Khóa luận Nghiên cứu xác định tích luỹ cacbon của rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) trên địa bàn xã Phúc Xuân - Thành phố Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG  
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TÍCH LUỸ CACBON CỦA RỪNG TRỒNG  
KEO TAI TƯỢNG (Acacia mangium) TRÊN ĐỊA BÀN  
XÃ PHÚC XUÂN, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo:  
Chính quy  
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng  
Khoa:  
Lâm nghiệp  
Khoa học:  
2016 - 2020  
Thái Nguyên, năm 2020  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG  
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TÍCH LUỸ CACBON CỦA RỪNG TRỒNG  
KEO TAI TƯỢNG (Acacia mangium) TRÊN ĐỊA BÀN  
XÃ PHÚC XUÂN, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo:  
Chuyên ngành:  
Lớp:  
Chính quy  
Quản lý tài nguyên rừng  
K48 - QLTNR  
Lâm nghiệp  
Khoa:  
Khoa học:  
2016 - 2020  
Giảng viên hướng dẫn: TS. Đỗ Hoàng Chung  
Thái Nguyên, năm 2020  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng bản  
thân tôi không sao chép của ai. Các kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa  
luận là quá trình điều tra, triển khai thí nghiệm hoàn toàn trung thực, khách  
quan. Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin  
được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí theo danh mục tài liệu của khóa luận.  
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2020  
XÁC NHẬN CỦA GVHD  
Đồng ý cho bảo vệ kết quả  
trước hội đồng khoa học!  
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN  
TS. Đỗ Hoàng Chung  
Nguyễn Thị Quỳnh Trang  
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN  
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên  
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!  
(Ký và ghi rõ họ tên)  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Khoá luận tốt nghiệp là bước cuối cùng đánh dấu sự trưởng thành của  
một sinh viên ở giảng đường Đại học. Để trở thành một cử nhân hay một kỹ  
sư đóng góp những gì mình đã học được cho sự phát triển đất nước. Đồng  
thời là cơ hội để sinh viên vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, xây dựng phong  
cách làm việc khoa học và chuyên nghiệp.  
Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp và giáo viên  
hướng dẫn, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu xác định tích luỹ  
cacbon của rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) trên địa bàn xã  
Phúc Xuân - Thành phố Thái Nguyên”.  
Trong thời gian thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp, dưới sự hướng  
dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn và được phía nhà trường tạo điều kiện  
thuận lợi, tôi đã có một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và học tập nghiêm túc  
để hoàn thành đề tài. Kết quả thu được không chỉ do nỗ lực của cá nhân tôi  
mà còn có sự giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè.  
Tôi xin chân thành cảm ơn  
Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp đã tạo  
điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.  
Thầy giáo TS. Đỗ Hoàng Chung đã hướng dẫn, hỗ trợ tôi hoàn thành  
tốt đề tài về phương pháp, lý luận và nội dung trong suốt thời gian thực hiện  
khóa luận tốt nghiệp.  
Các cán bộ, nhân viên của xã Phúc Xuân đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong  
thời gian thực tập.  
Gia đình đã tạo điều kiện học tập tốt nhất.  
Các bạn đã giúp đỡ, trao đổi thông tin về đề tài trong thời gian thực tập.  
 
iii  
Trong quá trình thực hiện và trình bày khóa luận không thể tránh khỏi  
những sai sót và hạn chế, do vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét  
phê bình của quý thầy cô và các bạn.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020  
Sinh viên thực tập  
Nguyễn Thị Quỳnh Trang  
iv  
MỤC LỤC  
 
v
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP  
vi  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
 
viii  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
D1.3  
Nghĩa đầy đủ của từ  
: Đường kính ngang ngực  
: Chiều cao vút ngọn  
: Mật độ  
H vn  
N
H dc  
: Chiều cao dưới cành  
: Ô tiêu chuẩn  
OTC  
ODB  
: Ô dạng bản  
: Đường kính ngang ngực bình quân  
: Chiều cao vút ngọn bình quân  
D
1.3  
H vn  
 
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Từ xưa, rừng đã được coi là tài sản quý báu và bậc nhất mà thiên nhiên  
ban tặng cho con người. Trong thực tế, rừng đã đem lại nhiều lợi ích to lớn.  
