Khóa luận Nghiên cứu hàm lượng nitrat tồn dư trong đất khi sử dụng các loại phân bón khác nhau cho cây rau cải mào gà

i
LỜI CẢM ƠN  
Thực tập tốt nghiệp là cơ hội để sinh viên tiếp cận với thực tế nghề  
nghiệp, kết hợp với các kiến thức đã học trong nhà trường để hoàn thiện kỹ  
năng trong công việc, tích lũy kinh nghiệm làm hành trang phục vụ cho công  
việc hiện tại và sau này khi ra trường.  
Được sự giới thiệu của Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường  
- Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài:  
“Nghiên cứu hàm lượng nitrat tồn dư trong đất khi sử dụng các loại phân  
bón khác nhau cho cây rau cải mào gà”. Có được kết quả này em xin chân  
thành cảm ơn cô giáo ThS. Nguyễn Thị Huệ đã tận tình giúp đỡ em trong  
suốt thời gian thực tập và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp.  
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Môi trường Trường Đại học  
Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện để em có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ  
được giao và cung cấp đầy đủ các số liệu cần thiết phục vụ cho quá trình  
nghiên cứu đề tài.  
Trong quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp em đã cố gắng nghiên  
cứu nhưng do kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế nên chắc chắn không  
tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết. Em rất mong được sự tham gia  
đóng góp ý kiến từ phía các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên để khoá  
luận của em được hoàn thiện hơn nữa.  
Em xin chân thành cảm ơn !  
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018  
Sinh viên  
Nguyễn Thị Thúy  
 
ii  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Bảng 4.5 Kết quả đo chiều cao tính ra giá trị trung bình của rau cải mào gà  
Error! Bookmark not defined.  
 
iv  
MỤC LỤC  
3.4.5. Phương pháp điều tra, phỏng vấn……………………………………. 21  
 
v
vi  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
STT  
Ký hiệu  
Ý nghĩa  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
IPM  
biện pháp phòng trừ dịch bệnh tổng hợp  
Tổ chức thương mại thế giới  
Tổ chức Y tế thế giới  
Tiêu chuẩn Việt Nam  
Quyết định - Bộ Y tế  
Trách nhiệm hữu hạn  
Tài nguyên thực vật  
Khoa học - công nghệ  
Nông nghiệp - phát triển nông thôn  
Công thức 1  
WTO  
WHO  
TCVN  
QĐ-BYT  
TNHH  
TNTV  
KH - CN  
NN - PTNT  
10 CT1  
11 CT2  
12 CT3  
13 NL1  
14 NL2  
15 NL3  
Công thức 2  
Công thức 3  
Nhắc lại 1  
Nhắc lại 2  
Nhắc lại 3  
 
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1. Đặt vấn đề  
Rau sạch, rau an toàn đang là vấn đề nóng được người dân quan tâm. Rau  
sạch hay còn gọi là rau an toàn là loại rau được sản xuất theo quy trình kỹ thuật  
bảo đảm được tiêu chuẩn sau: Hạn chế đến mức thấp nhất việc sử dụng phân  
hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích... nhằm giảm tối đa lượng độc tố tồn  
đọng trong rau như nitrat, thuốc trừ sâu, kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh.  
Rau chỉ được coi là sạch nếu người sản xuất tuân thủ các biện pháp kỹ thuật  
sau:  
Chọn đất: Vùng đất trồng rau sạch, chưa bị ô nhiễm bởi các kim loại nặng  
(thủy ngân, asen...), chưa bị ảnh hưởng của nước thải công nghiệp (do ở gần các  
xí nghiệp, nhà máy nước thải chưa được xử lý).  
Giảm lượng phân đạm bón cho các loại rau xanh vì phân đạm chứa nitrat.  
