Đồ án Thu nhận sophorolipids tổng hợp từ chủng Candida bombicola với nguồn đường glucose và dầu hạt cải

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
THU NHẬN SOPHOROLIPIDS  
TỔNG HỢP TỪ CHỦNG Candida bombicola  
VỚI NGUỒN ĐƯỜNG GLUCOSE VÀ DẦU HẠT CẢI  
Ngành  
: Công nghệ sinh học  
Chuyên ngành : Công nghệ sinh học  
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Hoàng Dũng  
ThS. Lê Quỳnh Loan  
Sinh viên thực hiện  
: Nguyễn Thị Yến Nhi  
MSSV: 1311100539 - Lớp: 13DSH02  
TP. Hồ Chí Minh, 2017  
Đồ án tốt nghiệp  
LỜI CAM ĐOAN  
Người thực hiện đề tài:  
Sinh viên trường:  
Khoa:  
Nguyễn Thị Yến Nhi  
Đại học Công Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh  
Công nghệ sinh học – Thực phẩm – Môi trường  
Công nghệ sinh học  
Ngành:  
Chuyên ngành:  
Lớp:  
Công nghệ sinh học  
13DSH02  
MSSV:  
1311100539  
Đồ án tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng  
dẫn của TS. Nguyễn Hoàng Dũng và ThS. Lê Quỳnh Loan, thực hiện tại Viện Sinh  
học Nhiệt đới. Những số liệu và kết quả phân tính trong đề tài này hoàn toàn trung  
thực, không sao chép từ bất kỳ nguồn tài liệu tham khảo nào khác dưới bất kỳ hình  
thức nào. Một số nội dung trong đồ án tốt nghiệp có tham khảo và sử dụng dữ liệu  
trích dẫn được công bố công khai trên các website, tác phẩm theo danh mục tài liệu  
tham khảo của đồ án.  
Nếu có bất cứ sự sao chép và không trung thực trong bài báo này, người thực  
hiện đề tài xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước khoa Công nghệ sinh học – Thực  
phẩm – Môi trường và trươc ban giám hiệu trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ  
Chí Minh.  
Ngày … tháng … năm 2017  
Sinh viên thực hiện  
Nguyễn Thị Yến Nhi  
i
 
Đồ án tốt nghiệp  
LỜI CÁM ƠN  
Trong thời gian vừa qua, được sự giới thiệu của trường Đại Học Công Nghệ  
TP. HCM, em đã có dịp thực tập và tìm hiểu về Viện Sinh Học Nhiệt Đới. Tại trung  
tâm, em được ôn lại, kiểm chứng những kiến thức đã được tích lũy trên ghế nhà  
trường vào trong thực tiễn và học được nhiều bài học kinh nghiệm thực tế hơn, được  
tiếp xúc, tìm hiểu các loài vi sinh vật và các trang thiết bị trong phòng vi sinh.  
Để hoàn thành đợt thực tập này, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm và  
giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô, các anh chị và các bạn.  
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Dũng  
và Thạc sĩ Lê Quỳnh Loan đã mở lòng nhận em vào thực tập tại trung tâm. Trong  
suốt thời gian thực tập, thầy và chị cũng đã hết lòng hướng dẫn em, để em có thể đạt  
được kết quả nghiên cứu tốt nhất, cũng như am hiểu toàn bộ về các phương pháp  
nghiên cứu.  
Bên cạnh đó em xin cám ơn Tiến sĩ Hoàng Quốc Khánh và thầy Ngô Đức Duy.  
Dù không trực tiếp hướng dẫn nghiên cứu, nhưng vẫn cho em những lời khuyên vô  
cùng quý báu, sâu sắc và những nụ cười rạng rỡ mỗi ngày.  
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến đến quý Thầy/Cô Khoa Công  
nghệ Sinh Học – Thực Phẩm – Môi Trường, trường Đại học Công Nghệ TP. Hồ Chí  
Minh đẫ tận tình truyền đạt những kiến thức hết sức bổ ích cho em khi còn ngồi trên  
giảng đường trường đại học.  
Lời cuối cùng, em xin gửi lời chúc tới toàn thể quý thầy quý cô đang giảng  
dạy, nghiên cứu tại Viện Sinh học Nhiệt Đới cũng như tại Đại học thành phố Hồ Chí  
Minh, thật dồi dào sức khỏe, để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền  
đạt kiến thức cho thế hệ mai sau.  
Sinh viên thực hiện  
Nguyễn Thị Yến Nhi  
ii  
 
