Khóa luận Đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi tôm xen ghép ở vùng đầm phá xã Quảng Phước, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT  
QC  
Quảng canh  
QCCT  
BTC  
Quảng canh cải tiến  
Bán thâm canh  
TC  
Thâm canh  
CN  
Công nghiệp  
NTTS  
UBND  
ĐVT  
Nuôi trồng thủy sản  
Ủy ban nhân dân  
Đơn vị tính  
BQC  
Bình quân chung  
Khấu hao tài sản cố định  
Hiệu quả kinh tế  
Giá trị  
KHTSCĐ  
HQKT  
GT  
SL  
Số lượng  
HĐND  
CNH – HĐH  
KHCN  
Hội đồng nhân dân  
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa  
Khoa học công nghệ  
ii  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
STT  
Tên bảng  
Trang  
1
Tình hình NTTS ở Việt Nam giai đoạn 2007-2009  
18  
2
Tình hình nuôi trồng thủy sản ở huyện Quảng Điền qua 2 năm  
2008-2009  
21  
25  
29  
3
4
Quy mô, cơ cấu đất đai của xã Quảng Phước năm 2010  
Kết quả sản xuất nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2008-2010 ở xã  
Quảng Phước  
5
Tỷ trọng diện tích của hoạt động nuôi xen ghép trên địa bàn xã  
năm 2010  
30  
6
7
8
Năng lực sản xuất của hộ điều tra  
32  
34  
Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các hộ điều tra (BQ/Hộ)  
Năng suất, sản lượng của các đối tượng nuôi xen ghép theo hình  
thức nuôi  
35  
37  
9
Cơ cấu chi phí của hoạt động nuôi tôm xen ghép phân theo hình  
thức nuôi (BQ/Ha)  
10  
11  
12  
Kết quả nuôi tôm xen ghép của các hộ điều tra  
Các chỉ tiêu hiệả  
40  
41  
42  
Thống kê sơ bộ về lợi nhuận của các hộ điều tra  
iii  
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU  
Hoạt động NTTS đóng một vai trò rất quan trọng với đời sống của người dân  
trên địa bàn xã Quảng Phước. Đây là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển  
nghề nuôi trồng thủy sản, tuy nhiên địa phương cũng tồn tại nhiều khó khăn, vướn  
mắt như thiếu vốn đầu tư, một số hộ nuôi chưa nắm kỹ thuật, môi trường thủy vực  
ngày càng ô nhiễm... nên hoạt động trồng ở xã chưa phát triển tương xứng với tiềm  
năng. Trong thời gian gần đây, hoạt động này đã có những bước khởi sắc rõ rệt, đặc  
biệt khi người dân thực hiện sự chỉ đạo của xã về chuyển đỗi cơ cấu ối tượng nuôi,  
mô hình nuôi, đặc biệt là mô hình nuôi tôm xen ghép. Nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế  
hoạt động nuôi tôm xen ghép ở xã Quảng Phước, trên cơ sở đó đưa ra một số giải  
pháp, kiến nghị nhằm phát triển hơn nữa hoạt động nuôi trồng ở đây, tôi đã đề xuất đề  
tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi tôm xen ghép ở vùng đầm phá  
xã Quảng Phước, Huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên Huế”  
Trong đó:  
Mục đích nghiên cứu đề tài:  
1. Hệ thống hoá cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế nói chung và của ngành nuôi  
trồng thuỷ sản nói riêng;  
2. Mô tả đặc trưng kinh tế - xã hội của các hộ nuôi tôm xen ghép;  
3. Dựa trên tình hìuôi tôm xen ghép của xã, phân tích đánh giá thực trạng  
sản xuất, kết quả và hiệu quả kinh tế của hoạt động này trên địa bàn;  
4. Đưa ra một số định hướng và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng  
cao hiệu ả hođộng nuôi tôm xen ghép vùng đầm phá của xã.  
Qđiểm và phương pháp nghiên cứu:  
- Quan điểm nghiên cứu:  
Vấn đề được nghiên cứu dựa trên các quan điểm sau:  
+ Quan điểm duy vật biện chứng và tư duy logic;  
+ Quan điểm thực tiễn;  
+ Quan điểm hệ thống – cấu trúc.  
- Phương pháp nghiên cứu:  
+ Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu tham khảo;  
iv  
+ Phương pháp chuyên gia chuyên khảo;  
+ Điều tra chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên điển hình qua phỏng vấn trực tiếp  
46 hộ trên địa bàn xã Quảng Phước  
+ Phương pháp thống kê kinh tế  
+ Một số phương pháp nghiên cứu khác  
Kết quả nghiên cứu:  
- Có cái nhìn tổng quát về tình hình nuôi trồng thủy sản của xã Quảng Phước  
năm 2010  
- Mô tả được đặc trưng về tình hình cơ bản của các hộ điều tra tại địa bàn xã  
trong năm 2010  
- So sánh được hiệu quả kinh tế giữa các hình thức nuôi khác nhau, phân  
tích , đánh giá được thực trạng sản xuất của các hộ điu tra.  
- Đưa ra được một số định hướng và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm  
nâng cao hiệu quả của hoạt động nuôi tôm xen ghép vùng đầm phá của xã.  
v
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Nuôi trồng thuỷ sản là một nghề then chốt trong nền kinh tế của nước ta hiện  
nay. Nó đang phát triển rất mạnh, thu hút một lực lượng lớn nhà đầu tư và người lao  
động. Thực tế nghề nuôi trồng thuỷ sản đã mang lại cho nước ta một khoản lợi nhuận  
khổng lồ. Nghề nuôi trồng thuỷ sản không những mang lại giá trị kinh tế cao, góp phần  
tăng trưởng GDP của đất nước mà còn giải quyết nhiều vấn đề xã hội....  