Khi ăn vào, nitrat sẽ chuyển thành nitrit, chúng kết hợp với các amin tạo nên  
các nitro amin gây bệnh, làm giảm hô hấp của tế bào, ảnh hưởng đến các hoạt  
động của tuyến giáp, gây đột biến và phát triển các khối u, nhất là các em gái rất  
dễ bị ngộ độc với nitrat. Lượng nitrat trong rau phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật  
canh tác. Bón càng nhiều phân hóa học thì lượng nitrat càng lớn. Bón các loại  
phân đạm có chứa nitrat thì lượng nitrat cao hơn bón các loại phân urê, sulfat  
đạm. Bón lót sớm, đúng lúc thì lượng nitrat thấp, bón muộn quá trước khi thu  
hoạch thì lượng nitrat trong rau cao. Bón phân hóa học đúng quy định, kết hợp  
với phân chuồng, phân xanh và phân vi lượng là biện pháp làm giảm nitrat  
trong rau. Nên sử dụng phân hữu cơ, phân chuồng hoai, mục để giảm các mầm  
bệnh, đặc biệt là các vi sinh vật có hại.  
   
2
Không tưới rau bằng phân bắc, phân chuồng tươi, nước thải sinh hoạt, nước  
thải công nghiệp, các loại nước đã bị nhiễm bẩn.  
Không phun thuốc trừ sâu, vì thuốc trừ sâu có chứa nhiều gốc hóa học như  
DDT, 666, thủy ngân... gây độc hại cho cơ thể. Phun thuốc trừ sâu bừa bãi làm  
độc tố tồn dư trong đất cao và nguy hại hơn nữa là chúng hòa tan vào các nguồn  
nước sinh hoạt cho người sử dụng. Hiện nay, việc sử dụng phân hữu cơ hoai,  
mục, phân vi sinh tổng hợp, ứng dụng các biện pháp phòng trừ dịch bệnh tổng  
hợp (IPM) đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và với rau nói riêng đang  
được khuyến khích. Với thuốc trừ sâu, không nên mua các loại thuốc không rõ  
nguồn gốc.  
Không nên thu hoạch ngay sau khi bón phân, hoặc nhất là khi mới phun  
thuốc trừ sâu. Mỗi loại thuốc đều có thời gian phân giải, phân hủy an toàn khác  
nhau, cho nên thời gian thu hoạch cũng khác nhau. Tuyệt đối không được thu  
hoạch rau ngay sau khi phun thuốc trừ sâu. Phải bảo đảm đủ thời gian phân hủy  
sau khi phun, tưới mới được thu hoạch và mang bán.[11]  
Trong những năm qua ngành chăn nuôi phát triển khá bền vững và đạt kết  
quả đáng ghi nhận, đáp ứng cơ bản nhu cầu thực phẩm trong nước ngày càng  
cao của xã hội. Ngày nay, ngành chăn nuôi nước ta đang có những dịch chuyển  
nhanh chóng từ chăn nuôi nông hộ sang chăn nuôi trang trại, công nghiệp; từ  
chăn nuôi nhỏ lẻ lên chăn nuôi quy mô lớn. Đảng và Chính phủ quan tâm tới  
ngành chăn nuôi để cùng với ngành trồng trọt, thủy sản đảm bảo an ninh lương  
thực, thực phẩm thông qua những chủ trương, chính sách nhằm định hướng và  
tạo ra những cơ chế khuyến khích để ngành chăn nuôi phát triển nhanh, mạnh  
và vững chắc. Tuy nhiên, mặt chưa được của chăn nuôi đó là vấn đề ô nhiễm  
môi trường. Theo báo cáo của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), chất thải  
của gia súc toàn cầu tạo ra 65% lượng Nitơ oxit (N2O) trong khí quyển. Đây là  
loại khí có khả năng hấp thụ năng lượng mặt trời cao gấp 296 lần so với khí  
3
CO2. Cùng với các loại khí khác như CO2, CH4,… gây nên hiệu ứng nhà kính  
làm trái đất nóng lên.  
