quan.
thủ thuật của khoa và đối tượng, mỗi ngày chỉ
phỏng vấn khoảng 4 – 5 đối tượng. Nghiên cứu
này kết hợp với nghiên cứu về bạo lực trong
nhóm phụ nữ mang thai, nên việc tính cỡ mẫu
cho mẫu cho các tỉ lệ khác nhau, và lấy cỡ mẫu
cao nhất, do vậy, thực tế nghiên cứu này đã
phỏng vấn được 429 phụ nữ, đạt cỡ mẫu cho
việc xác định tỉ lệ lo âu cho nghiên cứu này.
Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu: Phỏng
vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi để thu thập thông
tin về nhân khẩu học và đặc điểm sản khoa của
đối tượng.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
Những phụ nữ đến phá thai tại bệnh viện
phụ sản Hà Nội, có tuổi thai dưới 23 tuần, có
khả năng trả lời bộ câu hỏi và đồng ý tham gia
nghiên cứu.
Đo lường lo âu sử dụng cấu phần Lo âu
trong thang đo rút gọn Trầm cảm – Lo âu –
Stress (DASS−21).12 Công cụ gồm 7 câu hỏi
mô tả dấu hiệu/ cảm xúc của người trả lời trong
vòng 1 tuần trước thời điểm phỏng vấn. Mỗi
câu có 4 phương án lựa chọn tương ứng với 4
mức độ điểm từ “0 – Không đúng chút nào” đến
“3 – Hoàn toàn đúng”, tổng điểm sau khi nhân
đôi từ 0 – 21 điểm, được chia thành 5 mức độ
lo âu từ “Bình thường” đến “Rất nặng”.
2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.
Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến
hành tại Khoa Kế hoạch hóa Gia đình (KHHGĐ),
bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2019 đến
tháng 8/2019
Cỡ mẫu và chọn mẫu: Sử dụng công thức
tính cỡ mẫu áp dụng cho việc ước tính một tỷ
lệ trong quần thể:
3. Xử lý số liệu
-
p(1 p)
2
a
-
=
n z1
2
2
#
(f p)
Dữ liệu được nhập bằng phần mềm Epidata
3.1 và phân tích bằng phần mềm Stata 16. Sử
dụng trung bình và tỷ lệ để mô tả các biến số
nghiên cứu. Phân tích hồi quy đơn biến và đa
biến được sử dụng để xác định một số yếu tố
liên quan đến lo âu.
Trong đó:
n: là cỡ mẫu nghiên cứu
Mức ý nghĩa thống kê α = 0,05 (tương ứng
với độ tin cậy 95%).
Với độ tin cậy 95%: Z1-α/2 = 1,96 (tra từ bảng
với giá trị α được chọn)
4. Đạo đức nghiên cứu
Khoảng sai lệch mong muốn ε = 0,1.
Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng
ý của bệnh viện Phụ sản Hà Nội và khoa Kế
Hoạch Hóa Gia Đình – địa điểm thực hiện
nghiên cứu.
p = 0,49 là tỷ lệ phụ nữ đến phá thai bị lo
âu trong nghiên cứu thử (với cỡ mẫu 100 đối
tượng) đã được tiến hành trước khi nghiên cứu
này được diễn ra. Tính được cỡ mẫu là 403
người. Theo thống kê của bệnh viện, trung bình
một ngày khoa KHHGĐ có khoảng 20 phụ nữ
đến làm thủ thuật phá thai. Chọn mẫu thuận
tiện theo hệ số k = 4 – 5 tính trên số phụ nữ đến
phá thai mỗi ngày tại Khoa. Cân nhắc để việc
phỏng vấn không làm ảnh hưởng quy trình làm
Nghiên cứu đã được thông qua hội đồng
thông qua đề cương thạc sỹ YHDP của Viện
Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng
ngày 26 tháng 7 năm 2018 với tên đề tài là
“Thực trạng bạo lực do bạn tình ở phụ nữ đến
phá thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm
2019” trước khi tiến hành thu thập số liệu.