Đồ án tốt nghiệp  
MỤC LỤC  
iii  
Đồ án tốt nghiệp  
iv  
Đồ án tốt nghiệp  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
CHDBM  
CHDBMSH  
DMSO  
DPPH  
IC50  
Chất hoạt động bề mặt  
Chất hoạt động bề mặt sinh học  
Dimethyl sulfoxide  
2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl  
Inhibitory concentration 50%  
Luria Bertani  
LB  
LM  
Môi trường lên men chính  
Minimum inhibitory concentration  
Optical density  
MIC  
OD  
SLs  
Sophorolipids  
TLC  
Thin-layer chromatography  
Môi trường tăng sinh/giữ giống  
YM  
v
 
Đồ án tốt nghiệp  
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH  
vii  
 
Đồ án tốt nghiệp  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Mỗi năm trên toàn thế giới người ta sản xuất ra khoảng 10 triệu tấn chất hoạt  
động bề mặt (CHDBM), mức tiêu thụ được chia đều cho ứng dụng trong các hợp chất  
tẩy rửa và ứng dụng trong công nghiệp (Van Bogaert và cộng sự, 2007). CHDBM  
được biết đến bởi phạm trù ứng dụng rộng rãi như: chất tẩy rửa, thực/dược/mỹ phẩm,  
chế phẩm nông nghiệp. Nhưng vì chủ yếu CHDBM được tổng hợp theo con đường  
hóa học và nguồn gốc là từ dầu mỏ, khó phân hủy và có khả năng gây độc cho môi  
trường. Vì thế trọng tâm nghiên cứu CHDBM trong thời gian gần đây là tìm ra  
CHDBM có nguồn gốc từ sinh học, chủ yếu là do vi sinh vật tổng hợp. Ưu điểm của  
chất hoạt động bề mặt sinh học (CHDBMSH) là độc tính thấp, khả năng phân hủy  
sinh học cao và khả năng ứng dụng rộng hơn. CHDBMSH chủ yếu là glycolipid,  
phospholipids, hợp chất polyme và lipopeptides.  
Sophorolipid (SLs) là một trong những CHDBMSH, được cấu thành từ đường  
sophorose liên kết với một chuỗi acid béo, chiều dài chuỗi phụ thuộc vào nguồn  
carbon được sử dụng. SLs là một trong những CHDBMSH có thể tổng hợp từ các  
nguồn nguyên liệu tái sử dụng. Không chỉ dừng lại ở đó, SLs còn có khả năng ức chế  
một số loại nấm men (Van Bogaert và cộng sự, 2007), nấm bệnh thực vật (Yoo và  
cộng sự, 2005) và vi khuẩn (Mager và cộng sự, 1987; Lang và cộng sự, 1989). Ngoài  
ra SLs còn có khả năng chống bám, ức chế sự hình thành của màng sinh học (Zezzi  
do và cộng sự, 2012).  
Năm 2016, tại Việt Nam công trình nghiên cứu về SLs đầu tiên được hoàn  
thành - Thu nhận và khảo sát một số hoạt tính của SLs từ quá trình lên men chủng  
Candida bombicola từ dầu dừa (L.Q. Loan và cộng sự, 2016). Tuy vậy, nhưng kết  
quả khảo sát hoạt tính SLs của nghiên cứu này thu được chỉ từ một nguồn dầu dừa.  
Do đó nghiên cứu này sẽ tiếp tục mở rộng sang nguồn nguyên liệu lên men khác, sử  
dụng nguồn dầu hạt cải – chứa 61% acid oleic và đường glucose – đơn tử cấu thành  
sophorose, kế đó khảo sát một số hoạt tính sinh học của sophorolipid thu được.  
1
 
