Lo âu ở nhóm phụ nữ đến phá thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2019

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
LO ÂU Ở NHÓM PHỤ NỮ ĐẾN PHÁ THAI  
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI NĂM 2019  
Nguyễn Thị Ngọc Ánh và Nguyễn Thị Thúy Hạnh  
Viện Đào tạo YHDP &YTCC - Trường Đại học Y Hà Nội  
Phụ nữ mang thai khi phải quyết định phá thai thường có những rối loạn tâm thần, trong đó lo âu là một trong  
những rối loạn tâm thần hay gặp nhất. Mục tiêu nghiên cứu là mô tả đặc điểm lo âu ở phụ nữ đến phá thai tại bệnh  
viện Phụ Sản Hà Nội vào năm 2019 và một số yếu tố liên quan. Số liệu nghiên cứu cắt ngang thu thập được từ  
429 đối tượng cho thấy tỷ lệ phụ nữ đến phá thai có rối loạn lo âu là 50,8%. Trong đó có khoảng 15% đối tượng  
có mức độ lo âu từ nặng đến rất nặng. Sự chủ động mang thai lần này, việc phá thai khi thai kỳ đã ngoài ba tháng  
đầu và số ngày quyết định phá thai có liên quan với lo âu ở phụ nữ đến phá thai. Nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ  
phụ nữ đến phá thai có dấu hiệu lo âu là tương đối cao và có mối liên quan đến các yếu tố gia đình và xã hội,  
do đó cần có những can thiệp và tư vấn thích hợp, nhằm cải thiện sức khỏe tâm thần cho những đối tượng này.  
Từ khóa: Lo âu, phụ nữ, phá thai  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Lo âu là một phản ứng cảm xúc tự nhiên của  
con người, nhưng sẽ trở thành vấn đề sức khoẻ  
đáng quan tâm khi gây trở ngại rõ rệt các hoạt  
động thường ngày – được gọi là lo âu bệnh  
lý.1 Đây là một vấn đề sức khỏe phổ biến ở Mỹ  
với khoảng 18% người lớn ở quốc gia này có  
rối loạn lo âu.² Các báo cáo nghiên cứu gần  
đây cho thấy các vấn đề sức khỏe tâm thần  
có xu hướng gia tăng. Tại Việt Nam, vào năm  
2016, hiện có khoảng 30% dân số có rối loạn  
tâm thần, trong phụ nữ có nguy cơ mắc các rối  
loạn tâm thần như các bệnh rối loạn phân ly  
(hysteria), trầm cảm, lo âu...nhiều hơn nam giới  
gấp 2 lần.3,4 Theo thống kê của Tổ chức Y tế  
thế giới (WHO), ước tính hàng năm có khoảng  
211 triệu phụ nữ có thai, tỷ lệ phá thai nói chung  
chiếm tới 25%.⁵ Phá thai ngoài việc dẫn đến  
những hậu quả dễ nhận thấy về cơ quan sinh  
sản của người phụ nữ, thì những rối loạn tâm  
thần kéo theo cũng là một hiện tượng đáng lưu  
tâm. Những phụ nữ khi đến các cơ sở y tế để  
thực hiện thủ thuật phá thai, họ phải trải qua  
những gánh nặng tâm lý tiêu cực về việc phải  
bỏ đi đứa con trong bụng, những dằn vặt, lo âu  
vấn đề về văn hóa, chuẩn mực truyền thống  
liên quan đến việc phá thai cũng như những  
tác động của việc phá thai đến sức khỏe sinh  
sản trong tương lai.⁶ Nghiên cứu các rối loạn  
tâm thần thường gặp sẽ cung cấp thông tin cho  
các nhà hoạch định chính sách, các nhân viên  
y tế nhằm đưa ra các chương trình tư vấn, điều  
trị thích hợp giúp giảm thiểu những gánh nặng  
về tinh thần mà bệnh nhân phải chịu đựng về  
sau. Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về  
sức khỏe tâm thần trên đối với phụ nữ phá thai,  
nhưng đa phần các nghiên cứu tập trung vào  
giai đoạn sau khi làm thủ thuật.7,8,9 Bên cạnh đó,  
các nghiên cứu tiến hành theo dõi dọc đều chỉ  
ra rằng ở ngay trước thời điểm phá thai, người  
phụ nữ có nguy cơ mắc các rối loạn tâm thần  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Thúy Hạnh, Viện Đào  
tạo YHDP & YTCC - Trường Đại học Y Hà Nội  
Ngày nhận: 05/02/2019  
Ngày được chấp nhận: 11/05/2020  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
277  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
cao hơn bất kỳ thời điểm nào sau đó.10,11 Ở Việt  
Nam, những nghiên cứu về vấn đề này còn khá  
hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu này được tiến hành  
với mục tiêu : mô tả đặc điểm lo âu ở phụ nữ  
đến phá thai và một số yếu tố liên quan.  