Việt Nam có khoảng 3260 km bờ biển, 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa  
sông lạch, hàng ngàn đảo nhỏ ven biển. Trong nội địa hệ thống sông ngòi, kênh rạch  
chằng chịt và các hồ chứa thuỷ lợi, thuỷ điện tạo ra một tiềm năng lớn về nuôi trồng  
thuỷ sản. Nước ta có khí hậu nhiệt đới hầu như nóng quanh năm, lực lượng lao động  
dồi dào, đội ngũ nhân viên kỹ thuật nhiệt tình, có nhiều cơ sở chế biến thuỷ sản, có thị  
trường tiêu thụ rộng lớn. Nắm được những ưu đãi của thiên nhiên ban tặng cũng như  
nhu cầu về thị trường thuỷ sản trên thế giới, nhận thức được vị trí chiến lược và những  
đặc điểm lợi thế, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra các chủ trương, chính sách ưu tiên cho  
việc phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản.  
Cùng với nhịp độ phát triển của đất nước, trong những năm gần đây ngành nuôi  
trồng thuỷ sản ở của tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và Huyện Quảng Điền nói riêng  
trong đó có xã Quảng Phđã phát triển rầm rộ và mang lại hiệu quả kinh tế cao so  
với các ngành nghề khác. NTTS là hướng chính trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông  
nghiệp của vùng đầm phá xã Quảng Phước. NTTS đã góp phần quan trọng trong việc  
xóa bỏ tđộc anh cây lúa, khai thác và sử dụng có hiệu quả vốn, đất đai, đặc biệt  
diện tích nước, tăng khối lượng sản phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu, tạo việc làm  
tăng thu nhập và xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên do nuôi chuyên canh ở đây phần lớn  
mang tính tự phát, các hộ nuôi lúng túng trong việc tổ chức sản xuất, áp dụng các tiến  
bộ khoa học kỹ thuật kém, rủi ro cao nên năng suất nuôi chuyên canh vẫn còn thấp,  
dịch bệnh thường xuyên xảy ra. Thu nhập từ hình thức nuôi chuyên canh chưa cao,  
chưa thật sự là nguồn thu vững chắc cho người dân  
Vì vậy phát triển mô hình xen ghép đạt hiệu quả kinh tế cao và bền vững là vấn  
đề được nhiều người quan tâm. Xuất phát từ thực tế đó tôi đã tiến hành nghiên cứu đề  
1
tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi tôm xen ghép ở vùng đầm phá  
xã Quảng Phước, Huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên Huế”  
*Mục đích nghiên cứu  
+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế nói chung và của ngành nuôi  
trồng thuỷ sản nói riêng;  
+ Mô tả đặc trưng kinh tế - xã hội của các hộ nuôi tôm xen ghép;  
+ Dựa trên tình hình nuôi xen ghép của xã, phân tích đánh giá thực trạng sản  
xuất, kết quả và hiệu quả kinh tế của hoạt động này trên địa bàn;  
+ Đưa ra một số định hướng và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao  
hiệu quả hoạt động nuôi xen ghép vùng đầm phá của xã.  
* Đối tượng nghiên cứu  
Hoạt động nuôi tôm xen ghép của vùng đầm phá trên địa bàn xã Quảng Phước  
* Phạm vi nghiên cứu  
- Không gian: vấn đề được nghiên cứu ở 3 thôn Mai Dương, Phước Lâm, Phước  
Lý thuộc vùng đầm phá của xã Quảng Phước;  
- Thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động nuôi tôm xen ghép ở giai  
đoạn 2008 – 2010, trong đó tập trung chủ yếu vào năm 2010  
+ Số liệu thứ cấp: thu thập số liệu của giai đoạn 2008 – 2010;  
+ Số liệu sơ cấp: thu thập kết quả sản xuất năm 2010 của 46 hộ.  
*Quan điểm và phưpháp nghiên cứu:  
- Quan điểm nghiên cứu:  
Vấn đề được nghiên cứu dựa trên các quan điểm sau:  
+ an ểm duy vật biện chứng và tư duy logic;  
+ n điểm thực tiễn;  
+ Quan điểm hệ thống – cấu trúc.  
- Phương pháp nghiên cứu:  
+ Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu tham khảo;  
Từ những tài liệu thu thập được từ tổng cục thống kê, phòng nông nghiệp huyện  
Quảng Điền, số liệu báo NTTS ở xã Quảng Phước các số liệu, báo cáo thu thập trên  
internet…, tôi tiến hành tổng hợp phân tích để đưa ra được những chỉ tiêu trong vấn đề  
nghiên cứu của mình.  
2
+ Phương pháp chuyên gia chuyên khảo;  
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã trao đổi, tham khảo ý kiến cuả các cán bộ  
chuyên môn, người nuôi trồng thủy sản có kinh nghiệm và am hiểu sâu sắc liên quan  
đến vấn đề nghiên cứu nhằm bổ sung hoàn thiện nội dung, đồng thời kiểm chứng kết  
quả nghiên cứu của đề tài.  
+ Điều tra chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên điển hình  
Bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên điển hình, tôi tiến hành điều tra,  
phỏng vấn trực tiếp 46 hộ gia đình nuôi xen ghép về tình hình sản xuất năm 2010 vừa  
qua ở xã Quảng Phước, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Các thông tin điều  
tra được, tôi tiến hành tổng hợp lại thành bảng sau đó sử dụng các chỉ tiêu kết quả,  
hiệu quả kinh tế về nuôi xen ghép để tính toán xác định các nhân tố ảnh hưởng đến kết  
quả và hiệu quả kinh tế, từ đó đưa ra biện pháp nhằm âng cao hiệu quả kinh tế nuôi  
xen ghép cho xã Quảng Phước.  