Rừng cung cấp cho ta những sản vật quý hiếm, thanh lọc không khí, điều hòa  
khí hậu, bảo về sự sống,... Đứng trước những thách thức về biến đổi khí hậu,  
giá trị của rừng càng được đề cao. Những năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu  
trên thế giới và trong nước nhằm nỗ lực bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng.  
Giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính từ phá rừng và suy thoái rừng  
(REDD) ở các nước đang phát triển là sang kiến toàn cầu đã được hội nghị  
các nước thành viên thứ 13 (COP13) của công ước khung liên hợp quốc về  
biến đổi khí hậu (UNFCCC) và nghị định như Kyoto thông qua tại Ba-li  
(Indonesia) năm 2007. Hàng năm lượng khí thải từ phá rừng và suy thoái  
rừng ở các nước đang phát triển chiếm 20% so với tổng sản lượng phát thải  
hiệu ứng nhà kính trên toàn cầu, vì thế sang kiến REDD đã dược hình thành  
từ ý tưởng giản đơn ban đầu là trả tiền cho các nước đang phát triển để làm  
giảm phát khí thải CO2 từ nghành lâm nghiệp. Một số vấn đề đặt ra là cần  
phải lượng hoá cacbon cơ sở, hiện đang được lưu trữ ở các cánh rừng. Các bể  
chứa cacbon chính trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới là các sinh khối sống của  
cây cối và thực vật dưới tán và khối lượng vật liệu chết rơi rụng, mảnh vụn gỗ  
và các chất hữu cơ trong đất. Các bon được lưu trữ trong sinh khối sống trên  
mặt đất của cây thường là các bể chứa lớn nhất và ảnh hưởng trực tiếp lớn  
nhất từ nạn phá rừng và suy thoái. Như vậy, ước tính cacbon trong sinh khối  
trên mặt đất của rừng là là bước quan trọng nhất trong việc xác định số lượng,  
dòng cacbon từ rừng nhiệt đới phương thức đo lường đối với các bể chứa đã  
được mô tả ở các tài liệu của Post và cộng sự (1999), Brown Masera (2003),  
Pearson và cộng sự (2005), IPCC (2006).  
   
2
Sinh trưởng nhanh và năng suất cao đó là những loại cây trồng rừng tại  
khu vực nhiệt đới. Ở khu vực này việc sản xuất gỗ có ý nghĩa và tầm quan  
trọng hang. Diện tích rừng trồng trên thế giới khoảng 130 triệu ha (Allan and  
Landy 1991) và che phủ toàn bộ khu vực nhiệt đới (FAO, 1995). Tổng số  
lượng các bon tích luỹ tại các khu rừng trồng toàn cầu ước tính khoảng 11,8  
PgC (Winjum and Schroeder 1997), trong đó lượng cacbon trên mặt đất chủ  
yếu từ các khu công nghiệp. Những hoạt động của Nghành lâm nghiệp đang  
có những đóng góp cho việc tích luỹ cacbon ở các khu vực nhiệt đới,cũng như  
kết quả về sự thay đổikhí hậu và nhịp độ sinh trưởng của thực vật (Schroeder  
and ladd 1991). Kết quả trồng rừng ở các khu vực trên thế giới đã tích luỹ một  
lượng cacbon trong khí quyển và từ mặt đất (Schroeder, 1992). Tất cả ước  
lượng cho việc tích luỹ cacbon ở các kiểu rừng (Brow, 1993; Lugo and Brow,  
1992; Vogt, 1991) và những thông tin mới nhất về khả năng tích luỹ cacbon  
của những loài cây đã được công bố. Tầm quan trọng những đặc điểm riêng  
của loài cây có ý nghĩa trong việc tích luỹ cacbon toàn cầu và chu kỳ của nó.  
