Khóa luận Nghiên cứu tổng hợp vật liệu nano MnFe₂O₄ để xử lí phẩm màu hữu cơ trong nước

LỜI CẢM ƠN  
Khóa luận tốt nghiệp đƣợc hoàn thành tại Trƣờng Đại Học Lâm nghiệp  
Việt Nam. Trong quá trình làm khóa luận tốt nghiệp em đã nhận đƣợc rất nhiều  
sự giúp đỡ để hoàn tất khóa luận tốt nghiệp.  
Trƣớc tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành ThS. Lê Khánh Toàn và ThS.  
Đặng Thế Anh, những ngƣời thầy đã tận tình hƣớng dẫn, truyền đạt kiến thức,  
kinh nghiệm cho em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này.  
Xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Khoa Quản lí tài nguyên rừng và môi  
trƣờng, Trƣờng Đại Học Lâm Nghiệp Việt Nam, những ngƣời đã truyền đạt  
kiến thức quý báu cho em suốt trong thời gian học tập vừa qua.  
Em cũng xin cảm ơn các thầy cô ở Trung tâm Phân tích và Ứng dụng  
công nghệ địa không gian đã tạo điều kiện tốt cho quá trình thực tập của em.  
Sau cùng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và các bạn sinh viên lớp  
K59B-Khoa học môi trƣờng, đã luôn động viên, giúp đỡ em trong quá trình làm  
khóa luận tốt nghiệp.  
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!  
Hà Nội, ngày … tháng 05 năm 2018  
Sinh viên  
Quách Văn Tuấn  
MỤC LỤC  
TÓM TẮT NỘI DUNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  
1. Tên khóa luận tốt nghiệp :  
‘‘Nghiên cứu tổng hợp vật liệu nano MnFe2O4 để xử lí phẩm màu hữu cơ  
trong nƣớc ’’.  
2. Giáo viên hƣớng dẫn : ThS. Lê Khánh Toàn  
Ths. Đặng Thế Anh  
3. Sinh viên thực hiện : Quách Văn Tuấn – K59B – KHMT  
4. Mục tiêu nghiên cứu :  
1. Mục tiêu tổng quát:  
- Tổng hợp vật liệu nano MnFe2O4 làm vật liệu xúc tác cho quá trình oxi hóa  
nâng cao xử lí phẩm màu hữu cơ trong nƣớc.  
2. Mục tiêu cụ thể:  
- Chế tạo vật liệu nano MnFe2O4.  
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, thành phần của vật liệu.  
- Ứng dụng vật liệu nano MnFe2O4 thành xúc tác cho phản ứng Fenton dị thể oxi  
hóa phân hủy phẩm màu hữu cơ.  
5. Đối tƣợng nghiên cứu :  
- Dung dịch chứa phẩm nhuộm Reactive Yellow 160 (RY 160), Direct Red 23,  
Moderdirect Blue FBL, Solanis red F2G, Solanis rose FR.  
- Vật liệu nano MnFe2O4.  
6. Nội dung nghiên cứu :  
-Tổng hợp vật liệu nano MnFe2O4.  
- Khảo sát thành phần và cấu trúc của vật liệu bằng phƣơng pháp phổ SEM và  
EDX.  
- Khảo sát hoạt tính xúc tác của vật liệu cho quá trình oxi hóa nâng cao.  
- Ứng dụng vật liệu nano MnFe2O4 làm xúc tác cho phản ứng Fenton dị thể xử  
lý RY 160, DR 23, MB FBL, SR F2G, SR F2R.  
- Khảo sát các yếu tố ảnh hƣởng đến quá trình phản ứng: pH, lƣợng xúc tác,  
hàm lƣợng H2O2, thời gian phản ứng, nhiệt độ, nồng độ phẩm nhuộm.  
- Khảo sát khả năng thu hồi và tái sử dụng của vật liệu.  
7.Phƣơng pháp nghiên cứu :  
- Phƣơng pháp đồng kết tủa.  
- Phƣơng pháp xác định nồng độ RY 160 và DR 23, MB FBL, SR F2G, SR F2R  
trong mẫu.  
- Phƣơng pháp phổ tán xạ năng lƣợng tia X (EDX).  
- Phƣơng pháp sử dụng kính hiển vi điện tử quét (SEM).  
8. Những kết quả đạt đƣợc :  
- Tổng hợp thành công vật liệu nano MnFe2O4 bằng Phƣơng pháp đồng kết tủa  
để xử lí phẩm màu hữu cơ có trong nƣớc.  
- Xác định đƣợc đặc trƣng vật liệu nano MnFe2O4 : hình thái bề mặt và thành  
phần hóa học.  