thủ thuật của khoa và đối tượng, mỗi ngày chỉ  
phỏng vấn khoảng 4 – 5 đối tượng. Nghiên cứu  
này kết hợp với nghiên cứu về bạo lực trong  
nhóm phụ nữ mang thai, nên việc tính cỡ mẫu  
cho mẫu cho các tỉ lệ khác nhau, và lấy cỡ mẫu  
cao nhất, do vậy, thực tế nghiên cứu này đã  
phỏng vấn được 429 phụ nữ, đạt cỡ mẫu cho  
việc xác định tỉ lệ lo âu cho nghiên cứu này.  
Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu: Phỏng  
vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi để thu thập thông  
tin về nhân khẩu học và đặc điểm sản khoa của  
đối tượng.  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
1. Đối tượng  
Những phụ nữ đến phá thai tại bệnh viện  
phụ sản Hà Nội, có tuổi thai dưới 23 tuần, có  
khả năng trả lời bộ câu hỏi và đồng ý tham gia  
nghiên cứu.  
Đo lường lo âu sử dụng cấu phần Lo âu  
trong thang đo rút gọn Trầm cảm – Lo âu –  
Stress (DASS−21).12 Công cụ gồm 7 câu hỏi  
mô tả dấu hiệu/ cảm xúc của người trả lời trong  
vòng 1 tuần trước thời điểm phỏng vấn. Mỗi  
câu có 4 phương án lựa chọn tương ứng với 4  
mức độ điểm từ “0 – Không đúng chút nào” đến  
“3 – Hoàn toàn đúng”, tổng điểm sau khi nhân  
đôi từ 0 – 21 điểm, được chia thành 5 mức độ  
lo âu từ “Bình thường” đến “Rất nặng”.  
2. Phương pháp  
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.  
Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến  
hành tại Khoa Kế hoạch hóa Gia đình (KHHGĐ),  
bệnh viện Phụ sản Hà Nội.  
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2019 đến  
tháng 8/2019  
Cỡ mẫu và chọn mẫu: Sử dụng công thức  
tính cỡ mẫu áp dụng cho việc ước tính một tỷ  
lệ trong quần thể:  
3. Xử lý số liệu  
-
p(1 p)  
2
a
-
=
n z1  
2
2
#
(f p)  
Dữ liệu được nhập bằng phần mềm Epidata  
3.1 và phân tích bằng phần mềm Stata 16. Sử  
dụng trung bình và tỷ lệ để mô tả các biến số  
nghiên cứu. Phân tích hồi quy đơn biến và đa  
biến được sử dụng để xác định một số yếu tố  
liên quan đến lo âu.  
Trong đó:  
n: là cỡ mẫu nghiên cứu  
Mức ý nghĩa thống kê α = 0,05 (tương ứng  
với độ tin cậy 95%).  
Với độ tin cậy 95%: Z1-α/2 = 1,96 (tra từ bảng  
với giá trị α được chọn)  
4. Đạo đức nghiên cứu  
Khoảng sai lệch mong muốn ε = 0,1.  
Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng  
ý của bệnh viện Phụ sản Hà Nội và khoa Kế  
Hoạch Hóa Gia Đình – địa điểm thực hiện  
nghiên cứu.  