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi với nhiều nhà máy, khu công nghiệp  
lớn, đang gây sức ép nặng nề với môi trường về lượng khí thải. Điều quan  
trọng, trong những năm gần đây được Đảng và Nhà nước quan tâm tới công  
tác phát triển rừng, diện tích rừng trên toàn tỉnh Thái Nguyên đã lên tăng đáng  
kể. Để đánh giá được giá trị thực của rừng trồng keo tại tỉnh Thái Nguyên nói  
chung, qua đó có thể thương mại hoá chứng chỉ giảm phát thải, chủ yếu là  
lượng CO2, thì cần thiết phải xác định được trữ lượng cacbon có trong tích lũy  
Cacbon của các loại rừng. Những nghiên cứu dựa trên các phương pháp được  
thừa nhận và có độ tin cậy cao đã được áp dụng. Xuất phát từ lý do đó, được  
sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa  
Lâm Nghiệp tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu khả năng tích luỹ  
Cacbon của rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) tại xã Phúc Xuân,  
Thành phố Thái Nguyên”  
3
1.2. Mục tiêu  
1.2.1. Mục tiêu tổng quát  
Xác định được khả năng tích lũy cacbon của rừng trồng Keo tai tượng  
trên địa bàn xã Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Đánh giá được hiện trạng rừng trồng Keo tai tượng trên địa bàn xã  
Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên.  
- Đánh giá được lượng sinh khối của rừng trồng Keo tai tượng trên địa  
bàn xã Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên.  
- Đánh giá được lượng cacbon tích lũy trong rừng trồng Keo tai tượng  
trên địa bàn xã Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên.  
- Lượng hóa được năng lực hấp thu CO2 và giá trị môi trường của rừng  
trồng Keo tai tượng trên địa bàn xã Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên.  
1.3. Ý nghĩa đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu  
- Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành việc  
nghiên cứu khoa học, biết phương pháp phân bổ thời gian hợp lý để đạt hiệu  
quả cao trong quá trình làm việc, đồng thời là cơ sở để củng cố những kiến  
thức đã học trong nhà trường vào hoạt động thực tiễn .  
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn sản xuất  
- Thúc đẩy việc trồng rừng của người dân, giúp người dân hiểu rõ được  
chu kỳ của rừng trồng để thu được lợi ích trong việc trồng và phát triển rừng  
sản xuất.  
           
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
2.1. Trên thế giới  
2.1.1. Những nghiên cứu về ảnh hưởng và biến động khí CO2 trong khí  
quyển đối với sự thay đổi khí hậu  
Các lý thuyết về sự hâm nóng toàn cầu phát sinh từ cuối thế kỷ XIX do  
những nhà khoa học Thụy Điển trong khi quan sát sự thay đổi nhiệt độ của  
không khí bị ô nhiễm để rồi từ đó kết luận rằng trái đất nóng dần do con  
người phóng thích các khí ô nhiễm vào không khí. Lý thuyết này là nguyên  
nhân khởi đầu cho bao cuộc thảo luận sau đó giữa các nhà khoa học. Họ đã  
tiên đoán là từ năm 1896, thán khí (CO2) thải vào không khí do việc đốt than  
đá để tạo ra năng lượng là nguyên nhân chính gây ra “hiệu ứng nhà kính”.  
Mãi đến năm 1949, sau khi khảo sát hiện tượng tăng nhiệt độ trong không  
khí ở Âu Châu và Bắc Mỹ từ năm 1850 đến 1940 so với các nơi khác trên thế  
giới, các nhà nghiên cứu Anh đã đi đến kết luận là sự phát triển ở các quốc gia  
kỹ nghệ đã làm tăng lượng ô nhiễm thán khí trong không khí, do đó làm cho mặt  
đất ở hai vùng này nóng mau hơn so với các vùng chưa phát triển.  
Đến năm 1958, các cuộc nghiên cứu ở phòng thí nghiệm Mauna Loa  
Observatory (Hawai) đặt ở độ cao 3.345m đã chứng minh được khí CO2 là  
nguyên nhân chính yếu của sự gia tăng nhiệt độ.  