TCNCYH 129 (5) - 2020
278
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
Các thông tin về người bệnh được giữ bí mật nhằm đảm bảo các thông tin này không bị tiết
lộ. Bộ câu hỏi không có thông tin về cách thức liên lạc với đối tượng.
Đối tượng có quyền tự nguyện tham gia vào nghiên cứu sau khi được giải thích kỹ về mục đích
và nội dung nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối trả lời các câu hỏi hoặc rút khỏi
nghiên cứu. Kết quả chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
III. KẾT QUẢ
1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Bảng 1. Một số đặc điểm chung và mang thai của phụ nữ (n = 429)
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Tuổi: Trung bình = 29,7 ± 6,6 (Min: 16; Max: 49)
> 29
Tần số (n)
Tỷ lệ (%)
219
112
98
51,1
26,1
22,8
25 – 29
< 25
Người sống cùng
Với bạn tình
217
145
67
50,6
33,8
15,6
Với bạn tình và gia đình bạn tình
Không sống cùng bạn tình
Nơi ở
Nội thành Hà Nội
Ngoại thành Hà Nội
Tỉnh ngoài Hà Nội
Giới tính của con hiện tại
Chưa có con
231
144
54
53,8
33,6
12,6
123
207
99
28,7
48,2
23,1
Có ít nhất 1 con trai
Chưa có con trai
Mong muốn mang thai lần này
Ngoài ý muốn
317
73,9
26,1
Chủ động
112
Tuổi thai
≤ 12 tuần
356
73
83,0
17,0
> 12 tuần
Số ngày quyết định phá thai: 8,6 ± 8,6 (Min: 1; Max: 60); Median = 7
TCNCYH 129 (5) - 2020
279
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Lý do phá thai
Tần số (n)
Tỷ lệ (%)
Kế hoạch hoá gia đình
Sức khoẻ bà mẹ/ thai nhi
Giới tính không mong muốn
Kinh tế/ công việc
145
93
33,8
21,7
10,5
25,2
8,8
45
108
38
Sự phản đối của bạn tình/ người thân
Giới tính thai nhi
Không biết
354
19
82,5
4,4
Con trai
Con gái
56
13,1
Dự định mang thai tiếp
Không biết/ Không
Có
171
39,9
60,1
258
Kết quả bảng 1 cho thấy: tuổi trung bình của phụ nữ đến phá thai là 29,7 tuổi. Nhóm tuổi từ 29
trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất (51,1%). Phần lớn các đối tượng tham gia nghiên cứu hiện đang sống
cùng với bạn tình (50,6%) và cư trú tại nội thành Hà Nội (53,8%). Gần một nửa số đối tượng đã có
ít nhất một con trai (48,2%). Phần lớn phụ nữ phá thai ở tuổi thai từ 12 tuần trở xuống (83,0%). Một
phần ba số phụ nữ đến phá thai (33,8%) do những nguyên nhân về kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ)
như: đã đủ số con mong muốn, con còn nhỏ nên chưa muốn mang thai….
2. Đặc điểm lo âu của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 1. Tỷ lệ và mức độ lo âu ở phụ nữ đến phá thai
Biểu đồ 1 cho thấy có 218 đối tượng (chiếm 50,8%) trong tổng số phụ nữ bị lo âu từ nhẹ đến rất
nặng. Đặc biệt, có đến 63 phụ nữ (14,6%) là lo âu nặng hoặc rất nặng.