+ Phương pháp thống kê kinh tế  
Từ những số liệu thu thập được từ phòng Sở NN & PTNT, phòng NN & PTNN  
huyện Quảng điền, UBND xã Quảng Phước, phòng Thống kê… những số liệu, thông  
tin có được từ điều tra phỏng vấn hộ gia đình tôi tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh  
giá tình nuôi xen ghép trên địa bàn xã Quảng Phước nhằm giải quyết những mục tiêu  
đã đề ra.  
3
PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KÉT QUẢ NGHIÊN CỨU  
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN  
1.1.1 Lý luận cơ bản về hiệu quả kinh tế  
1.1.1.1 Khái niệm, bản chất của hiệu quả kinh tế  
Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu biểu hiện kết quả của hoạt động sản xuất, nói rộng  
ra là của hoạt động kinh tế, hoạt động kinh doanh, phản ánh tương qun giữa kết quả  
đạt được so với hao phí lao động, vật tư, tài chính. Là chỉ tiêu phản ánh trình độ và  
chất lượng sử dụng các yếu tố của sản xuất - kinh doanh, nhằm đạt được kết quả kinh  
tế tối đa với chi phí tối thiểu. Tuỳ theo mục đích đánh giá, có thể đánh giá HQKT bằng  
những chỉ tiêu khác nhau như năng suất lao động, hiệu suất sử dụng vốn, hàm lượng  
vật tư của sản phẩm, lợi nhuận so với vốn, thời gian thu hồi vốn, vv. Chỉ tiêu tổng hợp  
thường dùng nhất là doanh lợi thu được so với tổng số vốn bỏ ra. Trong phạm vi nền  
kinh tế quốc dân, chỉ tiêu HQKT là tỉ trọng thu nhập quốc dân trong tổng sản phẩm xã  
hội. Trong nhiều trường hợp, để phân tích các vấn đề kinh tế có quan hệ chặt chẽ với  
các vấn đề xã hội, khi tính HQKT, phải coi trọng hiệu quả về mặt xã hội (như tạo thêm  
việc làm và giảm thất nghiệp, tăng cường an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng  
cố sự đoàn kết giữa các dâộc, các tầng lớp nhân dân, và sự công bằng xã hội), từ đó  
có khái niệm hiệu quả kinh tế - xã hội  
Việc đưa ra khái niệm hiệu quả kinh tế thì có rất nhiều quan điểm khác nhau  
nhưng ống nhất ở bản chất của nó. Người sản xuất muốn thu được kết quả thì  
phải bỏ ra ột khoản chi phí (nhân lực, vật lực, vốn…..) nhất định nào đó. Tiêu chuẩn  
của hiệu quả kinh tế là tối đa hóa đầu ra với một lượng đầu vào nhất định và tối thiểu  
hóa chi phí với một lượng đầu ra nhất định.  
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế,  
là thước đo trình độ tổ chức và quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như các  
tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh tế.  
4
Hiệu quả kinh tế: là tương quan so sánh giữa lượng két quả đạt được với chi phí  
bỏ ra, nó biểu hiện bởi các chi tiêu: Giá trị tổng sản phẩm, thu nhập, lợi nhuận…. tính  
trên lượng chi phí bỏ ra.  
Hiệu quả xã hội là sự so sánh giữa một bên là chi phí bỏ ra và một bên là kết  
quả thu được về mặt xã hội như: giảm khoảng cách giàu nghèo, tạo công ăn việc làm,  
cải tạo môi trường…  
Hiệu quả kinh tế xã hội: Là tương quan giữa chi phí bỏ ra với kết quả thu được  
về cả mặt kinh tế và xã hội  
Mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế là phát triển xã hội, giữa phát triển  
kinh tế và phát triển xã hội có quan hệ mật thiết với nhau do đó khi nói đến hiệu quả  
kinh tế ta cần hiểu trên quan điểm kinh tế xã hội.  
Hiệu quả môi trường: Là xu hướng tất yếu mà mọi quốc gia cần đề cập đến  
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội.  
Có nhiều phương pháp để xác định hiệu quả kinh tế, tuy nhiên điều kiện để xác  
định được hiệu quả kinh tế là phải xác định được kết quả và chi phí bỏ ra.  
- Phương pháp 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả đạt  
được và chi phí bỏ ra  
Việc xác định hiệu quả kinh tế có thể theo các hướng khác nhau như:  
- Phương pháp 2: u quả kinh tế là hiệu quả cận biên, được xác định bằng  
cách so sánh phần tăng thêm của kết quả thu được và phần tăng thêm của chi phí bỏ ra.  
1.1.1.2. Hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi trồng thủy sản  
Mục tiêu ối cao của tất cả hoạt động sản xuất kinh doanh đó là kinh tế, hoạt  
động nng thủy sản cũng không nằm ngoài quy luật đó. Vì vậy kết quả kinh tế  
không phải là kết quả duy nhất mà con người vươn tới, ngày nay hoạt động kinh tế cò  
tính đến nhiều hiệu quả liên quan, trước tiên là nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc  
sống,đẩy lùi tình trạng đói nghèo. Ngày nay hiệu quả kinh tế còn phải tính đến hiệu  
quả về mặt xã hội, sinh thái, ta thấy yêu cầu nay càng phải được chú ý hơn vì đây là  
hoạt động sản xuất, nuôi trồng thủy sản. Ta sẽ đi sâu hơn để nghiên cứu hiệu quả của  
hoạt động nuôi trồng thủy sản nói riêng.  
5
Hiệu quả nuôi trồng thủy sản là phạm trù kinh tế phản ánh các nguồn lực nhằm  
thực hiện mục tiêu đặt ra. Hiệu quả kinh tế NTTS được rút ra từ việc so sánh giữa giá  
trị của các khoảng chi phí bỏ ra và các khoảng mà người sản xuất thu lại được từ chính  
hoạt động sản xuất NTTS đó.  