Đến năm 1976, các chất khí methane (CH4), chlorofluoroCác bon  
(CFC), nitrogen dioxide (NO2) cũng được xác nhận là nguyên nhân của hiệu  
ứng nhà kính. Các cuộc nghiên cứu do hai khoa học gia Karl và Trenberth  
trên tạp chí Sciences số tháng 12/2003 nói lên tính chất khẩn thiết của vấn đề  
này. Theo ước tính của hai ông thì từ năm 1990 đến 2100, nhiệt độ trên mặt  
địa cầu sẽ tăng từ 3,1 đến 8,9oF (1,6 đến 4,2oC); sự tăng nhiệt độ này sẽ làm  
     
5
nóng chảy hai tảng băng ở Greenland và Antartica và có thể làm ngập lụt các  
bờ biển (và người ta cũng ước tính được rằng CO2 trong không khí đã tăng  
30% từ năm 1750 đến nay). Điều này sẽ làm thu hẹp diện tích đất sống của  
con người trên quả địa cầu, để rồi từ đó sinh ra nhiều hệ lụy như sau [43]:  
– Trái đất sẽ chịu đựng những luồng khí nóng bất thường;  
– Hạn hán sẽ thường xuyên hơn và xảy ra ở nhiều nơi;  
– Mưa to, bão tố xảy ra bất thường cũng như không thể tiên liệu trước  
như hiện nay;  
– Các hệ thực vật, sinh vật trên trái đất sẽ bị thay đổi;  
– Sau cùng mực nước biển sẽ dâng cao ở nhiều nơi, ước tính khoảng  
0,75 –1,5m vào năm 2100.  
Vai trò gây nên hiệu ứng nhà kính của các chất khí được xếp thứ tự  
theo tỉ lệ được trình bày trong bảng sau:  
Bảng 2.1. Tỷ lệ đóng góp gây hiệu ứng nhà kính của các loại khí  
trong khí quyển  
Các loại chất khí  
Tỷ lệ (%) gây hiệu ứng  
NO2  
O3  
5
8
CH4  
CFC  
CO2  
12-20  
15-25  
50-60  
(Nguồn: Md. Mahmudur Rahman, 2004)  
Tóm lại, “Hiệu ứng nhà kính” có thể được giải thích một cách khoa học  
và hình tượng hơn như sau: Các khí kể trên (cũng được gọi là “khí nhà kính” -  
KNK) di chuyển trong bầu khí quyển, “nhốt” (trap) khí nóng, các bức xạ nhiệt  
thải hồi từ mặt địa cầu tại nơi đây, do đó khí nóng này không thể thoát ra  
ngoài không gian được. Ngược lại, các khí trên cũng đã “hành xử” như một  
nhà kính để lọc các tia sáng mặt trời trước khi vào trái đất.  
 
6
2.1.2. Nghiên cứu về sự tích lũy Cacbon trong các hệ sinh thái rừng  
Theo số liệu của Tổ chức Lương Nông thế giới (FAO): tổng diện tích  
rừng trên thế giới hiện nay khoảng 4 tỉ ha, chiếm gần 30% diện tích đất toàn  
cầu. Hàng năm trên toàn thế giới bị mất đi khoảng 13 triệu ha rừng (trong đó  
có khoảng 0,4% là rừng nguyên sinh) và con số này vẫn chưa có dấu hiệu  
giảm, đặc biệt là trong những năm gần đây những vụ cháy rừng có qui mô lớn  
đã xảy ra ngày càng nhiều hơn trước (như ở Indonesia, Mỹ, Nga vừa qua…).  