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2014 đàn lợn nước ta có khoảng  
26,76 triệu con, đàn trâu bò khoảng 7,75 triệu con, đàn gia cầm khoảng 327,69  
triệu con. Trong đó chăn nuôi nông hộ hiện tại vẫn chiếm tỷ trọng khoảng  
65-70% về số lượng và sản lượng. Từ số đầu gia súc, gia cầm đó có quy đổi  
được lượng chất thải rắn (phân chất độn chuồng, các loại thức ăn thừa hoặc rơi  
vãi) đàn gia súc, gia cầm của thải ra khoảng trên 76 triệu tấn, và khoảng trên 30  
triệu khối chất thải lỏng (nước tiểu, nước rửa chuồng, nước từ sân chơi, bãi vận  
động, bãi chăn). Phân của vật nuôi chứa nhiều chất chứa nitơ, phốt pho, kẽm,  
đồng, chì, Asen, Niken(kim loại nặng)… và các vi sinh vật gây hại khác không  
những gây ô nhiễm không khí mà còn làm ô nhiễm đất, làm rối loạn độ phì đất,  
mặt nước mà cả nguồn nước ngầm. Do vậy, cần có những giải pháp xử lý, tận  
dụng nguồn chất thải trong chăn nuôi giảm ô nhiễm môi trường, đặc biệt ô  
nhiễm nitrat trong đất do phân hóa học gây nên.[3]  
Hiện nay tình hình sử dụng các loại thuốc bảo vệ cũng như các loại phân  
hóa học bị người dân lạm dụng quá mức trong trồng rau để tăng năng suất. Một  
số loại phân thường được người dân sử dụng như: NPK Đầu Trâu, NPK Lâm  
Thao, Urê,...  
Người dân chủ yếu sử dụng phân bón hóa học trong sản xuất mà lượng phân  
chuồng sử dụng ít, dẫn đến sự ô nhiễm môi trường do phân chuồng gây ra, sự ô  
nhiễm đất do sử dụng quá nhiều phân hóa học.  
Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu hàm  
lượng nitrat tồn dư trong đất khi sử dụng các loại phân bón khác nhau  
cho cây rau cải mào gà”.  
4
2. Mục tiêu của đề tài  
- Xây dựng được quy trình ủ phân chuồng (phân lợn) phối trộn phế phụ  
phẩm nông nghiệp, giúp người dân tận dụng được nguồn chất thải trong chăn  
nuôi lợn để làm phân bón hữu cơ tại các trang trại chăn nuôi.  
- Đánh giá được hàm lượng nitrat tồn dư trong đất khi sử dụng các loại phân  
bón khác nhau để bón cho rau.  
- Đánh giá được hiệu quả khi sử dụng phân bón hữu cơ nói trên so với phân  
hóa học về mặt kinh tế, môi trường.  
3. Ý nghĩa của đề tài  
Ý nghĩa trong khoa học  
- Đóng góp về mặt lý luận cho việc giải thích các mối tương quan giữa hàm  
lượng nitrat trong đất và hàm lượng của chúng trong phần sử dụng của một số  
loại rau.  
-
- Đánh giá được sự tồn dư NO3 trong đất trồng rau, kết quả là tài liệu  
nghiên cứu và học tập cho các nhà chuyên môn, sinh viên.  
Ý nghĩa trong thực tiễn  
-
- Đưa ra những dẫn liệu cơ bản về tình hình ô nhiễm NO3 trong đất trồng và  
trong cây rau.  
- Góp phần cung cấp cơ sở khoa học định hướng quy hoạch vùng sản xuất  
rau an toàn.  
- Đề xuất một số giải pháp để giảm thiểu sự tích lũy nitrat trong rau và đất.  
   
5
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở khoa học  
2.1.1. Một số khái niệm  
1. Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác  
động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.  
2. Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không  
phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh  
hưởng xấu đến con người và sinh vật.  
3. Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất  
lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong  
chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm  
quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường.  
4. Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng  
môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải,  
các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công  
bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường.  
5. Chất gây ô nhiễm là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học khi  
xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm cho môi trường bị ô nhiễm.  
6. Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh  
hoạt hoặc hoạt động khác.  
7. Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về thành phần môi  
trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin đánh giá  
hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi  
trường.  
8. Phương pháp nghiên cứu khoa học là tổ hợp những cách thức mà nhà  
khoa học sử dụng để khám phá đối tượng. Nghiên cứu khoa học là hoạt động  
phức tạp, chứa nhiều mâu thuẫn, nhiều trường phái, nhiều xu hướng. Quan  
     
6
điểm phù hợp với hiện thực, đem lại lợi ích cho cuộc số con người sẽ tồn tại.  