p = 0,49 là tỷ lệ phụ nữ đến phá thai bị lo  
âu trong nghiên cứu thử (với cỡ mẫu 100 đối  
tượng) đã được tiến hành trước khi nghiên cứu  
này được diễn ra. Tính được cỡ mẫu là 403  
người. Theo thống kê của bệnh viện, trung bình  
một ngày khoa KHHGĐ có khoảng 20 phụ nữ  
đến làm thủ thuật phá thai. Chọn mẫu thuận  
tiện theo hệ số k = 4 – 5 tính trên số phụ nữ đến  
phá thai mỗi ngày tại Khoa. Cân nhắc để việc  
phỏng vấn không làm ảnh hưởng quy trình làm  
Nghiên cứu đã được thông qua hội đồng  
thông qua đề cương thạc sỹ YHDP của Viện  
Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng  
ngày 26 tháng 7 năm 2018 với tên đề tài là  
“Thực trạng bạo lực do bạn tình ở phụ nữ đến  
phá thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm  
2019” trước khi tiến hành thu thập số liệu.  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
278  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Các thông tin về người bệnh được giữ bí mật nhằm đảm bảo các thông tin này không bị tiết  
lộ. Bộ câu hỏi không có thông tin về cách thức liên lạc với đối tượng.  
Đối tượng có quyền tự nguyện tham gia vào nghiên cứu sau khi được giải thích kỹ về mục đích  
và nội dung nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối trả lời các câu hỏi hoặc rút khỏi  
nghiên cứu. Kết quả chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu.  
III. KẾT QUẢ  
1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu  
Bảng 1. Một số đặc điểm chung và mang thai của phụ nữ (n = 429)  
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu  
Tuổi: Trung bình = 29,7 ± 6,6 (Min: 16; Max: 49)  
> 29  
Tần số (n)  
Tỷ lệ (%)  
219  
112  
98  
51,1  
26,1  
22,8  
25 – 29  
< 25  
Người sống cùng  
Với bạn tình  
217  
145  
67  
50,6  
33,8  
15,6  
Với bạn tình và gia đình bạn tình  
Không sống cùng bạn tình  
Nơi ở  
Nội thành Hà Nội  
Ngoại thành Hà Nội  
Tỉnh ngoài Hà Nội  
Giới tính của con hiện tại  
Chưa có con  
231  
144  
54  
53,8  
33,6  
12,6  
123  
207  
99  
28,7  
48,2  
23,1  
Có ít nhất 1 con trai  
Chưa có con trai  
Mong muốn mang thai lần này  
Ngoài ý muốn  
317  
73,9  
26,1  
Chủ động  
112  
Tuổi thai  
≤ 12 tuần  
356  
73  
83,0  
17,0  
> 12 tuần  
Số ngày quyết định phá thai: 8,6 ± 8,6 (Min: 1; Max: 60); Median = 7  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
279  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu  
Lý do phá thai  
Tần số (n)  
Tỷ lệ (%)  
Kế hoạch hoá gia đình  
Sức khoẻ bà mẹ/ thai nhi  
Giới tính không mong muốn  
Kinh tế/ công việc  
145  
93  
33,8  
21,7  
10,5  
25,2  
8,8  
45  
108  
38  
Sự phản đối của bạn tình/ người thân  
Giới tính thai nhi  
Không biết  
354  
19  
82,5  
4,4  
Con trai  
Con gái  
56  
13,1  
Dự định mang thai tiếp  
Không biết/ Không  
Có  
171  
39,9  
60,1  
258  
Kết quả bảng 1 cho thấy: tuổi trung bình của phụ nữ đến phá thai là 29,7 tuổi. Nhóm tuổi từ 29  
trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất (51,1%). Phần lớn các đối tượng tham gia nghiên cứu hiện đang sống  
cùng với bạn tình (50,6%) và cư trú tại nội thành Hà Nội (53,8%). Gần một nửa số đối tượng đã có  
ít nhất một con trai (48,2%). Phần lớn phụ nữ phá thai ở tuổi thai từ 12 tuần trở xuống (83,0%). Một  
phần ba số phụ nữ đến phá thai (33,8%) do những nguyên nhân về kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ)  
như: đã đủ số con mong muốn, con còn nhỏ nên chưa muốn mang thai….  
2. Đặc điểm lo âu của đối tượng nghiên cứu  
Biểu đồ 1. Tỷ lệ và mức độ lo âu ở phụ nữ đến phá thai  
Biểu đồ 1 cho thấy có 218 đối tượng (chiếm 50,8%) trong tổng số phụ nữ bị lo âu từ nhẹ đến rất  
nặng. Đặc biệt, có đến 63 phụ nữ (14,6%) là lo âu nặng hoặc rất nặng.  