Từ đó tổ chức này đã cảnh báo: nạn phá rừng lấy đất sản xuất, làm nhà ở, nhất  
là nạn khai thác rừng lấy gỗ một cách bừa bãi và hiểm họa cháy rừng hiện làm  
cho trái đất ngày càng bị sa mạc hóa, nhiều động thực vật quý hiếm đã và  
đang bị diệt chủng. Các chuyên gia khí tượng trên thế giới cũng cho biết,  
nhiệt độ trung bình trên thế giới từ đầu năm 2007 đã cao hơn mức nhiệt độ  
trung bình của thế kỷ XX là khoảng 0,720 C, gây ra hạn hán kéo dài, mưa lớn,  
bão tuyết, lũ lụt và sụt lở đất … diễn ra trong những năm trở lại đây thường  
xuyên hơn. Phá rừng cũng là một trong những nguyên nhân chính làm cho  
lượng CO2 tăng lên - Đây là một trong những nguyên nhân làm biến đổi khí  
hậu trái đất [39].  
Ngày nay, theo quan sát của các nhà khoa học đã cho thấy trong hệ sinh  
thái rừng có 6 loại bể chứa Cacbon là: sinh khối trên mặt đất bao gồm: cây  
trồng và các thảm thực vật khác; sinh khối dưới mặt đất: thảm mục, thảm  
tươi, gỗ chết, Cacbon hữu cơ trong đất, trong rễ cây. Trong khi đó các thảm  
thực vật đã thu giữ một trữ lượng CO2 lớn hơn một nửa khối lượng chất khí  
đó sinh ra từ sự đốt cháy các nhiên liệu hoá thạch trên thế giới. Và từ nguyên  
liệu Cacbon này hằng năm thảm thực vật trên trái đất đã tạo ra được 150 tỷ  
tấn vật chất khô thực vật. Khám phá này càng khẳng định thêm vai trò hệ sinh  
thái rừng trong việc làm giảm lượng CO2 trong khí quyển [40].  
 
7
Theo một nghiên cứu mới của các nhà khoa học Úc về “Cacbon xanh”  
và vai trò của nó đối với biến đổi khí hậu, rừng nguyên sinh có khả năng lưu  
giữ CO2 nhiều hơn gấp 3 lần so với ước tính trước kia và nhiều hơn 60% so  
với rừng trồng. Các nhà khoa học thuộc trường Đại học Quốc gia Úc cho biết,  
cho đến nay vai trò của các khu rừng nguyên sinh và sinh khối Cacbon xanh  
của các khu rừng này chưa được đánh giá đúng mức trong cuộc chiến chống  
lại sự nóng lên của trái đất. Các nhà khoa học cho rằng Uỷ ban Liên Chính  
phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) và Nghị định thư Kyoto đã không nhận ra sự  
khác biệt về khả năng hấp thụ Cacbon giữa rừng trồng và rừng nguyên sinh.  
Rừng nguyên sinh có thể hấp thụ lượng Cacbon nhiều gấp 3 lần so với ước  
tính hiện thời. Hiện nay, khả năng hấp thụ Cacbon của rừng được tính toán  
dựa theo rừng trồng. Chính sự khác biệt trong việc định nghĩa một khu rừng  
cũng dẫn đến việc đánh giá không đúng mức sinh khối Cacbon trong các khu  
rừng lâu năm… Những khu rừng chưa bị khai thác ở Úc có thể hấp thụ  
khoảng 640 tấn Cacbon trên 1 ha, thế nhưng theo ước tính của IPCC thì con  
số này chỉ khoảng 217 tấn Cacbon trên 1 ha. Còn theo tính toán của các nhà  
khoa học, nếu những khu rừng bạch đàn ở phía Đông Nam Australia không bị  
xâm phạm thì với diện tích 14,5 triệu ha rừng, sẽ có 9,3 tỉ tấn Cacbon được  
lưu trữ trong đó. Nhưng theo cách tính toán của IPCC thì lượng Cacbon trong  
những khu rừng bạch đàn này chỉ đạt khoảng 1/3 con số các nhà khoa học đã  
đưa ra và chỉ bằng 27% sinh khối Cacbon của các khu rừng này. Rừng tự  
nhiên không chỉ hấp thụ nhiều Các bon hơn rừng trồng mà chúng còn lưu giữ  
được Cacbon lâu hơn bởi vì rừng tự nhiên được bảo vệ trong khi rừng trồng bị  
khai thác một cách luân phiên.  