- Điều kiện phù hợp để tiến hành kỹ thuật Fenton dị thể: lƣợng vật liệu nano  
MnFe2O4 xúc tác 0.2 g/L; nồng độ H2O2 4,9 mM; pH 2; đối với mẫu phẩm màu  
Reactive Yellow 160 có nồng độ 0,05 g/L.  
- Khả năng ứng dụng vật liệu để xử lí các phẩm nhuộm DR 23, MB FBL, SR  
F2G và SR FR.  
- Xác định đƣợc dung lƣợng xử lí của vật liệu nano MnFe2O4 đối với phẩm  
nhuộm RY 160 là 1336.76 (mg/g).  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
BOD  
COD  
Nhu cầu oxi sinh hóa  
Nhu cầu oxi hóa học  
Direct Red 23  
DR 23  
EDX  
Phổ tán xạ năng lƣợng tia X  
Hiệu suất phân hủy  
H
MB FBL  
RY 160  
SEM  
Phẩm màu Moderdirect Blue FBL  
Phẩm màu Reactive Yellow 160  
Kính hiển vi điện tử quét  
Phẩm màu Solanis rose FR  
Phẩm màu Solanis red F2G  
Phổ tử ngoại khả kiến  
SR FR  
SR F2G  
UV-vis  
DANH MỤC HÌNH  
MỞ ĐẦU  
Ô nhiễm môi trƣờng nói chung, ô nhiễm môi trƣờng nƣớc nói riêng đang  
là một vấn đề toàn cầu. Nguồn gốc ô nhiễm môi trƣờng nƣớc chủ yếu là do các  
nguồn nƣớc thải không đƣợc xử lý thải trực tiếp ra môi trƣờng bao gồm nƣớc  
thải sinh hoạt và nƣớc thải sản xuất công nghiệp, nông nghiệp... Một trong  
những ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trƣờng lớn là ngành dệt nhuộm. Với  
dây chuyền công nghệ phức tạp, bao gồm nhiều công đoạn sản xuất khác nhau  
nên nƣớc thải sau sản xuất dệt nhuộm chứa nhiều loại hợp chất hữu cơ độc hại,  
đặc biệt là các công đoạn tẩy trắng và nhuộm màu.  
Nghiên cứu, xử lý nƣớc thải có chứa phầm nhuộmhữu cơ khó phân hủy là  
một vấn đề rất quan trọng nhằm loại bỏ hết các chất này trƣớc khi xả ra môi  
trƣờng, bảo vệ con ngƣời và môi trƣờng sinh thái.  
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu và sử dụng  
các phƣơng pháp khác nhau nhằm xử lý các hợp chất hữu cơ độc hại trong nƣớc  
thải nhƣ: phƣơng pháp vật lý, phƣơng pháp sinh học, phƣơng pháp hoá học,  
phƣơng pháp điện hoá... Trong đó, việc xử lý các hợp chất hữu cơ độc hại bằng  
kỹ thuật Fenton dị thể sử dụng vật liệu nano là một trong những hƣớng nghiên  
cứu mới đã và đang đƣợc nhiều nhà khoa học trong và ngoài nƣớc quan tâm  
nghiên cứu, do có thể góp phần vào việc khắc phục nhƣợc điểm cơ bản của kỹ  
thuật Fenton đồng thể là chi phí cao cho hóa chất, nguyên vật liệu và khó thu  
hồi xúc tác.  
Trong khóa luận Nghiên cứu tổng hợp vật liệu nano MnFe2O4 để xử lí  
phẩm màu hữu cơ trong nước, vật liệu nano MnFe2O4 sử dụng làm xúc tác  
Fenton dị thể, một loại vật liệu có khả năng xúc tác cho quá trình oxi hóa nâng  
cao, chi phí thấp, ít ảnh hƣởng đến môi trƣờng, tiến hành tối ƣu hóa các điều  
kiện vận hành và tính toán các thông số cơ bản, đặc trƣng của quá trình xử lý.  
1
 
CHƢƠNG 1 – TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
1.1. Tổng quan về ngành dệt nhuộm.  
Ngành dệt nhuộm có nguồn gốc từ các làng nghề truyền thồng, sản xuất  
thủ công từ rất lâu đời. Tại Việt Nam ngành dệt nhuộm đƣợc hình thành và phát  
triển theo quy mô công nghiệp từ năm 1897 với nhà máy đầu tiên là nhà máy  
dệt Nam Định. Sau đó, ngành công nghiệp này đã nhanh chóng lớn mạnh sau  
Thế Chiến thứ 2 với quy mô và hình thức khác nhau. Ở miền Nam, các doanh  
nghiệp đƣợc thành lập và sử dụng máy móc hiện đại của Châu Âu. Ở miền Bắc,  
các doanh nghiệp nhà nƣớc do Trung Quốc, Liên Bang Xô Viết cũ và Đông Âu  
cùng thiết bị máy móc cũng nhƣ trong giai đoạn này.  