3. Một số yếu tố liên quan đến lo âu của đối tượng nghiên cứu  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
280  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Bảng 2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến lo âu ở đối tượng nghiên cứu  
Phân tích đơn biến  
Không lo âu  
Phân tích đa biến  
aOR (95%CI)  
Các yếu tố liên quan  
Lo âu  
n (%)  
OR (95% CI)  
n (%)  
Nhóm tuổi (n = 429)  
Trên 29 tuổi  
97(44,3)  
53(47,3)  
61(62,2)  
122(55,7)  
59(52,7)  
37(37,8)  
1
1
25 – 29 tuổi  
1,1 (0,7–1,8)  
2,1 (1,3 – 3,4)  
0,8 (0,4 − 1,5)  
0,9 (0,4 – 2,1)  
Dưới 25 tuổi  
Người sống cùng  
Với bạn tình  
96(44,2)  
69(47,6)  
46(68,7)  
121(55,8)  
76 (52,4)  
21 (31,3)  
1
1
Với bạn tình và gia đình  
bạn tình  
1,2 (0,7 – 1,7)  
2,8 (1,5 – 5)  
1,3 (0,8 – 2,1)  
1,5 (0,6 – 3,3)  
Không cùng bạn tình  
Nơi ở (n = 429)  
Nội thành Hà Nội  
Ngoại thành Hà Nội  
Tỉnh ngoài Hà Nội  
Giới tính con  
111(48,1)  
65(45,1)  
35(64,8)  
120(51,9)  
79(54,9)  
19(35,2)  
1
1
0,9 (0,6 – 1,4)  
2,0 (1,1 – 3,7)  
0,8 (0,5 – 1,4)  
1,1 (0,5 – 2,3)  
Có ít nhất 1 con trai  
Chưa có con  
77 (37,2)  
76 (61,8)  
58 (58,6)  
130(62,8)  
47 (38,2)  
41 (41,4)  
1
1
2,7 (1,7 – 4,4)  
2,4 (1,4 – 3,9)  
1,9 (0,9 – 4,1)  
1,3 (0,7 – 2,6)  
Chưa có con trai  
Mong muốn có thai  
Ngoài ý muốn  
140(44,2)  
140(44,2)  
177 (55,8)  
177 (55,8)  
1
1
Chủ động  
2,2 (1,4 – 3,4)  
1,9 (1,1 – 4)  
Tuổi thai (n = 429)  
≤ 12 tuần  
204(57,3)  
14(19,2)  
152(42,7)  
59(80,8)  
1
1
> 12 tuần  
5,6 (3 – 10,8)  
2,3 (1,1 – 5,1)  
Giới tính thai nhi (n = 429)  
Không biết  
149(42,1)  
15(78,9)  
47(83,9)  
205(47,9)  
4(21,1)  
1
1
Con trai  
5,2 (1,7 – 16,1)  
7,2 (3,3 – 15,6)  
2 (0,5 – 7,8)  
2,6 (0,6 – 11,7)  
Con gái  
9(16,1)  
Nguyên nhân phá thai (n = 429)  
KHHGĐ  
45(31,0)  
44(47,31)  
100(69,0)  
49(52,7)  
1
1
Lý do về sức khỏe  
2,0 (1,2 – 3,4)  
1,2 (0,5 – 2,7)  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
281  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Phân tích đơn biến  
Không lo âu  
Phân tích đa biến  
aOR (95%CI)  
Các yếu tố liên quan  
Lo âu  
n (%)  
OR (95% CI)  
n (%)  
Nguyên nhân phá thai (n = 429)  
Giới tính thai nhi  
38 (84,4)  
56 (51,8)  
7 (15,6)  
12,1 (4,5–32,5)  
2,4 (1,4 – 4,1)  
1,4 (0,2 – 7,8)  
1,3 (0,6 – 2,6)  
Kinh tế/công việc  
52 (48,2)  
Phản đối người thân/bạn  
tình  
28 (73,7)  
10 (26,3)  
6,2 (2,6 – 14,7)  
2,4 (0,8 – 7,1)  
Dự định mang thai  
Không biết/Không  
Có  
63 (36,8)  
108 (63,2)  
110 (42,6)  
1
1
148 (57,4)  
2,3 (1,5 – 3,5)  
0,8 (0,4 – 1,5)  
Số ngày quyết định  
1 tuần  
52 (27,8)  
135 (72,2)  
83 (34,3)  
1
1
Trên 1 tuần  
159 (65,7)  
5,0 (3,2 – 7,8)  
4,5 (2,8 – 7,4)  
Khi phân tích trong mô hình đơn biến ở  