3. Một số yếu tố liên quan đến lo âu của đối tượng nghiên cứu
TCNCYH 129 (5) - 2020
280
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
Bảng 2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến lo âu ở đối tượng nghiên cứu
Phân tích đơn biến
Không lo âu
Phân tích đa biến
aOR (95%CI)
Các yếu tố liên quan
Lo âu
n (%)
OR (95% CI)
n (%)
Nhóm tuổi (n = 429)
Trên 29 tuổi
97(44,3)
53(47,3)
61(62,2)
122(55,7)
59(52,7)
37(37,8)
1
1
25 – 29 tuổi
1,1 (0,7–1,8)
2,1 (1,3 – 3,4)
0,8 (0,4 − 1,5)
0,9 (0,4 – 2,1)
Dưới 25 tuổi
Người sống cùng
Với bạn tình
96(44,2)
69(47,6)
46(68,7)
121(55,8)
76 (52,4)
21 (31,3)
1
1
Với bạn tình và gia đình
bạn tình
1,2 (0,7 – 1,7)
2,8 (1,5 – 5)
1,3 (0,8 – 2,1)
1,5 (0,6 – 3,3)
Không cùng bạn tình
Nơi ở (n = 429)
Nội thành Hà Nội
Ngoại thành Hà Nội
Tỉnh ngoài Hà Nội
Giới tính con
111(48,1)
65(45,1)
35(64,8)
120(51,9)
79(54,9)
19(35,2)
1
1
0,9 (0,6 – 1,4)
2,0 (1,1 – 3,7)
0,8 (0,5 – 1,4)
1,1 (0,5 – 2,3)
Có ít nhất 1 con trai
Chưa có con
77 (37,2)
76 (61,8)
58 (58,6)
130(62,8)
47 (38,2)
41 (41,4)
1
1
2,7 (1,7 – 4,4)
2,4 (1,4 – 3,9)
1,9 (0,9 – 4,1)
1,3 (0,7 – 2,6)
Chưa có con trai
Mong muốn có thai
Ngoài ý muốn
140(44,2)
140(44,2)
177 (55,8)
177 (55,8)
1
1
Chủ động
2,2 (1,4 – 3,4)
1,9 (1,1 – 4)
Tuổi thai (n = 429)
≤ 12 tuần
204(57,3)
14(19,2)
152(42,7)
59(80,8)
1
1
> 12 tuần
5,6 (3 – 10,8)
2,3 (1,1 – 5,1)
Giới tính thai nhi (n = 429)
Không biết
149(42,1)
15(78,9)
47(83,9)
205(47,9)
4(21,1)
1
1
Con trai
5,2 (1,7 – 16,1)
7,2 (3,3 – 15,6)
2 (0,5 – 7,8)
2,6 (0,6 – 11,7)
Con gái
9(16,1)
Nguyên nhân phá thai (n = 429)
KHHGĐ
45(31,0)
44(47,31)
100(69,0)
49(52,7)
1
1
Lý do về sức khỏe
2,0 (1,2 – 3,4)
1,2 (0,5 – 2,7)
TCNCYH 129 (5) - 2020
281
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
Phân tích đơn biến
Không lo âu
Phân tích đa biến
aOR (95%CI)
Các yếu tố liên quan
Lo âu
n (%)
OR (95% CI)
n (%)
Nguyên nhân phá thai (n = 429)
Giới tính thai nhi
38 (84,4)
56 (51,8)
7 (15,6)
12,1 (4,5–32,5)
2,4 (1,4 – 4,1)
1,4 (0,2 – 7,8)
1,3 (0,6 – 2,6)
Kinh tế/công việc
52 (48,2)
Phản đối người thân/bạn
tình
28 (73,7)
10 (26,3)
6,2 (2,6 – 14,7)
2,4 (0,8 – 7,1)
Dự định mang thai
Không biết/Không
Có
63 (36,8)
108 (63,2)
110 (42,6)
1
1
148 (57,4)
2,3 (1,5 – 3,5)
0,8 (0,4 – 1,5)
Số ngày quyết định
1 tuần
52 (27,8)
135 (72,2)
83 (34,3)
1
1
Trên 1 tuần
159 (65,7)
5,0 (3,2 – 7,8)
4,5 (2,8 – 7,4)
Khi phân tích trong mô hình đơn biến ở
bảng 2 cho thấy, những phụ nữ dưới 25 tuổi có
nguy cơ bị lo âu cao gấp 2,1 lần so với nhóm
trên 29 tuổi. Những phụ nữ không sống cùng
với chồng/ người yêu thì có nguy cơ mắc lo
âu cao gấp 2,8 lần so với những phụ nữ đang
sống cùng chồng/ người yêu. Những phụ nữ
hiện đang sống tỉnh ngoài hoặc ngoại ô Hà Nội
có nguy cơ bị lo âu cao gấp 2 lần so với nhóm
phụ nữ sống ở Nội thành Hà Nội. Những người
chưa có con và chưa có con trai thì có nguy
cơ mắc lo âu gấp 2,7 và 2,4 lần so với những
người đã có ít nhất 1 con trai. Phụ nữ đến phá
thai lần này do chủ động mang thai thì có nguy
cơ mắc lo âu cao hơn 2,2 lần so với những
người mang thai ngoài ý muốn. Những phụ nữ
đã biết giới tính thai nhi là con trai hoặc con gái
thì có nguy cơ bị lo âu cao gấp 5,2 và 7,2 lần
so với nhóm phụ nữ chưa biết giới tính thai nhi.