Khi chúng ta xét trên phạm vi cá nhân thì hiệu quả của hoạt động kinh tế đó  
mang đến lợi ích cho cá nhân đó, nhưng ta xét trên phạm vi toàn bộ thì nó cũng có ảnh  
hưởng không nhỏ đến lợi ích của toàn xã hội. Từ đó ta có thể suy rộng cho một vấn đề  
như sau, hoạt động nuôi trồng thủy sản có thể đồng thời mang lại lợi ích cho cá nhân  
và xã hội tùy theo cấp độ mà chúng ta đang xét.  
1.1.2. Vai trò vị trí của ngành nuôi trồng thủy sản  
Hiện nay các mặt hàng thủy sản trên thị trường ngày càng chiếm ưu thế về xuất  
khẩu. Vì vậy tập trung phát triển ngành nuôi trồng, chbiến thủy sản là cần thiết và  
mang tính chiến lược. Hơn nữa thủy sản là mặt hàng đem lại nguồn thu ngoại tệ đáng  
kể và là tiềm năng quan trọng của nền kinh tế của tỉnh Thừa Thiên Huế.  
Với khả năng của ngành thủy sản nước ta, Đảng chủ trương: Chuyển mạnh nuôi  
trồng thủy sản thành một ngành sản xuất hàng hóa, lấy nuôi thủy sản xuất khẩu làm  
mũi nhọn tạo ra khối lượng sản phẩm lớn có giá trị kinh tế.  
Việc nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản cho phép:  
- Tận dụng được đkiện kinh tế tự nhiên như đất vùng đầm phá, vùng đầm  
lầy, diện tích mặt nước chưa sử dụng… Vùng đất ở đây bị nhiễm mặn không thể trồng  
được cây gì đem lại năng suất cả, nên thường bị bỏ trống, nhưng nếu cải tạo lại, đào ao  
hồ, bỏ vốn và cng ra đầu tư cho việc nuôi trồng thủy sản thì nó có thể đem lại hiệu  
quả kino.  
- Mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản của nước ta, thu hút nguồn lao động, thời gian  
lao động dư thừa, giải quyết công ăn việc làm cho người dân lao động, tạo nguồn thu nhập ổn  
định, tránh được nhiều tệ nạn xã hội,…  
- Kích thích sản xuất theo hướng hàng hóa,việc phát triển ngành nuôi trồng thủy  
sản kéo theo sự phát triển của nhiều dịch vụ liên quan (cung ứng vật tư, giống, cơ sở  
chế biến, tiêu thụ…), góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, da dạng hóa các ngành nghề  
ở địa phương…  
6
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi trồng thủy sản  
Để nâng cao hiệu quả nuôi trông thủy sản thì ta cần xem xét đến các nhân tố  
gây ảnh hưởng.  
- Điều kiện tự nhiên  
Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến ngành nuôi trồng thủy  
sản. Điều kiện thời tiết, khí hậu xác định thời gian nào có độ mặn thích hợp cho từng  
loại thủy sản. Vì vậy trong quá trình nuôi trông cần quan tâm đến chế độ thủy triều lên  
xuống.  
- Kiến thức quản lý và kỹ thuật nuôi trồng  
Chủ hộ cần có kinh nghiệm quản lý, bố trí nhân công phù hợp để tiết kiệm được  
chi phí trong quá trình sản xuất, nâng cao hiệu quả nuôi tôm xen ghép.  
- Trình độ thâm canh:  
Đây là yếu tố rất quan trọng giúp nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản. Nếu  
trình độ thâm canh cao thì sản lượng, chất lượng nuôi trồng thủy sản tốt, hiệu quả sẽ  
cao hơn và ngược lại.  
- Ao nuôi  
Trước khi nuôi, ao cần được làm vệ sinh, cải tạo và diệt tạp  
- Giống và mật độ nuôi:  
Giống là yếu tố qurọng trong việc quyết định hiệu quả nuôi trồng thủy sản.  
Khi chọn giống cần chọn con khỏe mạnh, đồng đều, nhanh nhẹn, không bệnh tật…  
- Thức ăn và kỹ thuật cho ăn  
Thức ăn ó nhiều loại, lựa chọn thức ăn phải tùy thuộc vào từng loại thủy sản,  
từng gin phát triển của thủy sản. Cho thủy sản ăn phải đảm bảo đủ lượng và kỹ  
thuật cho ăn cũng phù hợp đối với từng loại thủy sản…  
- Thị trường  
Vừa là yếu tố vừa là điều kiện đối với sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy  
sản. Sản phẩm hàng hóa thủy sản có khối lượng lớn, lại là loại hàng hóa tươi sống  
không thể để lâu trong môi trường tự nhiên, thời vụ thu hoạch tập trung, trong khi các  
ngư dân không có biện pháp gì hoặc chỉ có kỹ thuật đông lạnh thô sơ gây ra tình trạng  
hàng kém chất lượng, bị ép giá.  
7
- Các chính sách xã hội  
Là việc quy hoạch phân chia đất đai, cho vay vốn sản xuất của nhà nước.  
1.1.4. Các đặc điểm nuôi trồng thủy sản  
1.1.4.1. Các hình thức nuôi  
- Nuôi quảng canh (QC)  
Nuôi tôm quảng canh là hình thức nuôi đơn giản nhất và còn mang tính chất sơ  
khai, ít tốn kém nhất vì người nuôi hoàn toàn dựa vào tự nhiên, từ nguồn tôm giống  
đến thức ăn, người nuôi tốn ít công chăm sóc, không phải thả thêm giống nhân tạo,  
năng suất đạt từ 30 – 300kg/ha/năm. Họ chỉ tiến hành đắp đê khoanh vùng tạo thành  
những ao hồ có diện tích khá lớn (thường trên 2 ha), rồi lợi dụng thủy triều để đưa  
giống và thức ăn vào khu vực nuôi, đến kỳ thu sẽ tiến hành thu hoạch. Vì thế tôm thu  
hoạch đa dạng về chủng loại và kích cỡ.  