Năm 1954, sau khi miền bắc giành độc lập, Nhà máy Dệt Nam Định và  
Nhà máy Dệt lụa Nam Định đƣợc khôi phục, có thêm một số nhà máy khác  
đƣợc xây dựng mới nhƣ Nhà máy Dệt 8/3, Nhà máy Dệt Vĩnh Phú,… Các làng  
nghề truyền thống, các hợp tác xã dệt may đã đƣợc khuyến khích phát triển.  
Sau khi Việt Nam thống nhất (tháng 4 năm 1975), Chính phủ đã tiếp quản  
một loạt các nhà máy ở miền Nam nhƣ Công ty Dệt Thắng Lợi, Công ty Dệt  
Thành Công,…Sau đó, một số doanh nghiệp quốc doanh trung ƣơng đƣợc xây  
dựng nhƣ Công ty May Hà Nội, Công ty Dệt may Nha Trang, Công ty Dệt may  
Huế. Một số cơ quan cấp địa phƣơng cũng thành lập các doanh nghiệp may.  
Năm 2017, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may đạt 31,16 tỷ USD.  
2
   
1.1.1. Sơ đồ công nghệ ngành dệt nhuộm.  
Nguyên liệu đầu  
Kéo sợi, chải,  
ghép, đánh ống  
Nƣớc thải chứa hồ  
tinh bột, hóa chất  
Nƣớc, tinh bột, phụ  
gia, hơi nƣớc  
Hồ sợi  
Dệt vải  
Nƣớc thải chứa hồ  
tinh bột bị thủy  
phân, hóa chất  
Enzym  
NaOH  
Giũ hồ  
Nƣớc thải  
NaOH, hóa chất  
Hơi nƣớc  
Nấu  
H2SO4, H2O  
Chất tẩy giặt  
H2O2, NaOCl  
Hóa chất  
Nƣớc thải  
Nƣớc thải  
Xử lí axit, giặt  
Tẩy trắng  
Giặt  
H2SO4, H2O  
Chất tẩy giặt  
Nƣớc thải  
Nƣớc thải  
NaOH  
Làm bóng  
Nhuộm, in hoa  
Giặt  
Hóa chất  
Dịch nhuộm thải  
Dung dịch nhuộm  
Nƣớc thải  
Nƣớc thải  
H2SO4, H2O  
Chất tẩy giặt  
Hơi nƣớc  
Hoàn tất, văng khổ  
Sản phẩm  
Hồ, hóa chất  
Hình 1.1: Sơ đồ nguyên lý công nghệ dệt nhuộm hàng sợi bông và các nguồn  
nước thải.  
3
   
Thông thƣờng công nghệ dệt - nhuộm gồm ba quá trình cơ bản: kéo sợi,  
dệt vải và xử lý (nấu tẩy), nhuộm và hoàn thiện vải. Trong đó đƣợc chia thành  
các công đoạn sau:  
Làm sạch nguyên liệu: nguyên liệu thƣờng đƣợc đóng dƣới các dạng kiện  
bông thô chứa các sợi bong có kích thƣớc khác nhau cùng với các tạp chất tự nhiên  
nhƣ bụi, đất, hạt, cỏ rác… Nguyên liệu bông thô đƣợc đánh tung, làm sạch và trộn  
đều. Sau quá trình là, sạch, bông đƣợc thu dƣới dạng các tấm phẳng đều.  
Chải: các sợi bông đƣợc chải song song và tạo thành các sợi thô.  
Kéo sợi, đánh ống, mắc sợi: tiếp tục kéo thô tại các máy sợi con để giảm  
kích thƣớc sợi, tăng độ bền và quấn sợi vào các ống sợi thích hợp cho việc dệt  
vải. Sợi con trong các ống nhỏ đƣợc đánh ống thành các quả to để chuẩn bị dệt  
vải. Tiếp tục mắc sợi là dồn qua các quả ống để chuẩn bị cho công đoạn hồ sợi.  