Những người còn có dự định mang thai trong
tương lai thì có khả năng mắc lo âu cao hơn
những người chưa biết hoặc chưa có dự định
2,3 lần.
biến thiên của lo âu. Kết quả chỉ ra sự chủ động
mang thai lần này, việc phá thai muộn ngoài ba
tháng đầu và số ngày quyết định phá thai có
mối liên quan với tình trạng lo âu của người phụ
nữ đến phá thai.
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu đã tiến hành trên 429 người
tham gia là những phụ nữ đến phá thai tại bệnh
viện Phụ Sản Hà Nội cho thấy tỷ lệ phụ nữ đến
phá thai có dấu hiệu lo âu ở mức từ nhẹ đến rất
nặng là 50,8%. Tỷ lệ này cao hơn so với một
bài báo tổng kết các tài liệu từ sau năm 1990
về kinh nghiệm tâm lý và các mối quan hệ tình
dục trước và sau phá thai, khoảng thời gian sau
khi phát hiện ra thai nghén và trước khi phá
thai, các tác giả đã nhận thấy một tỷ lệ tương
đồng với 40 ‒ 45% phụ nữ trải qua mức độ lo
lắng đáng kể.13 Kết quả này cũng cao hơn tỷ lệ
lo âu của một nghiên cứu tại Mỹ vào năm 2014
cũng dùng thang đo DASS là công cụ đo lường
là 39,3%.⁶ Trong khi đó, một nghiên cứu về mối
liên quan giữa phá thai, rối loạn tâm thần và
hành vi tự tử tại Mỹ vào năm 2010 lại chỉ ra một
tỷ lệ lo âu sau phá thai cao hơn với 51,8%.10
Mô hình đa biến giải thích cho 20,27% sự
TCNCYH 129 (5) - 2020
282
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
Sở dĩ có sự khác biệt về tỷ lệ lo âu giữa các
nghiên cứu là do: thứ nhất, các nghiên cứu sử
dụng nhiều thang đo lo âu khác nhau; thứ hai,
các nghiên cứu thực hiện trên các đối tượng
đến phá thai ở các tuần thai khác nhau; thứ ba,
tùy vào những giai đoạn khác nhau của thai kỳ
và kết cục của thai kỳ thì tỷ lệ lo âu của những
người phụ nữ cũng khác nhau. Bởi vậy sẽ có
những khác biệt về các đặc điểm của đối tượng
so với nghiên cứu của chúng tôi.