bảng 2 cho thấy, những phụ nữ dưới 25 tuổi có  
nguy cơ bị lo âu cao gấp 2,1 lần so với nhóm  
trên 29 tuổi. Những phụ nữ không sống cùng  
với chồng/ người yêu thì có nguy cơ mắc lo  
âu cao gấp 2,8 lần so với những phụ nữ đang  
sống cùng chồng/ người yêu. Những phụ nữ  
hiện đang sống tỉnh ngoài hoặc ngoại ô Hà Nội  
có nguy cơ bị lo âu cao gấp 2 lần so với nhóm  
phụ nữ sống ở Nội thành Hà Nội. Những người  
chưa có con và chưa có con trai thì có nguy  
cơ mắc lo âu gấp 2,7 và 2,4 lần so với những  
người đã có ít nhất 1 con trai. Phụ nữ đến phá  
thai lần này do chủ động mang thai thì có nguy  
cơ mắc lo âu cao hơn 2,2 lần so với những  
người mang thai ngoài ý muốn. Những phụ nữ  
đã biết giới tính thai nhi là con trai hoặc con gái  
thì có nguy cơ bị lo âu cao gấp 5,2 và 7,2 lần  
so với nhóm phụ nữ chưa biết giới tính thai nhi.  
Những người còn có dự định mang thai trong  
tương lai thì có khả năng mắc lo âu cao hơn  
những người chưa biết hoặc chưa có dự định  
2,3 lần.  
biến thiên của lo âu. Kết quả chỉ ra sự chủ động  
mang thai lần này, việc phá thai muộn ngoài ba  
tháng đầu và số ngày quyết định phá thai có  
mối liên quan với tình trạng lo âu của người phụ  
nữ đến phá thai.  
IV. BÀN LUẬN  
Nghiên cứu đã tiến hành trên 429 người  
tham gia là những phụ nữ đến phá thai tại bệnh  
viện Phụ Sản Hà Nội cho thấy tỷ lệ phụ nữ đến  
phá thai có dấu hiệu lo âu ở mức từ nhẹ đến rất  
nặng là 50,8%. Tỷ lệ này cao hơn so với một  
bài báo tổng kết các tài liệu từ sau năm 1990  
về kinh nghiệm tâm lý và các mối quan hệ tình  
dục trước và sau phá thai, khoảng thời gian sau  
khi phát hiện ra thai nghén và trước khi phá  
thai, các tác giả đã nhận thấy một tỷ lệ tương  
đồng với 40 ‒ 45% phụ nữ trải qua mức độ lo  
lắng đáng kể.13 Kết quả này cũng cao hơn tỷ lệ  
lo âu của một nghiên cứu tại Mỹ vào năm 2014  
cũng dùng thang đo DASS là công cụ đo lường  
là 39,3%.⁶ Trong khi đó, một nghiên cứu về mối  
liên quan giữa phá thai, rối loạn tâm thần và  
hành vi tự tử tại Mỹ vào năm 2010 lại chỉ ra một  
tỷ lệ lo âu sau phá thai cao hơn với 51,8%.10  
Mô hình đa biến giải thích cho 20,27% sự  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
282  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Sở dĩ có sự khác biệt về tỷ lệ lo âu giữa các  
nghiên cứu là do: thứ nhất, các nghiên cứu sử  
dụng nhiều thang đo lo âu khác nhau; thứ hai,  
các nghiên cứu thực hiện trên các đối tượng  
đến phá thai ở các tuần thai khác nhau; thứ ba,  
tùy vào những giai đoạn khác nhau của thai kỳ  
và kết cục của thai kỳ thì tỷ lệ lo âu của những  
người phụ nữ cũng khác nhau. Bởi vậy sẽ có  
những khác biệt về các đặc điểm của đối tượng  
so với nghiên cứu của chúng tôi.  