Hồ sợi dọc: hồ sợi bằng hồ tinh bột và tinh bột biến tính để tạo màng hố  
bao quanh sợi, tăng độ bền, độ trơn và độ bóng của sợi để có thể tiến hành dệt  
vải. Ngoài ra còn dùng các loại hồ nhân tạo nhƣ polyvinylalcol PVA,  
polyacrylat,…  
Dệt vải: kết hợp sợi ngang với sợi dọc đã mắc thành hình tấm vải mộc.  
Giũ hồ: tách các thành phần của hồ bám trên vải mộc bằng phƣơng pháp  
enzym (1% enzym, muối và các chất ngấm) hoặc axit (dung dịch axit sunfuric  
0.5%). Vải sau khi giũ hồ đƣợc giặc bằng nƣớc, xà phòng, xút, chất ngấm rồi  
đƣa sang nấu tẩy.  
Nấu vải: Loại trừ phần hồ còn lại và các tạp chất thiên nhiên nhƣ dầu mỡ,  
sáp… Sau khi nấu vải có độ mao dẫn và khả năng thấm nƣớc cao, hấp thụ hóa  
chất, thuốc nhuộm cao hơn, vải mềm mại và đẹp hơn. Vải đƣợc nấu trong dung  
dịch kiềm và các chất tẩy giặt ở áp suất cao (2 - 3 at) và ở nhiệt độ cao (120 -  
130oC). Sau đó, vải đƣợc giặt nhiều lần.  
Làm bóng vải: mục đích làm cho sợi cotton trƣơng nở, làm tăng kích  
thƣớc các mao quản giữa các phần tử làm cho xơ sợi trở nên xốp hơn, dễ thấm  
nƣớc hơn, bóng hơn, tăng khả năng bắt màu thuốc nhuộm. Làm bóng vải thông  
4
thƣờng bằng dung dịch kiềm dung dịch NaOH có nồng độ từ 280 đến 300g/l, ở  
nhiệt độ thấp 10 - 20oC. sau đó vải đƣợc giặt nhiều lần. Đối với vải nhân tạo  
không cần làm bóng.  
Tẩy trắng: mục đích tẩy màu tự nhiên của vải, làm sạch các vết bẩn, làm  
cho vải có độ trắng đúng yêu cầu chất lƣợng. Các chất tẩy thƣờng dùng là natri  
clorit NaClO2, natri hypoclorit NaOCl hoặc hyrdo peroxyte H2O2 cùng với các  
chất phụ trợ. Trong đó đối với vải bông có thể dùng các loại chất tẩy H2O2,  
NaOCl hay NaClO2.  
Nhuộm vải hoàn thiện: mục đích tạo màu sắc khác nhau của vải. Thƣờng  
sử dụng các loại thuốc nhuộm tổng hợp cùng với các hợp chất trợ nhuộm để tạo  
sự gắn màu của vải. Phần thuốc nhuộm dƣ không gắn vào vải, đi vào nƣớc thải  
phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ công nghệ nhuộm, loại vải cần nhuộm, độ màu  
yêu cầu,…  
Thuốc nhuộm trong dịch nhuộm có thể ở dạng tan hay dạng phân tán. Quá  
trình nhuộm xảy ra theo 4 bƣớc:  
- Di chuyển các phân tử thuốc nhuộm đến bề mặt sợi.  
- Gắn màu vào bề mặt sợi.  
- Khuyết tán màu vào trong sợi, quá trình xảy ra chậm hơn quá  
trình trên.  
- Cố định màu và sợi.  
In hoa là tạo ra các vân hoa có một hoặc nhiều màu trên nền vải trắng  
hoặc vải màu, hồ in là một hỗn hợp gồm các loại thuốc nhuộm ở dạng hòa tan  
hay pigment dung môi. Các lớp thuốc nhuộm cùng cho in nhƣ pigment, hoạt  
tính, hoàn nguyên, azo không tan và indigozol. Hồ in có nhiều loại nhƣ hồ tinh  
bột, dextrin, hồ alginat natri, hồ nhũ tƣơng hay hồ nhũ hóa tổng hợp.  
Sau nhuộm và in, vải đƣợc giặt lạnh nhiều lần. Phần thuốc nhuộm không  
gắn vào vải và các hóa chất sẽ đi vào nƣớc thải. Văng khổ, hoàn tất vải với mục  
đích ổn định kích thƣớc vải, chống nhàu và ổn định nhiệt, trong đó sử dụng một  
số hóa chất chống màu, chất làm mềm và hóa chất nhƣ metylic, axit axetic,  
formaldehit.  