bỏ thai nhi. Khi mà nhóm có số ngày quyết đinh
trên 7 ngày thì có nguy cơ lo âu cao gấp 4,5 lần
so với những người chỉ mất 1 tuần cho quyết
định phá thai. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy,
quá trình quyết định từ bỏ thai nhi diễn ra trong
một thời gian dài và thay đổi không ngừng, chịu
tác động của nhiều yếu tố như: tâm lý, chuẩn
mực và giá trị truyền thống của một nền văn
hóa.14 Thời gian quyết định phá thai càng dài,
đối tượng càng cần suy nghĩ đến nhiều lý do,
mức độ ảnh hưởng về việc phá thai mang đến,
điều này sẽ khiến bệnh nhân cảm thấy suy sụp
tinh thần. Đây cũng là một yếu tố cần quan tâm
để có sự giúp đỡ kịp thời về mặt tâm lý cho
những đối tượng này.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nếu thai lần
này của phụ nữ là chủ động, thì những phụ
nữ này có nguy cơ mắc lo âu cao hơn gấp đôi
(2,2 lần) so với những người không có mong
muốn mang thai. Đa số người phụ nữ đến phá
thai đều cần một khoảng thời gian nhất định để
quyết định có từ bỏ thai nhi hay không. Việc
khó khăn khi đưa ra quyết định tỷ lệ thuận với
việc kỳ vọng sinh con. Kết quả trong nghiên
cứu cũng chỉ ra, nếu người phụ nữ lần này
chủ động mang thai thì khả năng còn dự định
mang thai trong tương lai cao gấp 30 lần so với
những người phụ nữ có thai lần này là ngoài ý
muốn. Như vậy có thể thấy, ngoài việc chịu áp
lực từ những định kiến của việc phá thai mang
lại, người phụ nữ còn lo lắng cả đến những hậu
quả của phá thai đối với sức khoẻ nói chung
và khả năng sinh sản sau này nói riêng. Điều
này đỏi hỏi cần có những biện pháp tư vấn,
can thiệp thích hợp nhằm cải thiện sức khoẻ
tinh thần, đồng thời giúp nâng cao kiến thức về
chăm sóc sức khoẻ sinh sản sau phá thai.
Nhóm thai phụ biết giới tính thai nhi là con
gái hoặc con trai có nguy cơ có rối loạn lo âu
cao gấp 7,2 và 5,2 lần so với nhóm chưa biết
giới tính thai nhi. Theo cuộc điều tra về dân số
và nhà ở giữa kỳ vào năm 2014, đồng bằng
sông Hồng là vùng có tỷ số giới tính khi sinh
cao nhất trên toàn quốc với 118 trẻ trai/100 trẻ
gái (toàn quốc: 112,2 trẻ trai/ 100 trẻ gái). Đây
cũng chính là địa phương mà các đối tượng
trong nghiên cứu sinh sống.15 Như vậy, có thể
thấy, kết quả của nghiên cứu cũng phản ánh
được một phần tình trạng bất bình đẳng giới
tính và quan niệm trọng nam khinh nữ đã ăn
sâu vào tiềm thức của người dân. Bên cạnh đó,
những đối tượng phá thai vì giới tính thai nhi
không mong muốn còn có khả năng phá thai
lặp lại do tiếp tục phải lựa chọn giới tính thai
nhi.16,17 Tuy nhiên, khi đưa vào mô hình phân
tích đa biến, yếu tố giới tính thai nhi lại không
thể hiện được nguy cơ với tình trạng lo âu của
đối tượng.
Nhóm phụ nữ có tuổi thai trên 12 tuần có
nguy cơ bị lo âu cao hơn 2,3 lần so với những
người có tuổi thai từ 12 tuần trở xuống. Điều này
có thể lý giải bởi việc phá thai khi ngoài 3 tháng
đầu sẽ kéo theo nhiều tai biến và biến chứng
sản khoa hơn, dẫn đến những ảnh hưởng tiêu
cực đến cảm xúc của người phụ nữ. Bên cạnh
đó, việc phá thai muộn cũng tỷ lệ thuận với số
ngày mà người phụ nữ có để quyết đinh phá
Tương tự, một số các yếu tố khác khi phân
tích đơn biến có xuất hiện mối tương quan với
rối loạn lo âu nhưng khi đưa vào mô hình hồi
quy đa biến lại không có mối liên quan như:
nhóm tuổi, người sống cùng, nơi ở hiện tại, giới
TCNCYH 129 (5) - 2020
283
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
tính con, nguyên nhân phá thai và dự định sinh
con trong tương lai. Điều này đặt ra một câu
hỏi về sự yếu tố liên quan thực sự đến rối loạn
lo âu ở phụ nữ phá thai. Cần có những nghiên
cứu sâu hơn và với cỡ mẫu lớn hơn để có khả
năng trả lời chính xác.
là cao so với nhiều nhóm phụ nữ khác (50,8%).