Ưu điểm của hình thức này là ít tốn kém, ngoài chi phí tu bổ xây dựng hồ ra,  
chỉ cần ít trang thiết bị đơn giản, khi thu hoạch và người nuôi tôm không phải bỏ thêm  
chi phí nào khác, lại tận dụng được nguồn tôm tự nhiên, phù hợp với những hộ nông  
dân nghèo. Tuy nhiên, do nuôi phó mặt cho tự nhiên nên năng suất thấp, sản phẩm  
không thích ứng với thị trường.  
- Nuôi quảng canh cải tiến (QCCT)  
Nuôi quảng canh cải tiến là hình thức nuôi trồng bằng giống và thức ăn tự nhiên  
là chính nhưng có bổ sung m thức ăn nhân tạo ở mức độ nhất định, đồng thời có cải  
tạo ao hồ, đầm, diệt trừ các loại mầm bệnh và dịch bệnh để tăng tỷ lệ sống của thủy  
sản và năng suất. Năng suất đạt từ 300-820 kg/ha trong một năm. Với hình thức này  
thường mô iện tích dưới 2 ha.  
- i bán thâm canh (BTC)  
Hình thức này đòi hỏi người nuôi trông thủy sản phải chủ động về con giống và  
thức ăn. Hồ nuôi theo hình thức này phải đảm bảo xây dựng ao hồ và đê đập kiên cố,  
đúng kỹ thuật, được xử lý trước khi thả giống vào nuôi. Người nuôi trồng phải đặc biệt  
chú ý đến việc cho ăn thường xuyên và theo kế hoạch. Ngoài ra vốn đầu tư phải lớn,  
người nuôi trồng thủy sản phải có kiến thức về nuôi trồng, am hiểu kỹ thuật, tổ chức,  
chăm sóc, quản ký để đem lại hiệu quả. Hệ thong ao đầm cần được đầu tư (điện, thủy  
lợi, cơ khí,…) nhưng còn ở mức độ thấp. Diện tích ao từ 0,5 – 1,5 ha.  
8
- Một yếu tố không kém phần quan trọng phản ánh trình độ kiến thức thâm canh  
là kiến thức quản lý. Nếu có kỹ thuật nuôi trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên của  
khu vực thì sẽ góp phần lớn vào việc nâng cao năng suất, hạn chế rủi ro, nâng cao  
được hiệu quả nuôi trồng thủy sản.  
- Nuôi thâm canh (TC)  
Nuôi thâm canh là hình thức nuôi hoàn toàn bằng con giống và thức ăn nhân  
tạo, mật độ thả giống dày, năng suất cao, được đầu tư cơ sở hạ tầng đầy đủ. Diện tích  
nuôi thâm canh 0,5 – 2 ha.  
- Nuôi tôm công nghiệp (CN)  
Nuôi công nghiệp là hình thức nuôi hoàn toàn bằng con giống và thức ăn nhân  
tạo với mật độ rất cao. Sử dụng các máy móc và thiết bị nhằm tạo cho vật nuôi một  
môi trường sinh thái và các điều kiện sống tối ưu, sinh trưởng tốt nhất, không phụ  
thuộc vào thời tiết và mùa vụ, trong thời gian ngắn nhất đạt các mục tiêu sản xuất và  
lợi nhuận. Năng suất đạt từ 10 tấn/ha/vụ trở lên.  
1.1.4.2. Đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của ngành nuôi xen ghép  
1.1.4.2.1. Đặc điểm sinh vật học của đối tượng nuôi xen ghép  
* Tôm sú  
Tôm sú là loại động vật thủy sinh, dị nhiệt thở bằng mang. Phân bố các vùng  
biển Châu Á – Thái BìDương, nam Nhật Bản đến Úc Châu, Đông Phi đến  
Indonesia. Ở Việt Nam phân bố nhiều ở vùng ven biển miền trung.  
Tôm sú là loại ăn tạp, thích các động vật sống, ăn các loại giáp xác, thực vật  
dưới nước, mảnvụn cơ, giun nhiều tơ loại 2 mảnh vỏ, côn trùng. sú trong ao, hoạt  
động bắnhiều vào sáng sớm và chiều tối.Tôm ở mỗi giai đoạn ấu trùng ăn thức  
ăn khác nhau. Ấu trùng mới nở, giai đoạn Nauplii không ăn, sống nhờ dinh dưỡng  
noãn hoàn, sang giai đoạn Zoae ăn chủ yếu thực vật phù du, giai đoạn Mysis ngoài tảo  
khêu ra còn ăn thêm ấu trùng giáp xác nhỏ, động vật phù du, artemia.... đến giai đoạn  
Post Larva thức ăn chính là động vật phù du nhỏ, giáp xác nhỏ, Artemia. Tôm sú sinh  
trưởng nhanh, khoảng 4- 5 tháng tôm đạt mức trưởng thành, dìa 27cm và trọng lượng  
khoảng 250g.  
9
Trong quá trình tăng trưởng, khi trọng lượng và kích thước tăng lên mức độ  
nhất định, tôm phải lột bỏ lớp vỏ củ để lớn lên. Sự lột xác thường xảy ra vào ban đêm,  
sự lột xác đi đôi với việc tăng thẻ trọng. Tôm sú rất nhạy cảm với môi trường sống,  
các yếu tố bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn. Màu nước đều có ảnh hưởng đến  
sự sinh trưởng và phát triển ủa tôm.  