5
1.1.2 Các loại thuốc nhuộm thƣờng dùng  
Thuốc nhuộm hoạt tính  
Các loại thuốc nhuộm thuộc nhóm này có công thức cấu tạo tổng quát là  
S-F-T-X trong đó: S là nhóm làm cho thuốc nhuộm có tính tan; F là phần mang  
màu, thƣờng là các hợp chất Azo (-N=N-), antraquinon, axit chứa kim loại hoặc  
ftaloxiamin; T là gốc mang nhóm phản ứng; X là nhóm phản ứng. Loại thuốc  
nhuộm này khi thải vào môi trƣờng có khả năng tạo thành các amin thơm đƣợc  
xem là tác nhân gây ung thƣ.  
Thuốc nhuộm trực tiếp  
Đây là thuốc nhuộm bắt màu trực tiếp với xơ sợi không qua giai đoạn xử  
lý trung gian, thƣờng sử dụng để nhuộm sợi 100% cotton, sợi protein (tơ tằm)  
và sợi poliamid, phần lớn thuốc nhuộm trực tiếp có chứa azo (môn, di and  
poliazo) và một số là dẫn xuất của dioxazin. Ngoài ra, trong thuốc nhuộm còn  
có chứa các nhóm làm tăng độ bắt màu nhƣ triazin và salicylic axit có thể tạo  
phức với các kim loại để tăng độ bền màu.  
Thuốc nhuộm hoàn nguyên  
Thuốc nhuộm hoàn nguyên gồm 2 nhóm chính: nhóm đa vòng có chứa  
nhân antraquinon và nhóm indigoit có chứa nhân indigo. Công thức tổng quát là  
R=C-O; trong đó R là hợp chất hữu cơ nhân thơm, đa vòng. Các nhân thơm đa  
vòng trong loại thuốc nhuộm này cũng là tác nhân gây ung thƣ, vì vậy khi không  
đƣợc xử lý, thải ra môi trƣờng, có thể ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời.  
Thuốc nhuộm phân tán  
Nhóm thuốc nhuộm này có cấu tạo phân tử tƣ gốc azo và antraquinon và  
nhóm amin (NH2, NHR, NR2, NR-OH), dùng chủ yếu để nhuộm các loại sợi  
tổng hợp (sợi axetat, sợi polieste…) không ƣa nƣớc.  
Thuốc nhuộm lưu huỳnh  
Là nhóm thuốc nhuộm chứa mạch dị hình nhƣ tiazol, tiazin, zin… trong  
đó có cầu nối –S-S- dùng để nhuộm các loại sợi cotton và viscose.  
6
 
Thuốc nhuộm axit  
Là các muối sunfonat của các hợp chất hữu cơ khác nhau có công thức là  
R-SO3Na khi tan trong nƣớc phân ly thành nhóm R-SO3 mang màu. Các thuốc  
nhuộm này thuộc nhóm mono, diazo và các dẫn xuất của antraquinon, triaryl  
metan…  
Thuốc in, nhuộm pigmen  
Có chứa nhóm azo, hoàn nguyên đa vòng, ftaoxianin, dẫn suất của  
antraquinon…  
1.1.3. Nhu cầu về nƣớc và nƣớc thải trong quá trình dệt nhuộm.  
Công nghệ dệt nhuộm sử dụng nƣớc khá lớn: từ 12 đến 65 lít nƣớc cho 1  
mét vải và thải ra từ 10 đến 40 lít nƣớc.  
Bảng 1.1. Tỉ lệ Nƣớc dùng trong nhà máy dệt :  
Nƣớc dùng trong nhà máy dệt  
Sản xuất hơi nƣớc  
Tỉ lệ (%)  
5,3%  
Làm mát thiết bị  
6,4%  
Phun mù và khử bụi trong các phân xƣởng  
Nƣớc dùng trong các công đoạn công nghệ  
Nƣớc vệ sinh và sinh hoạt  
7,8%  
72,3%  
7,6%  
Phòng hỏa và cho các việc khác  
0,6%  
1.2. Ảnh hƣởng của nƣớc thải dệt nhuộm đến môi trƣờng.  
1.2.1. Các chất ô nhiễm chính.  
Nƣớc thải công nghiệp dệt nhuộm gồm có các chất ô nhiễm chính: Nhiệt  
độ cao, các tạp chất tách ra từ vải sợi nhƣ dầu mỡ, các hợp chất chứa nitơ,  
pectin, các chất bụi bẩn dính vào sợi; các hóa chất sử dụng trong quy trình công  
nghệ nhƣ hồ tinh bột, H2SO4, CH3COOH, NaOH, NaOCl, H2O2,Na2CO3,  
7
       
Na2SO3… các loại thuốc nhuộm, các chất trợ, chất ngấm, chất cầm màu, chất  
tẩy giặt. Lƣợng hóa chất sử dụng tùy thuộc loại vải, màu và chủ yếu đi vào nƣớc  
thải của các công đoạn sản xuất.  