Đồ án tốt nghiệp  
2. Tình hình nghiên cứu  
Van Bogaert và cộng sự đã công khai bài báo cáo khoa học nghiên cứu toàn  
diện về mọi khía cạnh trong quy trình sản xuất thu nhận SLs (tăng sinh nấm men,  
con đường tổng hợp sinh học, ảnh hưởng của thành phần môi trường, điều kiện lên  
men). Chủ yếu nhóm nghiên cứu tập trung vào mục tiêu tối ưu hóa điều kiện lên  
men cho vi sinh vật để tổng hợp nên SLs trong quá trình lên men chìm.  
Đáng chú ý nhất là năm 2005, Vishal Shah và cộng sự đã đưa ra những kết quả  
đầu tiên chứng tỏ khả năng ức chế virus HIV của SLs. Tại nồng độ 3mg/ml tất cả các  
dẫn xuất SLs đều có hoạt tính kháng virus HIV, khử hoạt tính của virus trong vòng  
chưa đầy 2 phút. Riêng dẫn xuất diacetate ethyl ester SLs là dẫn xuất hoạt động mạnh  
nhất. Ngoài ra năm 2012, Shao và cộng sự đã nghiên cứu khả năng kháng ung thư  
thực quản của SLs trên người. Kết quả chứng minh rằng có sự ức chế của SLs lactonic  
lên tế bào thực quản (ở nồng độ 30 µg/ml). Sự khác biệt về độ bão hòa acid béo trong  
phân tử SLs có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng gây độc cho tế bào ung thư.  
Năm 2016, tại Việt Nam công trình nghiên cứu về SLs đầu tiên được hoàn thành  
“Thu nhận và khảo sát một số hoạt tính của SLs từ quá trình lên men chủng Candida  
bombicola từ dầu dừa” (L.Q. Loan và cộng sự, 2016). Hứa hẹn cho công cuộc sản  
xuất một hợp chất CHDBMSH mới, có ứng dụng rộng rãi hơn trong đời sống và công  
nghiệp.  
3. Mục đích nghiên cứu  
Khảo sát hoạt tính của Sophorolipids thu nhận qua quá trình lên men chủng  
Candida bombicola ATCC 22214 từ nguồn dầu hạt cải và đường glucose.  
4. Nhiệm vụ nghiên cứu  
- Lên men chủng nấm Candida bombicola ATCC 22214  
- Thu nhận SLs từ dịch lên men  
- Định tính SLs.  
- Khảo sát khả năng kháng khuẩn của SLs thu nhận được  
- Khảo sát khả năng chống oxy của SLs thu nhận được.  
5. Phương pháp nghiên cứu  
2
Đồ án tốt nghiệp  
Thu nhận SLs thông qua nuôi cấy chủng C. bombicola ATCC 22214 ở điều  
kiện 25oC, tốc độ lắc 180 vòng/phút.  
Định tính SLs bằng kỹ thuật sắc ký bảng mỏng (Thin Layer Chromatography  
– TLC)  
Xác định khả năng kháng khuẩn của SLs bằng phương pháp khuếch tán trên  
đĩa thạch và phương pháp xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC)  
Xác định khả năng chống oxy hóa của SLs thông qua khả năng bắt gốc tự do  
2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl (DPPH).  
6. Kết quả đạt được  
Sản lượng SLs thô thu được từ dịch nuôi cấy nấm C. bombicola ATCC 22214  
từ nguồn dầu hạt cải và đường glucose là 20.76 g/l.  
Trong hỗn hợp SLs thô thu được có sự hiện diện của 1,4” – Sophorolactone 6’,6”  
– diacetate. Ngoài ra trong hỗn hợp thu được còn có các SLs cấu trúc khác và một số  
chất khác.  
Khả năng ức chế chủng Staphylococus aureus là đáng chú ý, cao gấp 3 lần các  
chủng vi khuẩn khảo sát còn lại. Khả năng kháng của SLs đối với các chủng  
Escherichia coli, Bacillus subtilis, Pseudonomas aeruginosa, Salmonella  
typhimurium không có sự khác biệt đáng kể.  
Nồng độ ức chế tối thiểu của SLs đối với 3 chủng vi khuẩn Bacillus subtilis,  
Escherichia coli, Staphylococus aureus là cao nhất (12.5 mg/ml). Nồng độ ức chế tối  
thiểu của SLs đối với chủng Salmonella typhimurium là khá thấp so với các chủng  
khác (0.7812 mg/ml).  
Khả năng kháng oxy hóa đạt 77.64% ở nồng độ 20 mg/ml. Nồng độ bắt gốc tự  
do của sophorolipids thu nhận là 4.51 mg/ml.  
7. Kết cấu của đồ án  
- Chương 1: Tổng quan  
- Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu  
- Chương 3: Kết quả và thảo luận  
- Chương 4: Kết luận và kiến nghị  
3
Đồ án tốt nghiệp  
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN  
1.1.  
CHẤT HOẠT ĐỘNG BỀ MẶT (Surfactant)  
1.1.1. Định nghĩa  
Chất có hoạt tính bề mặt là những hợp chất làm giảm sức căng bề mặt liên pha  
giữa hai chất lỏng hoặc giữa chất rắn và chất lỏng. Từ “Surfactant” được viết tắt từ  
cụm từ surface active agent, tức là tác nhân hoạt động bề mặt. Chúng được ứng dụng  
làm chất tẩy rửa, chất thấm ướt, chất nhũ hóa, chất tạo bọt, chất phân tán.  
Chất hoạt động bề mặt (CHDBM) là một thành phần không thể thiếu trong  
cuộc sống chúng ta, và ứng dụng của chúng hứa hẹn còn vươn xa hơn so với nhu cầu  
của nhân loại. Do đó, sản lượng CHDBM thu được mỗi năm vượt qua con số 18 triệu  
tấn trên toàn thế giới, trong đó có 3 triệu tấn được sản xuất ở Tây Âu. Một nửa sản  
lượng này là thành phần trong chất tẩy rửa, phần còn lại ứng dụng trong công nghệ  
thực phẩm, mỹ phẩm, hóa chất, sản xuất giấy, nông nghiệp,…  
CHDBM được sản xuất từ 2 nguồn nguyên liệu chính: dầu mỏ hoặc chất thải  
có nguồn gốc sinh học. Việc tái sử dụng nguồn chất thải sinh học để sản xuất ra một  
nguyên liệu mới đã cải thiện đáng kể hiện tượng nhà kính, tuy vậy hoạt động sản  
CHDBM từ nguồn chất thải sinh học chỉ mới chiếm 25% trong tổng hoạt động sản  
xuất CHDBM.  
1.1.2. Cấu trúc phân tử  
Chất hoạt động bề mặt thường là các hợp chất hữu cơ có đồng thời một phần  
ưa nước (tan trong nước) và một phần kỵ nước (tan trong dầu). Khi hòa vào một hệ  
nhũ tương, surfactant sẽ tập trung ở các màng liên pha không khí – nước, dầu – nước,  
gắn kết hai pha lại với nhau, làm cho hệ trở nên ổn định hơn.  
Lượng chất hoạt động bề mặt sản xuất ra trên toàn thế giới ước tính khoảng 15  
triệu tấn/năm, chiếm gần một nữa lượng xà phòng.  
Hình 1.1. Natri stearate (C17H35COONa) – thành phần chính trong xà phòng  
4
         