bỏ thai nhi. Khi mà nhóm có số ngày quyết đinh  
trên 7 ngày thì có nguy cơ lo âu cao gấp 4,5 lần  
so với những người chỉ mất 1 tuần cho quyết  
định phá thai. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy,  
quá trình quyết định từ bỏ thai nhi diễn ra trong  
một thời gian dài và thay đổi không ngừng, chịu  
tác động của nhiều yếu tố như: tâm lý, chuẩn  
mực và giá trị truyền thống của một nền văn  
hóa.14 Thời gian quyết định phá thai càng dài,  
đối tượng càng cần suy nghĩ đến nhiều lý do,  
mức độ ảnh hưởng về việc phá thai mang đến,  
điều này sẽ khiến bệnh nhân cảm thấy suy sụp  
tinh thần. Đây cũng là một yếu tố cần quan tâm  
để có sự giúp đỡ kịp thời về mặt tâm lý cho  
những đối tượng này.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy nếu thai lần  
này của phụ nữ là chủ động, thì những phụ  
nữ này có nguy cơ mắc lo âu cao hơn gấp đôi  
(2,2 lần) so với những người không có mong  
muốn mang thai. Đa số người phụ nữ đến phá  
thai đều cần một khoảng thời gian nhất định để  
quyết định có từ bỏ thai nhi hay không. Việc  
khó khăn khi đưa ra quyết định tỷ lệ thuận với  
việc kỳ vọng sinh con. Kết quả trong nghiên  
cứu cũng chỉ ra, nếu người phụ nữ lần này  
chủ động mang thai thì khả năng còn dự định  
mang thai trong tương lai cao gấp 30 lần so với  
những người phụ nữ có thai lần này là ngoài ý  
muốn. Như vậy có thể thấy, ngoài việc chịu áp  
lực từ những định kiến của việc phá thai mang  
lại, người phụ nữ còn lo lắng cả đến những hậu  
quả của phá thai đối với sức khoẻ nói chung  
và khả năng sinh sản sau này nói riêng. Điều  
này đỏi hỏi cần có những biện pháp tư vấn,  
can thiệp thích hợp nhằm cải thiện sức khoẻ  
tinh thần, đồng thời giúp nâng cao kiến thức về  
chăm sóc sức khoẻ sinh sản sau phá thai.  
Nhóm thai phụ biết giới tính thai nhi là con  
gái hoặc con trai có nguy cơ có rối loạn lo âu  
cao gấp 7,2 và 5,2 lần so với nhóm chưa biết  
giới tính thai nhi. Theo cuộc điều tra về dân số  
và nhà ở giữa kỳ vào năm 2014, đồng bằng  
sông Hồng là vùng có tỷ số giới tính khi sinh  
cao nhất trên toàn quốc với 118 trẻ trai/100 trẻ  
gái (toàn quốc: 112,2 trẻ trai/ 100 trẻ gái). Đây  
cũng chính là địa phương mà các đối tượng  
trong nghiên cứu sinh sống.15 Như vậy, có thể  
thấy, kết quả của nghiên cứu cũng phản ánh  
được một phần tình trạng bất bình đẳng giới  
tính và quan niệm trọng nam khinh nữ đã ăn  
sâu vào tiềm thức của người dân. Bên cạnh đó,  
những đối tượng phá thai vì giới tính thai nhi  
không mong muốn còn có khả năng phá thai  
lặp lại do tiếp tục phải lựa chọn giới tính thai  
nhi.16,17 Tuy nhiên, khi đưa vào mô hình phân  
tích đa biến, yếu tố giới tính thai nhi lại không  
thể hiện được nguy cơ với tình trạng lo âu của  
đối tượng.  
Nhóm phụ nữ có tuổi thai trên 12 tuần có  
nguy cơ bị lo âu cao hơn 2,3 lần so với những  
người có tuổi thai từ 12 tuần trở xuống. Điều này  
có thể lý giải bởi việc phá thai khi ngoài 3 tháng  
đầu sẽ kéo theo nhiều tai biến và biến chứng  
sản khoa hơn, dẫn đến những ảnh hưởng tiêu  
cực đến cảm xúc của người phụ nữ. Bên cạnh  
đó, việc phá thai muộn cũng tỷ lệ thuận với số  
ngày mà người phụ nữ có để quyết đinh phá  
Tương tự, một số các yếu tố khác khi phân  
tích đơn biến có xuất hiện mối tương quan với  
rối loạn lo âu nhưng khi đưa vào mô hình hồi  
quy đa biến lại không có mối liên quan như:  
nhóm tuổi, người sống cùng, nơi ở hiện tại, giới  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
283  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
tính con, nguyên nhân phá thai và dự định sinh  
con trong tương lai. Điều này đặt ra một câu  
hỏi về sự yếu tố liên quan thực sự đến rối loạn  
lo âu ở phụ nữ phá thai. Cần có những nghiên  
cứu sâu hơn và với cỡ mẫu lớn hơn để có khả  
năng trả lời chính xác.  