Bảng1.2: Các chất gây ô nhiễm và đặc tính nƣớc thải ngành dệt - nhuộm  
Công  
Đặc tính của nƣớc  
thải  
Chất ô nhiễm trong nƣớc thải  
đoạn  
BOD cao (34%-  
50% tổng sản lƣợng  
BOD)  
Hồ sợi, Tinh bột, glucozo, carboxy metyl xelulozo,  
giũ hồ  
Nấu, tẩy  
Tẩy trắng  
polyvinyl alcol, nhựa, chất béo và sáp  
Độ kiềm cao, màu  
tối, BOD cao (30%  
tổng BOD)  
NaOH, chất sáp và dầu mỡ, soda, silicat,  
natri và xơ sợi vụn  
Hipoclorit, hợp chất chứa clo, NaOH, AOX, Độ kiềm cao  
axit (chiếm 5% BOD)  
Độ kiềm cao, BOD  
thấp (dƣới 1% tổng  
BOD)  
Làm bóng NaOH và tạp chất  
Độ màu rất  
Các loại thuốc nhuộm, axitaxetic và các muối cao,BOD khá cao  
Nhuộm  
kim loại.  
(6% tổng BOD), TS  
cao.  
Độ màu cao, BOD  
cao và dầu mỡ  
Kiềm nhẹ, BOD  
thấp, lƣợng nhỏ  
In  
Chất màu, tinh bột, dầu, muối kim loại, axit.  
Vệt tinh bột, mỡ động vật, muối  
Hoàn  
thiện  
8
 
1.2.2.Ảnh hƣởng của các chất thải đến môi trƣờng.  
- Nƣớc thải dệt nhuộm gây ra các vấn đề ô nhiễm môi trƣờng không chỉ  
xuất hiện tại những khu công nghiệp cao, hay những vùng đô thị mà còn xuất  
hiện cả ở những vùng nông thôn, nơi có nghề truyền thống là dệt nhuộm. Và  
đây là một trong những vấn đề nan giải mà nhà nƣớc ta hiện nay vẫn đang tìm  
cách giảm thải vấn đề ô nhiễm từ nghề dệt nhuộm truyền thống tại những vùng  
nông thôn này. Bởi những tác hại của nƣớc thải dệt nhuộm tại các làng nghề là quá  
lớn ảnh hƣởng đến sức khỏe cũng nhƣ gây ô nhiễm môi trƣờng tại những nơi mà  
chúng ta cho rằng có bầu không khí trong lành và có nguồn nƣớc sạch tự nhiên.  
- Độ kiềm cao làm tăng pH của nƣớc. Nếu pH > 9 sẽ gây độc hại đối với  
thủy sinh, gây ăn mòn các công trình thoát nƣớc và hệ thống xử lý nƣớc thải.  
- Muối trung tính làm tăng hàm lƣợng tổng rắn. Lƣợng thải lớn gây tác  
hại đối với đời sống thủy sinh do làm tăng áp suất thẩm thấu, ảnh hƣởng đến  
quá trình trao đổi của tế bào.  
- Hồ tinh bột biến tính làm tăng BOD, COD của nguồn nƣớc, gây tác hại  
đối với đời sống thủy sinh do làm giảm oxy hòa tan trong nguồn nƣớc.  
- Độ màu cao do lƣợng thuốc nhuộm dƣ đi vào nƣớc thải gây màu cho  
dòng tiếp nhận, ảnh hƣởng tới quá trình quang hợp của các loài thủy sinh, ảnh  
hƣởng xấu tới cảnh quan.  
- Hàm lƣợng ô nhiễm các chất hữu cơ cao sẽ làm giảm oxy hòa tan trong  
nƣớc ảnh hƣởng tới sự sống của các loài thủy sinh.  
- Ngành dệt nhuộm không chỉ gây ô nhiễm nguồn nƣớc, mà còn tác động  
đến không khí, ô nhiễm rác thải và tiếng ồn. Bụi bông sinh ra trong quá trình  
giàn sợi, đánh ống xe sợi, dệt vải. Hơi hóa chất phát sinh trong quá trình nấu,  
tẩy, nhuộm do sử dụng hóa chất ở nhiệt độ cao và hầu hết các thiết bị sản xuất  
đều là thiết bị hở. Hơi hóa chất chủ yếu là bazo, HCl, Cl2, CH3COOH, chất tẩy  
giặt. Khí thải lò đốt chứa nhiều thành phần ô nhiễm môi trƣờng không khí nhƣ  
CO2, SO2, CO, NOx và bụi gây ra các vấn đề ô nhiễm không khí. Xơ nhộng, vụn  
bông, tơ vụn trong quá trình dệt phát sinh ra nhiều rác thải, gây ô nhiễm rác  
thải. Thiếu ánh sáng, chế độ gió và ẩm gây ra ô nhiễm tiếng ồn.  