Đồ án tốt nghiệp  
1.1.3. Đặc điểm  
Chất hoạt động bề mặt được dùng giảm sức căng bề mặt của một chất lỏng  
bằng cách làm giảm sức căng bề mặt tại màng liên pha (interface) của hai chất lỏng.  
Nếu có nhiều hơn hai chất lỏng không hòa tan thì chất hoạt hóa bề mặt làm tăng diện  
tích tiếp xúc giữa hai chất lỏng đó.  
Hình 1.2. Màng liên pha giữ dầu và nước  
Khi hòa chất hoạt hóa bề mặt vào trong một chất lỏng thì các phân tử của chất  
hoạt hóa bề mặt có xu hướng tạo đám (micelle), nồng độ mà tại đó các phân tử bắt  
đầu tạo đám được gọi là nồng độ tạo đám tới hạn. Nếu chất lỏng là nước thì các phân  
tử sẽ chụm đuôi kị nước lại với nhau và quay đầu ưa nước ra tạo nên những hình dạng  
khác nhau như hình cầu (0 chiều), hình que (1 chiều), màng (2 chiều).  
Hình 1.3. Các dạng phân bố của phân tử hoạt động bề mặt  
Tính ưa, kị nước của một chất hoạt hóa bề mặt được đặc trưng bởi một thông  
số là độ cân bằng ưa kị nước (tiếng Anh: Hydrophilic Lipophilic Balance-HLB), giá  
trị này có thể từ 0 đến 40. HLB càng cao thì hóa chất càng dễ hòa tan trong nước,  
HLB càng thấp thì hóa chất càng dễ hòa tan trong các dung môi không phân cực như  
dầu.  
5
     