là cao so với nhiều nhóm phụ nữ khác (50,8%).  
Các yếu tố có khả năng là nguy cơ làm cho phụ  
nữ bị lo âu hơn bao gồm: có sự chủ động mang  
thai lần này, tuổi thai lớn (ngoài 3 tháng đầu),  
số ngày quyết định phá thai trên 7 ngày. Những  
phát hiện của nghiên cứu này nhấn mạnh sự  
cần thiết phải sàng lọc lo âu, cung cấp tư vấn  
cho phụ nữ trước khi phá thai hợp lý, tìm hiểu  
các yếu tố nguy cơ khi phụ nữ đến phá thai tại  
các cơ sở chăm sóc thai nghén để cải thiện sức  
khỏe của họ cũng như tránh được các hậu quả  
đáng tiếc.  
Nghiên cứu cũng có một số hạn chế cần lưu  
ý. Thứ nhất, nghiên cứu tiến hành trên những  
đối tượng là phụ nữ đến phá thai tại bệnh viện  
Phụ Sản Hà Nội. Vì vậy, việc ngoại suy ra các  
quần thể khác cần được thận trọng. Thứ hai,  
nghiên cứu này có tính chất tâm lý hành vi,  
do đó cần có thêm các nghiên cứu áp dụng  
phương pháp nghiên cứu định tính để tìm hiểu  
sâu hơn các vấn đề về nguyên nhân của tình  
trạng lo âu. Vấn đề các đối tượng có rối loạn  
lo âu này là do tác động của quá trình ra quyết  
định từ bỏ thai nhi, sức khỏe sinh sản của bản  
thân hay e ngại về biến chứng y khoa trong và  
sau quá trình làm thủ thuật có thể là những câu  
hỏi cần được đề cập tại các nghiên cứu định  
tính, giúp cho việc can thiệp được hiệu quả.  
Thứ ba, nghiên cứu sử dụng cấu phần Lo âu  
trong thang đo trầm cảm – lo âu – stress (DASS  
– 21) để đo lường biến đầu ra của nghiên cứu,  
việc đánh giá các rối loạn tâm thần là dựa trên  
ý kiến chủ quan của đối tượng nghiên cứu chứ  
không phải đánh giá lâm sàng. Do vậy, các kết  
luận của nghiên cứu này, chỉ sử dụng khái niệm  
biểu hiện lo âu và tìm các yếu tố liên quan đến  
những biểu hiện này như là nguy cơ cho các  
rối loạn lo âu thực sự và có ý nghĩa khi sàng  
lọc cộng đồng, định hướng việc đề xuất những  
can thiệp tư vấn, hỗ trợ mạng lưới xã hội hoặc  
tới các phòng khám chuyên khoa tâm thần để  
được chẩn đoán xác định và điều trị bằng dùng  
thuốc.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Lương Hữu Thông. Sức Khỏe Tâm Thần  
và Các Rối Loạn Tâm Thần Thường Gặp. Nhà  
xuất bản Lao động; 2005.  
2. Depression | Anxiety and Depression  
Association ofAmerica,ADAA. https://adaa.org/  
understanding-anxiety/depression. Accessed  
October 8, 2018.  
3. Hanoi Department of Health. 30% of  
Vietnam’s population has mental disorders.  
hanoi.gov.vn/vi/news/tin-tuc-chung/30-dan-  
so-viet-nam-co-roi-loan-tam-than-1590.html.  
Published April 5, 2017. Accessed January 29,  
2018.  
4. Women and Anxiety | Anxiety and  
Depression Association of America, ADAA.  
Accessed September 23, 2018.  
5. Not Every Pregnancy is Welcome. WHO.  
index3.html. Accessed April 1, 2018.  