9
 
- Sự ô nhiễm môi trƣờng do ngành dệt nhuộm gây nên gây ra những tổn  
thất nặng nề về mặt kinh tế và những xung đột môi trƣờng trong cộng đồng nảy  
sinh ngày càng lớn, ảnh hƣởng nghiêm trọng tới sức khỏe con ngƣời.  
1.3. Tổng quan về vật liệu nano.  
1.3.1. Khái niệm về vật liệu nano  
Trong những năm gần đây trên thị trƣờng bắt đầu xuất hiện nhiều sản  
phẩm đƣợc quảng bá sử dụng công nghệ nano sắt, bạc, thiết bị lọc nƣớc nano, tủ  
lạnh nano, máy giặt nano, nano LCD, mỹ phẩm nano, sơn nano, ipod  
nano,...”Công nghệ nano” không chỉ góp phần nâng cao chất lƣợng sản phẩm  
mà còn trở thành một chiêu thức tiếp thị của các nhà sản xuất nhằm thu hút  
đƣợc sự chú ý của ngƣời tiêu dùng. Vậy thực chất công nghệ nano là gì, nó  
đƣợc ứng dụng nhƣ thế nào trong đời sống khoa học kĩ thuật hiện nay.  
Khái niệm về công nghệ nano đƣợc nhắc đến năm 1959 khi nhà vật lí  
ngƣời mỹ Richard Feynman đề cập tới khả năng chế tạo vật chất ở kích thƣớc  
siêu nhỏ đi từ quá trình tập hợp các nguyên tử, phân tử. Những năm 1980, nhờ  
sự ra đời của hàng loạt các thiết bị phân tích, trong đó có kính hiển vi đầu dò  
quét( SPM haySTM) có khả năng quan sát đến kích thƣớc vài nguyên tử hay  
phân tử, con ngƣời có thể quan sát và hiểu rõ hơn về lĩnh vực nano. Từ đó công  
nghệ nano bắt đầu đƣợc nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự phát  
triển của công nghệ nano là sự ra đời của hàng loạt các vật liệu nano mới nhƣ  
nanocomposittes gốm, polymer clay, sợi nano, xúc tác nano,...Các vật liệu nano  
có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống và khoa học kĩ thuật của nhân loại.  
Công nghệ nano (nanotechnology) là nghàng công nghệ liên quan đến việc thiết  
kế, phân tích, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị và hệ thống bằng việc  
điều khiển hình dáng, kíc thƣớc trên qui mô nanomet. Nói cách khác, công nghệ  
nano có nghĩa là kĩ thuật sử dụng kích thƣớc từ 0,1-100nm để tạo ra sự biến đổi  
hoàn toàn về lí tính 1 cách sâu sắc do hiệu ứng kích thƣớc lƣợng tử(quantum  
size effect)  
10  
   
Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thƣớc của chúng rất  
nhỏ bé có thể so sánh với các kích thƣớc tới hạn của nhiều tính chất hóa lí của  
vật liệu. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lƣợng tử của nguyên tử và tính chất  
khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ  
so với độ lớn của vật liệu, nhƣng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng  
nên các tính chất khác lạ bắt đầu từ nguyên nhân này.  
1.3.2. Các phƣơng pháp chế tạo vật liệu nano  
Các vật liệu nano có thể đƣợc chế tạo bằng bốn phƣơng pháp phổ biến,  
mỗi phƣơng pháp đều có những điểm mạnh và điểm yếu, một số phƣơng pháp  
có thể đƣợc áp dụng với một số vật liệu tùy thuộc vào yêu cầu vật liệu, điều kiện  
trang bị phòng thí nghiệm…  
a, Phƣơng pháp hóa ƣớt (wet chemical methods)  
Phƣơng pháp hóa ƣớt gồm có phƣơng pháp thủy nhiệt, sol-gel, và đồng  
kết tủa. Theo phƣơng pháp này, các dung dịch chứa ion khác nhau đƣợc trộn với  
nhau theo một tỷ phần thích hợp, dƣới tác động của nhiệt độ, áp suất, điều kiện  
pH… mà các vật liệu nano đƣợc kết tủa từ dung dịch. Sau các quá trình lọc, sấy  
khô, ta thu đƣợc các vật liệu có kích thƣớc nano.  