Nghiên cứu khoa học mang tính mạo hiểm, có thể thành công hoặc thất bại.  
9. Thí nghiệm là quá trình theo dõi một hay nhiều chỉ tiêu dưới tác động của  
một hay nhiều nhân tố nhằm phát hiên, hay kiểm định một hay một số vấn đề  
nào đó.  
10. Sai khác ngẫu nhiên là sai khác do nhân tố phi thí nghiệm gây ra.  
11. Nhắc lại là sự lặp lại của quan sát theo không gian và thời gian.  
12. Rau sạch hay là rau an toàn là loại rau có chất lượng đúng như đặc tính  
giống của nó, hàm lượng các hóa chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại  
ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi  
trường thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.[10]  
2.1.2. Hàm lượng cho phép của nitrat trong 1 số loại rau  
Hàm lượng đạm trong đất được thể hiện qua nồng độ nitrat. Các loại cây  
trồng khác nhau cần hàm lượng đạm-nitrat (NO3-N) trong đất khác nhau  
nhưng nói chung khoảng nồng độ nitrat hợp lý là 10-50mg/kg đất.  
Dưới đây là bảng Hàm lượng Nitrat (mg/kg sản phẩm theo tiêu chuẩn của  
WTO) Hàm lượng Nitrat cho phép trong một số loại rau quả theo tiêu chuẩn  
của Tổ chức Y tế thế giới WHO (mg/kg sản phẩm).  
Bảng 2.1 Bảng hàm lượng Nitrat cho phép trong một số loại rau quả theo  
tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới WHO (mg/kg sản phẩm).  
-
-
Loại cây  
Dưa hấu  
Dưa bở  
Ớt ngọt  
Măng tây  
Đậu quả  
Ngô rau  
Cải bắp  
Su hào  
Hàm lượng NO3  
Loại cây  
Hành tây  
Cà chua  
Dưa chuột  
Khoai tây  
Cà rốt  
Hành lá  
Bầu, bí  
Cà tím  
Hàm lượng NO3  
60  
90  
80  
150  
150  
250  
250  
400  
400  
400  
1500  
200  
200  
200  
300  
500  
500  
500  
Su lơ  
Xà lách  
(Nguồn: Nguyễn Thị Lan Hương, 2013)  
   
7
2.2. Cơ sở pháp lý  
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.  
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8742:2011 cây trồng - xác định nitrat và  
nitrit bằng phương pháp so màu.  
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 2619 - 2014 phân ure - yêu cầu kỹ thuật.  
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 9486-2013 phân bón - phương pháp lấy mẫu.  
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 9295-2012 phân bón - phương pháp xác  
định nitơ hữu hiệu.  
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5815-2001 phân hỗn hợp NPK - phương  
pháp thử.  
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5302-2009 chất lượng đất - yêu cầu chung  
đối với việc phục hồi đất.  
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5255 - 2009 chất lượng đất - phương pháp xác  
định hàm lượng nito dễ tiêu.  
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8557-2010 phân bón - phương pháp xác  
định nitơ tổng số.  
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6643:2000 (ISO 14255 : 1998) về chất lượng  
đất - Xác định nitơ nitrat, nitơ amoni và tổng nitơ hoà tan có trong đất được  
làm khô trong không khí sử dụng dung dịch canxi clorua làm dung môi.  
- Quyết định số: 867/1998/QĐ-BYT quyết định của bộ trưởng bộ y tế về  
việc ban hành “danh mục tiêu chuẩn vệ sinh đối với lương thực, thực phẩm”.  
2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước  
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới  
Các nhà khoa học tại Đại học Calgary, Pháp cho biết phân đạm bón cho cây  
trồng bị tồn dư trong đất và lượng nitrat bị rò rỉ vào nguồn nước ngầm trong  
nhiều thập kỷ. Các nhà khoa học chỉ ra, 30 năm sau khi phân bón nitơ tổng hợp  
được sử dụng cho các loại cây trồng từ năm 1982, khoảng 15% lượng phân bón  
     
8
này vẫn còn trong thành phần đất hữu cơ. Sau ba thập kỷ, khoảng 10% phân  
bón nitơ đã thấm qua đất vào nguồn nước ngầm và sẽ tiếp tục bị rò rỉ trong ít  
nhất 50 năm nữa.  