6. Steinberg JR, McCulloch CE, Adler NE.  
Abortion and Mental Health: Findings From  
the National Comorbidity Survey-Replication.  
Obstet Gynecol. 2014; 123(201): 263-270.  
7. Fergusson DM, John Horwood L, Ridder  
EM. Abortion in young women and subsequent  
V. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ lo  
âu của những phụ nữ đến phá thai tại bệnh viện  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
284  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
mental health. Journal of Child Psychology and  
Psychiatry. 2006; 47(1): 16-24.  
the Beck Depression and Anxiety Inventories.  
Behaviour Research and Therapy. 1995; 33(3):  
335-343.  
8. Taft AJ, Watson LF. Depression and  
termination of pregnancy (induced abortion) in  
a national cohort of young Australian women:  
the confounding effect of women’s experience  
of violence. BMC Public Health. 2008; 8:75.  
9. Wallin Lundell I, Georgsson Öhman S,  
Frans Ö, et al. Posttraumatic stress among  
women after induced abortion: a Swedish multi-  
centre cohort study. BMC Womens Health.  
2013;13:52.  
13. Bradshaw Z, Slade P. The effects of  
induced abortion on emotional experiences and  
relationships: A critical review of the literature.  
Clinical Psychology Review. 2003; 23(7): 929-  
958.  
14. Tổng cục Thống kê Việt Nam, Quỹ phát  
triển Mục tiêu thiên niên kỷ, Cơ quan phát triển  
và hợp tác quốc tế Tây Ban Nha. “Chịu nhịn là  
chết đấy” - Kết quả từ Nghiên cứu quốc gia về  
bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam. 2010.  
15. Bộ Kế Hoạch Đầu Tư, Tổng cục Thống  
kê. Điều Tra Dân Số và Nhà ở Giữa Kỳ Thời  
Điểm 1/4/2014: Các Kết Quả Chủ Yếu. 2015.  
16. Vinh NT, Tuan PC. Factors influencing  
unintended pregnancy and abortion among  
unmarried youth in Vietnam: A literature review.  
Tạp chí Y tế Công cộng. 2015; 3(2):3-16.  
17. UNFPA. Sự ưa thích con trai ở Việt  
Nam: Ước muốn thâm căn, công nghệ tiên tiến.  
2011;(Báo cáo nghiên cứu định tính nhằm tìm  
hiểu sâu hơn về tình trạng tăng tỷ số giới tính  
khi sinh ở Việt Nam): 60.  
10. Mota NP, Burnett M, Sareen J.  
Associations  
between  
abortion,  
mental  
disorders, and suicidal behaviour in a nationally  
representative sample. Can J Psychiatry. 2010;  
55(4): 239-247.  
11. Munk-Olsen T, Laursen TM, Pedersen  
CB, Lidegaard Ø, Mortensen PB. Induced First-  
Trimester Abortion and Risk of Mental Disorder.  
New England Journal of Medicine. 2011; 364(4):  
332-339.  
12. Lovibond PF, Lovibond SH. The structure  
of negative emotional states: Comparison of the  
Depression Anxiety Stress Scales (DASS) with  
Summary  
ANXIETY AMONG WOMEN BEFORE INDUCED ABORTION IN  
HANOI OBSTETRICS AND GYNECOLOGY HOSPITAL, 2019  
Pregnant women who decided to have an abortion often had mental disorders, of which anxiety is  
one of the most common disorders. This study aimed at exploring the characteristics of anxiety among  
women prior to abortion at the Hanoi Obstetrics and Gynecology Hospital in 2019 and associated  
related factors.Across-sectional study by interviewing 429 women showed that the rate of women with  
anxiety was significant at 50,8%.About 15% of the study sample had an anxiety condition from severe  
to extremely severe. Intention of this pregnancy, late abortion and lenght time of making decision were  
significantly associated with anxiety of women. The study found that the proportion of women who had  
abortion with anxiety was relatively high and was related with familial and social factors. Therefore,  
it is necessary to have interventions to improve mental health before women undergo an abortion.  
Key words: Anxiety, women, induced abortion  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
285  
pdf 9 trang yennguyen 8080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lo âu ở nhóm phụ nữ đến phá thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdflo_au_o_nhom_phu_nu_den_pha_thai_tai_benh_vien_phu_san_ha_no.pdf