Brendan Mackey, thành viên của nhóm tác giả nhận xét việc bảo vệ  
rừng tự nhiên sẽ là “Một mũi tên trúng hai đích”, vừa giữ được một bể hấp  
thụ Cacbon lớn, vừa ngăn chặn việc giải phóng Cacbon trong rừng ra ngoài.  
8
Ước tính lượng Cacbon lưu giữ trong sinh khối và đất khoảng gấp 3 lần  
lượng Cacbon có trong khí quyển. Và khoảng 35% khí nhà kính trong khí  
quyển là hậu quả của nạn phá rừng trong quá khứ và 18% lượng phát thải khí  
này hàng năm là do nạn phá rừng liên tục. Do đó, “Duy trì lượng Cacbon lưu  
giữ trong các khu rừng tự nhiên đồng nghĩa với việc ngăn chặn lượng Cacbon  
gia tăng do đốt nhiên liệu hoá thạch”.  
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, những khu rừng bị chặt phá giảm  
hơn 40% lượng Cacbon hấp thụ so với những khu rừng không bị chặt phá.  
Phần lớn lượng Cacbon sinh khối trong các khu rừng tự nhiên được giữ trong  
sinh khối gỗ của những cây cổ thụ lớn. Việc phá rừng vì lợi ích thương mại  
làm thay đổi cơ cấu niên đại của rừng, mức tuổi trung bình của cây cối trong  
rừng bị giảm đi rất nhiều và khả năng hấp thụ Cacbon cũng giảm. Vì thế, sinh  
khối Cacbon trong các khu rừng chuyên dụng để lấy gỗ cũng như trong các  
khu đồn điền độc canh sẽ luôn luôn thấp hơn đáng kể so với sinh khối Cacbon  
ở các khu rừng tự nhiên không bị xâm phạm.  
Theo Schimel và cộng sự (2001) [43], trong chu trình Cacbon toàn cầu,  
lượng Cacbon lưu trữ trong thực vật thân gỗ và trong lòng đất khoảng 2,5Tt;  
trong khi đó khí quyển chỉ chứa 0,8Tt và hầu hết lượng Cacbon trên trái đất  
được tích lũy trong sinh khối cây rừng.  
2.1.3. Những nghiên cứu về phương pháp xác định Cacbon trong sinh khối  
Khi nghiên cứu lượng Cacbon lưu trữ trong rừng trồng nguyên liệu  
giấy, Romain Piard (2005) đã tính lượng Các bon lưu trữ trên tổng sinh khối  
tươi trên mặt đất, thông qua lượng sinh khối khô (không còn độ ẩm) bằng  
cách lấy tổng sinh khối tươi nhân với hệ số 0,49 sau đó nhân sinh khối khô  
với hệ số 0,5 để xác định lượng Cacbon lưu trữ trong cây.  
 
9
Những năm gần đây, tại một số công trình nghiên cứu tương tự người  
ta đã xác định rằng: Cacbon được ước lượng là một hằng số tương đối, tỉ lệ  
với sinh khối trong từng đối tượng như sau:  
– Sinh khối sống, đứng và sinh khối gỗ nằm, chết: Sinh khối * 0,47 = C.  
– Xác bã, thảm mục: Sinh khối * 0,37 = C.  
– Trong đất: Cần lấy mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm. [18]  
Ngoài ra Cacbon được xác định thông qua việc tính toán sự thu nhận và  
điều hòa CO2 và O2 trong khí quyển của thực vật bằng cách phân tích hàm  
lượng hóa học của Cacbon, hydro, oxy, nitơ và tro trong 01 tấn chất khô.  