* Cua xanh  
Cua xanh vòng đời của nó trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và mỗi giai đoạn  
có tập tính sống và cư trú khác nhau.  
Thời kỳ phôi thai được cua mẹ mang và phát triển ở vùng ven biển, cửa sông  
đầm phá... nơi đây có đáy bùn, bùn cát hoặc đất thịt pha cát mịn giàu mùn bã hữu cơ  
thuộc vùng trũng, hạ triều chuyển từ đời sống trong môi trường nước mặn sang môi  
trường nước lợ. Cua bắt đầu sống bò trên đáy và đào hang để sống hay chui rúc vào  
gốc cây, bụi rậm.  
Cua đạt giai đoạn thành thục có tập tính di cư ra vùng nước mặn ven biển sinh  
sản. Cua có khả năng bò lên cạn và di chuyển rất xa. Đặc biệt vào thời kỳ sinh sản cua  
có khả năng vượt cả rào chắn để ra biển sinh sản. Cua thích sống ở nhưng nơi nhiều  
thực vật thủy sinh, có những vùng bán ngập, có bờ để đào hang, tìm nơi trú ẩn, nhất là  
thời kỳ lột xác. Tính ăn của cua xanh biến đổi tùy theo giai đoạn phát triển. Giai đoạn  
ấu trùng cua thích ăn thựt và động vật phù du. Cua con chuyển dần sang ăn tạp  
như rong to, giáp xác, cua 7- 13cm thích ăn nhuyễn thể và cua lớn hơn thích ăn cua  
nhỏ hơn, cá,...cua có tập tính trú ẩn vào ban ngày và kiếm ăn vào ban đêm. Nhu cầu  
thức ăn của chúg khá lớn nhưng chúng có khả năng nhịn 10- 15 ngày. Trong thời kỳ  
giao vũ đực tấn công nhau để giành cua cái. Tính hung dữ có từ giai đoạn  
Megalops cho đến cua trưởng thành.  
* Cá kình  
Cá kình phân bố từ vịnh Ba Tư đến vùng In đô- Mã lai, phía bắc quần đảo  
Ryuku và phía nam của nữa bắc Australia sống từng đàn ở tầng giữa và tầng đáy.  
Thức ăn là loài ăn tạp thiên về thực vật như: rong rêu, rong mềm, mùn bã hữu  
cơ ngoài ra chúng còn ăn thức ăn tổng hợp hoặc cám gạo nấu chín. Chúng ăn chủ yếu  
vào ban ngày  
10  
1.1.4.2.2. Yêu cầu kỹ thuật cơ bản trong hoạt dộng nuôi xen ghép  
Bước 1. Chuẩn bị ao nuôi:  
Cải tạo ao:  
Đối với ao mới xây dựng:  
Cho nước vào đầy ao ngâm 2-3 ngày, sau đó xả hết nước để tháo rửa 2-3 lần.  
- Khi xả hết nước cuối thì rải vôi khắp đáy ao và bờ ao để khử chua.  
- Đất bình thường : pH= 6-7 dùng 300-600kg/ha.  
- Đất ít chua: pH = 4,5-6 dùng 600- 1.000kg/ha.  
- Kiểm tra thấy pH đất bằng pH nước tiến hành phơi ao 7-10 ngày  
- Lấy nước đầy ao qua lưới lọc  
- Gây màu nước, nuôi thức ăn tự nhiên và chuẩn bị thả giống.  
Đối với ao cũ :  
- Sau khi thu hoạch, xã hết nước ao cũ,  
- Ao có thể tháo cạn nước: Nạo vét ao bằng máy hay thủ công, bón vôi, cày lật  
phơi đáy 10-15 ngày  
- Vôi cải tạo nên dùng : Vôi nông nghiệp số lượng : 500-1000kg /ha tùy theo  
pH đất đáy ao.  
- Lấy nước vào ao qua lưới lọc mức nước: 1,2-1,4 m để xử lý bón phân và gây  
màu nước  
Diêt tạp:  
- Nước được lấy vào ao qua lưới lọc, để 2-3 ngày cho các loại trứng theo nước  
vào ao nở ra hếồi tiến hành diệt tạp .  
- ể dùng :  
Saponin liều lượng: 10-15 g/ m3, hòa tan vào nước tạt xuống ao và bờ ao  
Bón phân gây màu nước:  
- Bón phân gây màu nước để động vật phù du phát triển tạo bóng râm cho đáy  
- Ngăn cản sự phát triển của các loại rong có hại, kích thích tỏa phát triển tạo  
môi trường ổn định cho xen ghép.- Dùng phân vô cơ với liều dùng như sau: có 2 loại  
URE : 2kg/1000m3, NPK: 2kg/ 1000m3.  
11  
Hòa tan phân trong nước ngọt rồi tạt xuống ao vào lúc 9-10 giờ sáng. Lượng  
phân trên được chia ra trong vài ngày, ngày hôm sau bằng 50% của ngày hôm trước,  
để duy trì sự phát triển của sinh vật phù du.  
Đối với những vùng hoặc những ao khó gây tảo có thể dùng 0,2 kg cám gạo +  
0,2 kg bột đậu nành rang chín rồi nấu chung với 1kg bột cá sau đó hòa nước tạt đều  
xuống ao, liêù lượng này dùng cho 1000m3, trong 2 ngày. Lúc 9-10 giờ.  
Sau khi bón phân, sinh vật phù du sẽ phát triển ,nước có màu xanh, đo độ  
trong đạt 40-50 cm thì tiến hành thả tôm.  
Bước 2. Thả giống :  
Chọn tôm giống:  
- Tôm đều cỡ, râu và bộ phụ đầy đủ không có chất bẩn bám.  