Canada và Hoa Kỳ đang điều chỉnh lượng nitrat cho phép trong nước uống.  
Trong những năm 1980, các cuộc điều tra của Cơ quan Bảo vệ Môi trường và  
khảo sát địa chất Mỹ cho thấy ô nhiễm nitrat có lẽ gây ảnh hưởng lớn đến  
nguồn cung cấp nước công cộng hơn bất kỳ chất gây ô nhiễm khác.  
Đây là nghiên cứu đầu tiên theo dõi hiện trạng tồn dư phân bón nitơ trong  
đất qua nhiều thập kỷ. Nhóm nghiên cứu sử dụng một đồng vị ổn định của nitơ  
N-15 để theo dõi lượng tồn dư của phân đạm được sử dụng từ năm 1982 đối với  
cây củ cải đường và cây lúa mì vụ đông tại một khu vực ở Pháp.  
Nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng, 61 đến 65% phân bón N-15 được sử  
dụng vào năm 1982 đã được các cây củ cải đường và cây lúa mì hấp thu. Tuy  
nhiên, 32 - 37% lượng phân bón này vẫn tồn dư trong đất vào năm 1985, ba  
năm sau khi sử dụng phân bón, và 12 đến 15% lượng phân bón vẫn còn đọng lại  
trong đất sau ba thập kỷ qua.  
Từ 8 đến 12% phân bón nitơ áp dụng vào năm 1982 đã bị rò rỉ ở dạng nitrat  
vào nguồn nước ngầm trong suốt 30 năm và sẽ tiếp tục bị rò rỉ ở mức độ thấp ít  
nhất là trong 5 thập kỷ, lâu hơn nhiều so với suy nghĩ trước đây.  
Các nhà khoa học dự đoán rằng, khoảng 15% phân bón áp nitơ sẽ rò rỉ vào  
nguồn nước ngầm trong một khoảng thời gian gần một thế kỷ sau khi được sử  
dụng vào năm 1982. Nhà nghiên cứu Mayer dự đoán rằng, nếu các nghiên cứu  
tương tự được thực hiện ở Alberta, kết quả có thể giống nhau về lượng phân  
bón được cây trồng hấp thu và lượng phân bón lưu giữ trong đất, mặc dù khí  
hậu tương đối khô và điều kiện địa chất khác nhau ở Alberta có thể làm chậm  
tốc độ thấm nitrat vào nguồn nước ngầm. Tình trạng ô nhiễm nitrat ở các hệ  
9
sinh thái thủy sản cũng có thể giảm nếu nông dân thực hiện việc sử dụng phân  
bón ở mức thích hợp, đúng thời điểm và đúng địa điểm.[1]  
2.3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước  
2.3.2.1. Tình hình sử dụng phân bón trong nước  
Mỗi năm nông dân Việt Nam đã sử dụng tới khoảng 5 triệu tấn phân bón vô  
cơ quy chuẩn, không kể phân hữu cơ và các loại phân bón khác do các cơ sở tư  
nhân và công ty TNHH sản xuất, cung ứng. Từ năm 1985 đến nay, mức tiêu thụ  
phân đạm tăng trung bình 7,2%/năm; phân lân tăng 13,9%/năm; riêng phân kali  
có mức tăng cao nhất là 23,9%/năm. Tổng lượng sử dụng N + P2O5 + K2O trong  
15 năm qua tăng trung bình 9,0%/năm và trong thời gian tới có xu hướng tăng  
mỗi năm khoảng 10%. Trong 15 năm qua, ở các giai đoạn: 1985-1990;  
1990-1995 và 1996-2001 lượng tiêu thụ phân kali ở Việt Nam tăng rất nhanh và  
liên tục. Ở các giai đoạn 1985-1990; 1991- 1995 và 1996-2001 mức tiêu thụ  
phân đạm tăng hàng năm là 10,3%; 16,7% và 8,2% tương ứng. Như vậy trong 5  
năm trở lại đây mức tăng tiêu thụ phân đạm đã giảm dần. Ở 3 giai đoạn trên,  
mức tiêu thụ phân lân tăng hàng năm là 13,4%; 26,8%; 21,1% tương ứng và  
cũng có xu hướng giảm mức tăng như phân đạm.  