2.2. Một số hoạt động có liên quan đến Cơ chế phát triển sạch - CDM  
Cơ chế phát triển sạch (CDM) là một phương thức hợp tác quốc tế mới  
trong lĩnh vực môi trường giữa các quốc gia đang phát triển và các quốc gia  
đã công nghiệp hoá. Đây là hình thức hợp tác được xây dựng theo Nghị định  
thư Kyoto nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển thực hiện phát triển bền vững  
thông qua sự đầu tư vào lĩnh vực môi trường của chính phủ các nước công  
nghiệp hoá và các công ty, doanh nghiệp của các nước này. Trong rất nhiều  
hội nghị, diễn đàn thế giới và khu vực diễn ra mới đây đều cho thấy: Biến đổi  
khí hậu mà biểu hiện chủ yếu là hiện tượng nóng lên toàn cầu và nước biển  
dâng đang là mối quan tâm chung của toàn cầu, nó đã và đang ảnh hưởng tới  
toàn bộ đời sống vật chất và môi trường sống của chúng ta. Mặc dù các nước  
tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc (LHQ) về biến đổi khí hậu,  
nghị định thư Kyoto cũng rất nỗ lực trong việc giảm thiểu phát thải khí nhà  
kính ra khí quyển nhằm đạt được mục tiêu chung trong việc bảo vệ hệ thống  
khí hậu trái đất. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn gặp nhiều khó khăn và là  
thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI. Tuy nhiên cộng đồng  
quốc tế vẫn đang hợp tác, tìm “tiếng nói” chung cùng nhau giải quyết vấn đề  
này, trên cơ sở pháp lý là Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí  
hậu và Nghị định thư Kyoto.  
 
10  
Trong 3 cơ chế của Nghị định thư Kyoto, Cơ chế phát triển sạch  
(CDM) có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với các nước đang phát triển. Cơ chế  
này giúp các nước đang phát triển, triển khai các công nghệ thân thiện môi  
trường bằng các nguồn vốn đầu tư của chính phủ, doanh nghiệp các nước phát  
triển. CDM cho phép các quốc gia với những mục tiêu giảm phát thải bắt  
buộc được phát triển dự án tại các quốc gia đang phát triển. Đồng thời, cơ chế  
phát triển sạch CDM cũng nhằm mục tiêu hướng tới phát triển bền vững bằng  
các cam kết cụ thể về hạn chế và giảm lượng khí nhà kính phát thải định  
lượng của các nước trên phạm vi toàn cầu.  
Thời gian qua, các dự án CDM đã đem lại lợi ích rõ rệt về môi trường  
và kinh tế cho cả hai phía - phía các nước công nghiệp hoá (tức là các nhà đầu  
tư dự án CDM) và phía các nước đang phát triển (hay còn gọi là các nước tiếp  
nhận dự án CDM). Về mặt kinh tế, nguồn tài trợ từ các dự án CDM sẽ giúp  
các nước đang phát triển đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường và  
phát triển bền vững, chẳng hạn như giảm ô nhiễm không khí và nước, cải  
thiện sử dụng đất, nâng cao phúc lợi xã hội, xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm  
hay giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nhiên liệu hoá thạch… Ở mức độ toàn  
cầu, thông qua các dự án giảm phát thải, CDM có thể khuyến khích đầu tư  
quốc tế, thúc đẩy cung cấp nguồn lực cần thiết cho tăng trưởng kinh tế ở  
nhiều nơi, nhiều khu vực trên thế giới.  
Do đặc điểm có bờ biển dài thấp và dễ bị ảnh hưởng của bão, lốc,  
lượng mưa cao và thất thường, nước ta được đánh giá là một trong những  
quốc gia dễ bị tác động và chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu trên  
thế giới. Theo một nghiên cứu thì đến năm 2050 mực nước biển ước tính sẽ  
dâng thêm 33cm và đến năm 2100 sẽ là 1m. Nếu mực nước biển dâng lên 1m  
thì 7% đất nông nghiệp và 11% dân số của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng, tổng  
sản phẩm quốc nội (GDP) sẽ giảm đi khoảng 10% và Liên Hợp Quốc cũng đã  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 56 trang yennguyen 12340 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu xác định tích luỹ cacbon của rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) trên địa bàn xã Phúc Xuân - Thành phố Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_xac_dinh_tich_luy_cacbon_cua_rung_trong.pdf