- Tôm có màu xám hoặc nâu đen lưng xám bạc, bụng xanh bạc, nếu tôm có màu  
trắng đục, đỏ hồng là tôm có hiện tượng bệnh.  
- Ruột tôm đầy thức ăn, tạo thành một đường màu nâu nằm dọc theo sống lưng.  
- Tôm hoạt động, bơi lội linh hoạt ngược lại với dòng nước khi bị khuấy động,  
phản ứng nhanh với kích thước bên ngoài.  
- Tôm sú đã ương, có kích cỡ 4 - 6 cm, đồng đều, không nhiễm bệnh, kiểm tra  
PCR trước lúc thả.  
- Nên mua giống ở các trại đáng tin cậy, lấy tôm giống từ lần đẻ thứ nhất và lần  
thứ hai.  
Chọn Cá giống:  
- Chất lượng cá Kình giống:  
- Kìnđược thu gom từ tự nhiên đảm bảo cá giống có kích cở đồng đều.Cá  
giống phảm bảo các yêu cầu kỹ thuật, cá khoẻ, không bị bệnh, không bị tróc vẩy và  
mất nhớt trong quá trình vận chuyển. Tỷ lệ sống đạt trên 95%.  
Chọn cua giống.  
Nguồn cua giống cung cấp chủ yếu dựa vào nguồn giống tự nhiên. Nguồn cua  
giống thu được ở hàng đáy, ghe cào ở các cửa sông. Tốt nhất nên mua giống ở vùng  
lân cận. Cua thu gom ngoài tự nhiên có nhiều kích cỡ khác nhau, nên chọn mua giống  
đều cỡ khác nhau, nên chọn cua giống đều cỡ, có chất lượng tốt, đủ các phần phụ và  
mạnh khỏe, màu sắc tươi sáng, không bị nhiễm bệnh.  
12  
Mật độ thả:  
Tùy theo điều kiên ao nuôi, khả năng đầu tư và trình độ quản lý môi trường,  
kinh nghiêm của người nuôi để xác định mật độ thả cho phù hợp.  
Có thể thả :  
• Tôm : 3-5 con/m2  
• Cá kình : 2-5 con/m2  
• Cua 0.5 con/m2  
Phương pháp thả giống :  
- Nên thả tôm vào lúc sáng sớm hay chiều mát. Không nên thả tôm lúc trời mưa  
hoặc gió mùa đông bắc.  
- Trước khi thả ngâm các túi đựng tôm trong ao 10-15 phút để cân bằng nhiệt  
độ, sau đó mở túi giống để nước trong ao hòa cùng nước trong túi để tôm giống thích  
nghi trước khi thả tôm giống ra ao nuôi.  
- Thả tôm sú trước, sau 20 đến 25 ngày để tôm sú giống có điều kiện thích nghi  
và phát triển, mới tiến hành thả cá Kình giống và Cua giống.  
1.1.5. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu  
- Vốn đầu tư: Đây là một chỉ têu nói lên khả năng chủ động về vốn của người sản  
xuất và mức độ đầu tư, quy mô đầu tư. Vốn vật chất là máy móc thiết bị được sử dụng  
trong sản xuất. Giá trị các công trình xây dựng cơ bản bình quân trên một đơn vị diện tích  
mặt nước nuôi trồng thủy sảhản ánh khả năng đầu tư ban đầu cho quá trình nuôi.  
- Chi phí xây dựng ao hồ: Là chỉ tiêu quan trọng ở bước đầu khi tiến hành nuôi  
trồng thủy sản. Đánh giá việc đầu tư xây dựng ao hồ có chu đáo, đảm bảo hay không  
về đê cốcác ông trình khác liên quan đến ao hồ.  
- phí xử lý ao hồ: Là chỉ tiêu hết sức quan trọng liên quan trực tiếp đến khả  
năng sinh trưởng và phát triển của thủy sản. Xử lý là phải cải tạo ao sau mỗi mùa vụ,  
cần đến công tác diệt tạp, phơi đáy ao, bón phân, xem xét ao hồ có rò rỉ hay hư hỏng gì  
không. Chỉ tiêu này phản ánh lượng giá trị vật tư, dịch vụ đầu tư, xử lý ao hồ trên một  
đơn vị diện tích.  
- Giống nuôi: Là khâu quyết định đến chất lượng và khả năng sống của thủy  
sản. Chọn giống không bệnh tật, mật độ thả giống nuôi trên một đơn vị diện tích phải  
phù hợp.  
13  
- Chi phí thức ăn: Chỉ tiêu này phản ánh để đạt được một kg thủy sản thịt thì  
cần tăng bao nhiêu kg thức ăn đầu tư trên một đơn vị diện tích, không tính lượng thức  
ăn có sẵn trong môi trường nước. Với tiêu chuẩn thức ăn phải đảm bảo dinh dưỡng cho  
thủy sản sinh trưởng và phát triển tốt nhất.  
- Lao động chăm sóc, quản lý: Nói lên mức độ đầu tư công lao động sống vào  
quá trình chăm sóc để thu được năng suất cao. Chăm sóc về các khâu bệnh tật, môi  
trường nước, cho ăn...  
- Khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) trên một đơn vị diện tích: Là chỉ tiêu phản  
ánh mất mát về giá trị do việc sử dụng máy móc trong một thời kỳ.  
- Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ đã được sử  
dụng trong quá trình nuôi trồng thủy sản ( không kể khấu hao tài sản cố định và lao  
động gia đình).  