Hiện nay, ngành sản xuất phân hóa học nước ta mới đáp ứng được khoảng  
45% nhu cầu của nông nghiệp, còn lại phải nhập khẩu gần như toàn bộ phân  
đạm urê, kali và phân phức hợp DAP, một lượng khá lớn phân hỗn hợp NPK  
với tổng số trên 3 triệu tấn/năm.[3]  
2.3.2.2. Phân hữu cơ:  
Phân hữu cơ là hợp chất hữu cơ dùng làm trong nông nghiệp, hình thành  
từ phân người, phân động vật, lá và cành cây, than bùn, hay các chất hữu cơ  
khác thải loại từ nhà bếp. Phân bón giúp tăng thêm độ màu mỡ, độ tơi xốp  
cho đất bằng cách cung cấp thêm các chất hữu cơ, chất mùn và bổ dưỡng.  
10  
Sự hình thành: Phân để lâu ngày trong tự nhiên có thể thành phân bón cho  
cây. Người ta có thể chế biến phân hữu cơ hoặc ủ hoai mục phân, cây xanh để  
thành phân hoặc sản xuất phân ủ.  
Chế biến phân hữu cơ: Phân hữu cơ (phân chuồng, phân bắc, phân xanh)  
hoai mục cho cây trồng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho con người và  
hạn chế được sự lây lan của một số bệnh hại nguy hiểm qua tàn dư thực vật.  
Phân hữu cơ được ủ theo 2 phương pháp:  
Kỹ thuật ủ nổi: Đối với phân chuồng, phân bắc, tốt nhất là ủ kết hợp với  
một trong ba loại phân sau: Super lân Lâm Thao hoặc phân vi sinh Sông  
Gianh (tỷ lệ 2-3%), hoặc chế phẩm EM thứ cấp (tỷ lệ 1-1,5 lít dung dịch nồng  
độ 1-5% tưới cho 1-2 tạ phân chuồng), có bổ sung thêm chế phẩm Penac P  
(gói màu vàng, 1-2 gói/tấn phân, có tác dụng kích thích vi sinh vật có ích phát  
triển, hạn chế vi sinh vật có hại). Trộn đều các loại phân với nhau, chất thành  
đống có độ cao 1,5-2m, đường kính tuỳ số lượng phân đem ủ. Nén chặt, trát  
một lớp bùn nhão kín toàn bộ đống phân, trên đỉnh đống phân để chừa một lỗ  
hình tròn có đường kính 20-25 cm để đổ nước tiểu, nước phân bổ sung (15-20  
ngày/lần), làm mái che mưa cho đống phân ủ. Sau 40-50 ngày (vụ hè) hoặc  
50-60 ngày (vụ đông) đống phân chuồng hoàn toàn hoai mục, phân tơi xốp,  
không có mùi hôi thối, đem bón cho cây trồng rất tốt.  
Kỹ thuật ủ chìm: Chọn đất nơi cao ráo, đào hố ủ sâu: 1,0-1,5m, đường  
kính hố ủ: 1,5-3m (tuỳ lượng phân cần ủ). Đáy và phần chìm của hố ủ được  
lót bằng nilong hay lá chuối tươi để chống nước ngầm xâm nhập hoặc nước  
phân chảy đi, rồi tiến hành ủ phân chuồng, phân bắc, phân xanh vào hố đã  
chuẩn bị, như đã trình bày ở phần trên.  