Các yếu tố có khả năng là nguy cơ làm cho phụ
nữ bị lo âu hơn bao gồm: có sự chủ động mang
thai lần này, tuổi thai lớn (ngoài 3 tháng đầu),
số ngày quyết định phá thai trên 7 ngày. Những
phát hiện của nghiên cứu này nhấn mạnh sự
cần thiết phải sàng lọc lo âu, cung cấp tư vấn
cho phụ nữ trước khi phá thai hợp lý, tìm hiểu
các yếu tố nguy cơ khi phụ nữ đến phá thai tại
các cơ sở chăm sóc thai nghén để cải thiện sức
khỏe của họ cũng như tránh được các hậu quả
đáng tiếc.
Nghiên cứu cũng có một số hạn chế cần lưu
ý. Thứ nhất, nghiên cứu tiến hành trên những
đối tượng là phụ nữ đến phá thai tại bệnh viện
Phụ Sản Hà Nội. Vì vậy, việc ngoại suy ra các
quần thể khác cần được thận trọng. Thứ hai,
nghiên cứu này có tính chất tâm lý hành vi,
do đó cần có thêm các nghiên cứu áp dụng
phương pháp nghiên cứu định tính để tìm hiểu
sâu hơn các vấn đề về nguyên nhân của tình
trạng lo âu. Vấn đề các đối tượng có rối loạn
lo âu này là do tác động của quá trình ra quyết
định từ bỏ thai nhi, sức khỏe sinh sản của bản
thân hay e ngại về biến chứng y khoa trong và
sau quá trình làm thủ thuật có thể là những câu
hỏi cần được đề cập tại các nghiên cứu định
tính, giúp cho việc can thiệp được hiệu quả.
Thứ ba, nghiên cứu sử dụng cấu phần Lo âu
trong thang đo trầm cảm – lo âu – stress (DASS
– 21) để đo lường biến đầu ra của nghiên cứu,
việc đánh giá các rối loạn tâm thần là dựa trên
ý kiến chủ quan của đối tượng nghiên cứu chứ
không phải đánh giá lâm sàng. Do vậy, các kết
luận của nghiên cứu này, chỉ sử dụng khái niệm
biểu hiện lo âu và tìm các yếu tố liên quan đến
những biểu hiện này như là nguy cơ cho các
rối loạn lo âu thực sự và có ý nghĩa khi sàng
lọc cộng đồng, định hướng việc đề xuất những
can thiệp tư vấn, hỗ trợ mạng lưới xã hội hoặc
tới các phòng khám chuyên khoa tâm thần để
được chẩn đoán xác định và điều trị bằng dùng
thuốc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lương Hữu Thông. Sức Khỏe Tâm Thần
và Các Rối Loạn Tâm Thần Thường Gặp. Nhà
xuất bản Lao động; 2005.
2. Depression | Anxiety and Depression
understanding-anxiety/depression. Accessed
October 8, 2018.
3. Hanoi Department of Health. 30% of
Vietnam’s population has mental disorders.
hanoi.gov.vn/vi/news/tin-tuc-chung/30-dan-
so-viet-nam-co-roi-loan-tam-than-1590.html.
Published April 5, 2017. Accessed January 29,
2018.
4. Women and Anxiety | Anxiety and
Depression Association of America, ADAA.
Accessed September 23, 2018.
5. Not Every Pregnancy is Welcome. WHO.
index3.html. Accessed April 1, 2018.
6. Steinberg JR, McCulloch CE, Adler NE.
Abortion and Mental Health: Findings From
the National Comorbidity Survey-Replication.
Obstet Gynecol. 2014; 123(201): 263-270.