Đồ án tốt nghiệp  
Hình 1.4. Sự khác nhau về hoạt độ nước và cấu trúc phân tử  
1.1.4. Phân loại  
Tùy theo tính chất mà chất hoạt hóa bề mặt được phân theo các loại khác nhau.  
Nếu xem theo tính chất điện của đầu phân cực của phân tử chất hoạt hóa bề mặt thì  
có thể phân chúng thành các loại sau:  
1.1.4.1. Chất hoạt hóa ion  
Chất hoạt hóa dương: khi bị phân cực thì đầu phân cực mang điện dương, ví dụ:  
Cetyl trimêtylamôni brômua (CTAB).  
- Cetyl trimetylammonium bromua (CTAB)  
- Cetyl pyridinium clorua (CPC)  
- Polyethoxylated tallow amin (POEA)  
- Benzalkonium clorua (BAC)  
- Benzethonium clorua (BZT)  
Chất hoạt hóa âm: khi bị phân cực thì đầu phân cực mang điện âm  
- Natri dodecyl sulfat (SDS), amoni lauryl sulfat, và các muối ankyl sulfat khác  
- Natri laureth sulfat, hay natri lauryl ete sulfat (SLSES)  
- Ankyl benzen sulfonat  
- Xà phòng và các muối của axit béo  
1.1.4.2. Chất hoạt hóa phi ion  
- Ankyl poly (etylen oxit)  
6
   
Đồ án tốt nghiệp  
- Copolymers của poly (etylen oxit) và poly (propylen oxit)  
- Ankyl polyglucozit, bao gồm:  
- Octyl glucozit  
- Decyl maltosit  
- Các rượu béo  
- Rượu cetyl  
- Rượu oleyl  
- Cocamit MEA, cocamit DEA  
1.1.4.3. Chất hoạt hóa lưỡng cực  
Khi bị phân cực thì đầu phân cực có thể mang điện âm hoặc mang điện dương  
tùy vào pH của dung môi, ví dụ: Dodecyl đimêtylamin ôxít.  
- Dodecyl betain  
- Dodecyl dimetylamin ôxít  
- Cocamidopropyl betain  
- Coco ampho glycinat  
1.1.5. Ứng dụng  
Chất hoạt hóa bề mặt ứng dụng rất nhiều trong đời sống hàng ngày. Ứng dụng  
phổ biến nhất là bột giặt, sơn, nhuộm... Ngoài ra những ứng dụng trong các lĩnh vực  
khác như:  
- Trong công nghiệp dệt nhuộm: Chất làm mềm cho vải sợi, chất trợ nhuộm  
- Trong công nghiệp thực phẩm: Chất nhũ hóa cho bánh kẹo, bơ sữa và đồ hộp  
- Trong công nghiệp mỹ phẩm: Chất tẩy rửa, nhũ hóa, chất tạo bọt  
- Trong ngành in: Chất trợ ngấm và phân tán mực in  
- Trong nông nghiệp: Chất để gia công thuốc bảo vệ thực vật,  
- Trong xây dựng: Dùng để nhũ hóa nhựa đường, tăng cường độ đóng rắn của bê  
tông  
- Trong dầu khí: Chất nhũ hóa dung dịch khoan  
- Trong công nghiệp khoáng sản: Làm thuốc tuyển nổi, chất nhũ hóa, chất tạo bọt  
để làm giàu khoáng sản  
7
 