Năng suất nuôi trồng thủy sản (N):  
Trong đó:  
N: Năng suất nuôi trồng thủy sản  
Q: Sản lượng thủy sản thu hoạch  
S: diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản  
- Tổng chi phị sản xất (TC): gồm toàn bộ hao phí vật chất và hao phí lao động  
sống đã sử dụng trong quá trình xen ghép  
- Tổng giá trị sản xuất (GO):  
Là chỉ tiu biểu hiện bằng tiền của toàn bộ kết quả hữu ích mà lao động sáng  
tạo ra tời gian một năm. Trong phạm vi của các hộ sản xuất nhằm mục đích tiêu  
thụ chứ không phải là tiêu dùng cho nên tổng giá trị sản xuất cũng chính là tổng doanh  
thu của các hộ nuôi trồng thủy sản. Được xác định bởi công thức:  
Trong đó:  
Qi: Là khối lượng sản phẩm thủy sản thứ i  
Pi: Là giá của sản phẩm thủy sản thứ i  
14  
- Giá trị gia tăng (VA):  
Là lượng giá trị tăng thêm so với chi phí sản xuất bỏ ra ( chưa trừ khấu hao tài  
sản cố định), là toàn bộ kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất và dịch vụ trong  
một thời gian nhất định.  
Được xác định bằng công thức:  
VA = GO – IC  
- Chỉ tiêu giá trị sản xuất/Chi phí trung gian ( GO/IC):  
Chỉ tiêu này cho ta biết được cứ bỏ ra một đồng chi phí trung gian cho việc nuôi  
trồng thủy sản thi thu được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất tính trên một đơn vị diện  
tích. Nó thể hiện sức sản xuất của đồng vốn bỏ ra.  
- Chỉ tiêu giá trị gia tăng / chi phí trung gian ( VA/IC)  
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng chi phí trung gian bỏ ra thì thu được bao  
nhiêu đồng giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích.  
- Lợi nhuận trên một đơn vị diện tích ( LN/ha)  
Là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng thu được trong quá trình sản xuất và nó  
đánh giá năng lực của người sản xuất cũng như hiệu quả kinh tế mang lại.  
- Doanh lợi trên tổng chi phí ( Pr):  
Là chỉ tiêu cho biết nếu đầu tư một đơn vị chi phí sản xuất thì sẽ thu được bao  
nhiêu đơn vị lợi nhuận  
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN  
1.2.1. Tình hình nuôi trồng thủy sản ở trong nước  
Hiện nay, ở những quốc gia có điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản đã có sự  
tăng cường đầu tư phát triển sản xuất từ nhiều phía của nhà nước và Việt Nam là một  
trong những nước đó. Theo các nhà kinh tế, đầu tư nuôi trồng thủy sản sẽ đem lại lợi  
nhuận cao hơn so với chăn nuôi, trồng trọt trong ngành nông nghiệp hoặc so với các  
15  
lĩnh vực sản xuất khác trong chính ngành thủy sản. Nuôi trồng thủy sản phát triển sẽ  
giảm được sức ép đối với vùng ven bờ, tạo điều kiện thuận lợi cho khôi phục và tái tạo  
nguồn lợi thủy sản, nuôi trồng thủy sản phát triển sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho  
người lao động, mà chủ yếu là nông dân ở vùng nội đồng vừa làm ruộng vừa nuôi  
trồng thủy thủy sản, là ngư dân không có điều kiện đánh bắt hải sản xa bờ và là những  
người làm dịch vụ cho ngành nuôi trồng thủy sản. Như vậy nuôi trồng thủy sản phát  
triển sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở nông thôn ven biển tăng  
hiệu quả sử dụng tài nguyên đất và nước, tăng lợi nhuận thu được trên một đơn vị diện  
tích. Việt Nam có điều kiện tự nhiên vô cùng thuận lợi với 3.260 km bờ biển và trên  
4000 hòn đảo vùng ven bờ trải dài từ Quảng Ninh đến Kiên Giang cùng 10 vạn đầm  
phá,vùng vịn kín nhỏ, 29 vạn ha bãi triều là tiềm năng to lớn cho nuôi trồng thủy sản  
nước mặn và nước lợ. Với những ưu đãi về tự nhiên trog những năm gần đây, phong  
trào nuôi trồng thủy sản đang phát triển mạnh mẽ, từ quảng canh năng suất thấp  
chuyển dần sang nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh, thâm canh năng suất cao  
hơn. Qua số liệu ở bảng 01 ta thấy diện tích nuôi trồng thủy sản nói chung và diện tích  
nuôi hỗn hợp nói riêng có sự biến không đáng kể, cụ thể diện tích đưa vào nuôi trồng  
năm 2008 là 1.052.600ha tăng 3.32% so với diện tích nuôi trồng năm 2007, diện tích  
đưa vào nuôi trồng năm 2009 có giảm đôi chút so với năm 2008 cụ thể giảm 0.75%  
tức giảm 7900 ha. Với dich nuôi hỗn hợp cũng vậy diện tích đưa vào nuôi trồng  
2009 giảm 4800ha so với năm 2008, tuy diện tích nuôi trồng giảm nhưng sản lượng thì  
tăng theo bảng số liệu thì sản lượng nuôi trồng 2009 tăng 4.23% so với năm 2008 tức  
tăng 104291 tấDo diện tích nuôi hỗn hợp năm 2009 giảm so với năm 2008 nên sản  
lượng g.84% với 8222 tấn nhưng năng suất 2009 thì tăng 3.22% so với 2008.  
Bảng 01: Tình hình NTTS ở Việt Nam giai đoạn 2007-2009  
Tốc độ  
phát triển  
Chỉ tiêu  
ĐVT  
2007  
2008  
2009  
08/07  
1.044.70 103,3  
09/08  
1.018.80  
0
Ha  
1. Diện tích  
1.052.600  
99,25  
0
2
16  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 56 trang yennguyen 25120 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi tôm xen ghép ở vùng đầm phá xã Quảng Phước, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hieu_qua_kinh_te_cua_hoat_dong_nuoi_tom_x.pdf