Ƣu điểm của phƣơng pháp hóa ƣớt là các vật liệu có thể chế tạo đƣợc rất  
đa dạng, chúng có thể là vật liệu vô cơ, hữu cơ, kim loại. Đặc điểm của phƣơng  
pháp này là rẻ tiền và có thể chế tạo đƣợc một khối lƣợng lớn vật liệu nhƣng nó  
cũng có nhƣợc điểm là các hợp chất có liên kết với phân tử nƣớc có thể là một  
khó khăn, phƣơng pháp sol-gel thì không có hiệu suất cao, sản phẩm không  
đồng nhất.  
b, Phƣơng pháp cơ học (Nano-Mechanical Method)  
Bao gồm các phƣơng pháp tán, nghiền, hợp kim cơ học. Theo phƣơng  
pháp này, vật liệu ở dạng bột đƣợc nghiền đến kích thƣớc nhỏ hơn. Ngày nay,  
các máy nghiền thƣờng dùng là máy nghiền kiểu hành tinh hay máy nghiền  
quay. Phƣơng pháp cơ học có ƣu điểm là đơn giản, dụng cụ chế tạo không đắt  
tiền và có thể chế tạo với một lƣợng lớn vật liệu. Tuy nhiên, nó lại có nhƣợc  
11  
 
điểm là các hạt bị kết tụ với nhau, phân bố kích thƣớc hạt không đồng nhất, dễ  
bị nhiễm bẩn từ các dụng cụ chế tạo và thƣờng khó có thể đạt đƣợc hạt có kích  
thƣớc nhỏ. Phƣơng pháp này thƣờng đƣợc dùng để tạo vật liệu không phải là  
hữu cơ nhƣ là kim loại.  
c, Phƣơng pháp bốc bay nhiệt (thermal evaporation method)  
Gồm các phƣơng pháp quang khắc (lithography), bốc bay trong chân  
không (vacuum deposition) vật lí, hóa học. Các phƣơng pháp này áp dụng hiệu  
quả trong chế tạo màng mỏng hoặc lớp bao phủ bề mặt, ngƣời ta cũng có thể  
dùng nó để chế tạo hạt nano bằng cách cạo vật liệu nano từ tấm chắn. Tuy  
nhiên, phƣơng pháp này không hiệu quả lắm để có thể chế tạo vật liệu ở quy mô  
thƣơng mại.  
d, Phƣơng pháp hình thành từ pha khí (gas-phase method)  
Gồm các phƣơng pháp nhiệt phân (flame pyrolysis), nổ điện (electro-  
explosion), đốt laser (laser ablation method), bốc bay nhiệt độ cao, plasma.  
Nguyên tắc của các phƣơng pháp này là hình thành vật liệu nano từ pha khí.  
Nhiệt phân là phƣơng pháp có từ rất lâu, đƣợc dùng để tạo các vật liệu đơn giản  
nhƣ carbon, silicon. Phƣơng pháp đốt laser thì có thể tạo đƣợc nhiều loại vật  
liệu nhƣng lại chỉ giới hạn trong phòng thí nghiệm vì hiệu suất của chúng thấp.  
Phƣơng pháp plasma một chiều và xoay chiều có thể dùng để tạo rất nhiều vật  
liệu khác nhau nhƣng lại không thích hợp để tạo vật liệu hữu cơ vì nhiệt độ của  
nó có thể đến 9000oC.  
1.3.3.Phân loại vật liệu nano  
Vật liệu nano là vật liệu trong đó có ít nhất 1 chiều có kích thƣớc nm. Căn cứ  
vào các tiêu chí khác nhau mà có thể chia vật liệu nano thành các nhóm khác nhau.  
- Căn cứ vào trạng thái vật liệu : ngƣời ta chia thành 3 loại rắn, lỏng, khí.  
Trong đó vật liệu nano đƣợc tập trung nghiên cứu hiện nay chủ yếu là vật liệu  
rắn sau đó mới đến chất lỏng và khí.  
- Căn cứ vào tính chất vật liệu: ngƣời ta chia vật liệu nano thành vật liệu nano  
bán dẫn, vật liệu nano kim loại, vật liệu nano từ tính, vật liệu nano sinh học,...  
12  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 56 trang yennguyen 26860 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu tổng hợp vật liệu nano MnFe₂O₄ để xử lí phẩm màu hữu cơ trong nước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_tong_hop_vat_lieu_nano_mnfeo_de_xu_li_p.pdf