7. Fergusson DM, John Horwood L, Ridder
EM. Abortion in young women and subsequent
V. KẾT LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ lo
âu của những phụ nữ đến phá thai tại bệnh viện
TCNCYH 129 (5) - 2020
284
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
mental health. Journal of Child Psychology and
Psychiatry. 2006; 47(1): 16-24.
the Beck Depression and Anxiety Inventories.
Behaviour Research and Therapy. 1995; 33(3):
335-343.
8. Taft AJ, Watson LF. Depression and
termination of pregnancy (induced abortion) in
a national cohort of young Australian women:
the confounding effect of women’s experience
of violence. BMC Public Health. 2008; 8:75.
9. Wallin Lundell I, Georgsson Öhman S,
Frans Ö, et al. Posttraumatic stress among
women after induced abortion: a Swedish multi-
centre cohort study. BMC Womens Health.
2013;13:52.
13. Bradshaw Z, Slade P. The effects of
induced abortion on emotional experiences and
relationships: A critical review of the literature.
Clinical Psychology Review. 2003; 23(7): 929-
958.
14. Tổng cục Thống kê Việt Nam, Quỹ phát
triển Mục tiêu thiên niên kỷ, Cơ quan phát triển
và hợp tác quốc tế Tây Ban Nha. “Chịu nhịn là
chết đấy” - Kết quả từ Nghiên cứu quốc gia về
bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam. 2010.
15. Bộ Kế Hoạch Đầu Tư, Tổng cục Thống
kê. Điều Tra Dân Số và Nhà ở Giữa Kỳ Thời
Điểm 1/4/2014: Các Kết Quả Chủ Yếu. 2015.
16. Vinh NT, Tuan PC. Factors influencing
unintended pregnancy and abortion among
unmarried youth in Vietnam: A literature review.
Tạp chí Y tế Công cộng. 2015; 3(2):3-16.
17. UNFPA. Sự ưa thích con trai ở Việt
Nam: Ước muốn thâm căn, công nghệ tiên tiến.
2011;(Báo cáo nghiên cứu định tính nhằm tìm
hiểu sâu hơn về tình trạng tăng tỷ số giới tính
khi sinh ở Việt Nam): 60.
10. Mota NP, Burnett M, Sareen J.
Associations
between
abortion,
mental
disorders, and suicidal behaviour in a nationally
representative sample. Can J Psychiatry. 2010;
55(4): 239-247.
11. Munk-Olsen T, Laursen TM, Pedersen
CB, Lidegaard Ø, Mortensen PB. Induced First-
Trimester Abortion and Risk of Mental Disorder.
New England Journal of Medicine. 2011; 364(4):
332-339.
12. Lovibond PF, Lovibond SH. The structure
of negative emotional states: Comparison of the
Depression Anxiety Stress Scales (DASS) with
Summary
ANXIETY AMONG WOMEN BEFORE INDUCED ABORTION IN
HANOI OBSTETRICS AND GYNECOLOGY HOSPITAL, 2019
Pregnant women who decided to have an abortion often had mental disorders, of which anxiety is
one of the most common disorders. This study aimed at exploring the characteristics of anxiety among
women prior to abortion at the Hanoi Obstetrics and Gynecology Hospital in 2019 and associated
related factors.Across-sectional study by interviewing 429 women showed that the rate of women with
anxiety was significant at 50,8%.About 15% of the study sample had an anxiety condition from severe
to extremely severe. Intention of this pregnancy, late abortion and lenght time of making decision were
significantly associated with anxiety of women. The study found that the proportion of women who had
abortion with anxiety was relatively high and was related with familial and social factors. Therefore,
it is necessary to have interventions to improve mental health before women undergo an abortion.
Key words: Anxiety, women, induced abortion
TCNCYH 129 (5) - 2020
285
Bạn đang xem tài liệu "Lo âu ở nhóm phụ nữ đến phá thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
lo_au_o_nhom_phu_nu_den_pha_thai_tai_benh_vien_phu_san_ha_no.pdf