Đồ án tốt nghiệp  
1.2.  
SOPHOROLIPIDS  
1.2.1. Định nghĩa chât hoạt động bề mặt sinh học (Biosurfactants)  
Biosurfactants là các hợp chất hoạt động bề mặt có nguồn gốc sinh học  
(CHDBMSH), được sản xuất bới vi sinh vật. Trong những năm gần đây các nhà khoa  
học đang chú trọng đến lĩnh vực này, bởi chúng có độc tính thấp và phương thức sản  
xuất đơn giản. Bởi thế ứng dụng của CHDBMSH rất rộng: hóa chất hữu cơ, phân bón,  
thức ăn, đồ uống, mỹ phẩm, dược phẩm và bao gồm cả các ứng dụng của chất hoạt  
động bề mặt hóa học.  
Tuy rằng CHDBMSH có mặt khá rộng rãi trong tự nhiên, nhưng chi phí cho các  
quy trình tách chiết ở quy mô công nghiệp, quy trình tinh sạch đã tạo ra một rào cản  
khá lớn đối với các nhà sản xuất. Chi phí thu hồi, tinh sạch CHDBMSH luôn lớn hơn  
rất nhiều lần so với chi phí tổng hợp nên chúng.  
Trong nhóm các CHDBMSH ngoài Sophorolipid ra thì còn có: Rhamnolipids  
được tổng hợp từ một số chủng trong chi Pseudomonas, và Lecithin được thu hồi từ  
đậu nành và lòng đỏ chứng.  
CHDBMSH phổ biến là các chất hoạt động bề mặt có nguồn gốc từ vi sinh vật.  
Vì thời gian thế hệ và tốc độ phát triển của vi sinh vật cao hơn gấp nhiều lần so với  
các loài động/thực vật, nên dễ dàng đưa vào sản xuất quy mô công nghiệp.  
8
   
Đồ án tốt nghiệp  
Bảng 1.1. Một số vi khuẩn tổng hợp nên các loại CHDBMSH quan trọng (Desai vs  
cs, 1997)  
Chất hoạt động bề mặt sinh học  
Glycolipids  
Vi khuẩn tổng hợp  
Rhamnolipids  
Trehalolipids  
Sophorolipids  
Pseudomonas aeruginosa,  
Pseudomonas sp.  
Rhodococus Erythropolis, Nocardia  
erythropolis Mycobacterium sp.  
Candida. bombicola, Camdida. apicola,  
and Rhodotorula bogoriensis  
Mannosylerythritol lipids  
Cellobiolipids  
Lipopeptides và lipoproteins  
Peptide-lipid  
Pseudozyma antarctica  
Ustilago zeae, U. maydis  
Bacillus licheniformis  
Serratia marcescens  
Ps. fluorescens  
Serrawettin  
Viscosin  
Surfactin  
Bacillus. subtilis  
Bacillus. brevis  
Gramicidins  
Polymyxins  
Bacillus. polymyxa  
Acid béo, lipid trung tính và phospholipids  
Fatty acids  
C. lepus  
Neutral lipids  
Phospholipids  
Polymer  
R. erythropolis  
Thiobacillus thiooxidans  
Emulsan  
Acinetobacter calcoaceticus  
Acinetobacter. calcoaceticus  
Candida. tropicalis  
Biodispersan  
Mannan-lipid-protein  
Carbohydrate-proteinlipid  
Pseudomonas.fluorescens,  
Debaryomyces polymorphis  
Protein PA  
Pseudomonas. aeruginosa  
9
 
Đồ án tốt nghiệp  
1.2.2. Sophorolipid  
Sophorolipid (SLs) là một hợp  
chất glycolipid hoạt động bề mặt,  
được tổng hợp bởi một số loài nấm  
men vô hại. Nghiên cứu đầu tiên về  
sophorolipid được công bố vào năm  
1961 – một glycolipid ngoại bào  
được tổng hợp bởi nấm men  
Torulopsis magnolia.  
Sau đó vào năm 1968, Tulloch  
và Spencer đã công bố rằng chủng  
sinh SLs thực tế là Torulopsis  
apicola, hiện nay gọi là Candida  
apicola. Tới năm 1970, Spencer  
Hình 1.5. Sophorolipids tổng hợp bởi  
Starmerella bombicola (Parekh và cộng sự,  
tiếp tục phát hiện ra rằng chủng nấm men Candida bombicola cũng có thể sản xuất  
ra SLs. Trong đó chủng Candida bombicola ATCC 22214 được chú ý và nghiên cứu  
nhiều nhất do cho năng suất cao (400g/l) và đặc biệt chủng này không gây bệnh.  
Năm 2006, Chen và đồng nghiệp đã tìm ra được một chủng Wickerhamiella  
domericqiae mới có khả năng tổng hợp SLs. Chủng này tổng hợp ra hơn 6 glycolipids  
khác nhau. Một trong số đó có 17-L-(-oxy)-octadecanoic acid 1,4”-lactone 6’,6”-  
diacetate, đây là thành phần chính có trong SLs tổng hợp từ 2 loài C. apicola và C.  
bombicola.  
Nhưng mãi đến đầu thế kỷ 20 người ta mới chú trọng đến việc nghiên cứu kỹ  
lưỡng và tìm kiếm ứng dụng của sophorolipid, vì lúc này nhân loại mới nhận thức ra  
tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường. Ngày nay sophorolipid được xem là chất  
hoạt động bề mặt sinh học (bio-surfactants) có triển vọng cao.  
10  
 
Đồ án tốt nghiệp  
1.2.3. Cấu trúc  
Sophorolipid thuộc nhóm glycolipid biosurfactans, kết hợp từ 1 đuôi acid kị  
nước (16 hoặc 18 phân tử carbon) và đầu carbohydrate ưa nước (sophorose – đường  
đôi glucose) thông qua liên kết β-glucosidic ở vị trí C1’.  
Phân tử carbon cuối cùng trong chuỗi đuôi của SLs vừa có thể este hóa với nhóm  
hydroxyl ở vị trí C 4” của sophorose tạo SLs dạng lactonic (dạng vòng); vừa có thể ở  
dạng tự do tạo SLs dạng acidic (dạng mở).  
Hình 1.6. Hai dạng SLs: lactonic (trái) – acidic (phải)  
Đuôi acid thường có 16 hoặc 18 phân tử carbon và có nhiều hơn một liên kết  
đôi. Tính chất hóa lý và đặc tính sinh học của SLs thu được phụ thuộc vào tỷ lệ thành  
phần giữa 2 dạng lactonic và acidic trong canh trường, vì cả 2 dạng này đều được vi  
sinh vật tổng hợp song song trong quá trình lên men sản xuất.  
Cơ chất thích hợp cho quá trình sinh tổng hợp SLs là glucose và acid béo. Ngoài  
ra các dạng methyl, ethyl esters của acid béo hay triglycerides cũng có thể dùng làm  
cơ chất (được esterases sẽ thủy phân dần thành acid béo). Do các chủng như  
C.bombicola, C.apicola có thể tăng trưởng trong môi trường alkan nên chúng có hệ  
enzyme cần thiết cho quá trình oxy hóa các alkan này để tạo nên acid béo.  
11  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 62 trang yennguyen 18940 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đồ án Thu nhận sophorolipids tổng hợp từ chủng Candida bombicola với nguồn đường glucose và dầu hạt cải", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_an_thu_nhan_sophorolipids_tong_hop_tu_chung_candida_bombi.pdf