Kỹ thuật ủ phân xanh: Cần có phân men là phân chuồng tươi (tỷ lệ  
15-20%) + phân vi sinh Sông Gianh hoặc supe lân (tỷ lệ 3-5%), có bổ sung  
thêm chế phẩm EM, Penac P (tỷ lệ như phần trên). Thân lá cây xanh được  
11  
chặt ngắn thành đoạn dài 30-40 cm, chất thành từng lớp dày 0,5-0,6m lại rắc  
một lớp phân men, tưới thêm nước dải, nước phân chuồng đảm bảo độ ẩm  
đống phân 75-80%, nén chặt. Sau đó trát kín toàn bộ đống phân bằng một lớp  
bùn nhão, để lỗ tưới nước ở đỉnh đống phân, cứ khoảng 15-20 ngày lại tưới  
bổ sung nước để duy trì độ ẩm sau đó trát kín lại. Khoảng 35-40 ngày sau ủ,  
ta tiến hành đảo đều đống phân, bổ sung nước cho đủ ẩm, lại nén chặt, trát  
bùn kín, sau khoảng 25-30 ngày là phân hoàn toàn hoai mục, sử dụng được.  
Ủ hoai mục: Ủ hoai mục là phương pháp chuyển phân từ trạng thái hữu cơ  
thành vô cơ cây mới hấp thụ được. Phân trước khi mang ủ là các chất hữu cơ  
nếu bón cho cây thì cây khó hấp thụ mà trong phân mang mầm bệnh, cỏ dại  
cây sẽ dễ bị nhiễm bệnh. Nếu được ủ hoai mục các chất hữu cơ sẽ phân huỷ  
và chuyển thành dạng vô cơ khi đó phân sẽ "sạch" hơn. Có 2 phương pháp ủ phân.  
Ủ nóng: Với dạng phân ít chất xơ như phân lợn phân trâu bò nên ủ theo  
phương pháp ủ nóng: Trộn đều phân với lân hoặc vôi, vun thánh đống cao 0,5  
– 0,6 m to chừng 0,8 – 1m sau đó dùng xẻng nén phân và dùng rơm rạ phủ lên trên.  
Ủ nguội: Với phân nhiều chất xơ nên dùng phương pháp ủ nguội: Rải một  
lớp phân 10 – 15 cm rắc một lớp lân hoặc vôi bột nén chặt đống phân rồi trát  
một lớp bùn dày 1 – 2 cm chỉ chừa một lỗ ở đỉnh. Ủ 3 - 4 tháng hoai là dùng được.  
Sản xuất phân ủ tại hộ gia đình: Sử dụng các loại phân bón hữu cơ như  
phân chuồng, phân xanh, phân ủ thay thế một phần phân hóa học để bón cho  
cây trồng, vừa giúp tăng năng suất cây trồng, đồng thời góp phần cải tạo đất,  
giải quyết được vấn đề rác thải sinh hoạt, bảo vệ được môi trường sinh thái rất  
tốt. Sản xuất phân ủ tại chỗ sẽ tận dụng được nguồn nguyên vật liệu rẻ tiền  
của địa phương, giảm được chi phí trong sản xuất nông nghiệp.  
Sản xuất phân ủ gồm có 2 giai đoạn: Sản xuất đất men và sau đó sử dụng  
đất men để sản xuất phân ủ.  
12  
Sản xuất đất men: Để sản xuất 1 tấn đất men cần chuẩn bị một số nguyên  
liệu theo tỷ lệ sau: 50 kg vi khuẩn gốc. Vi khuẩn gốc là những vi sinh vật có  
ích có khả năng phân giải các phế thải động, thực vật thành mùn. Để sản xuất  
1 tấn đất men cần bổ sung 3 kg đường và đủ nước để tạo độ ẩm 25-30%.  
Trộn đều các nguyên liệu nói trên với vi khuẩn gốc, cám gạo, đất khô. Đối  
với đường thì hòa tan trong nước, rải đều vào hỗn hợp và đảo đều thành nhiều  
lớp, nhiều lần. Đường và cám là những chất dinh dưỡng để nuôi sống vi sinh  
vật; cung cấp nước nhằm tạo đủ độ ẩm thuận lợi để vi sinh vật tồn tại và phát  
triển. Để kiểm tra độ ẩm đạt khoảng 25-30% làm như sau: Lấy một nắm hỗn  
hợp nắm chặt tay, khi thả ra mà hỗn hợp vẫn giữ được nguyên hình của nó,  
nhưng nếu đụng nhẹ vào thì tơi ra là độ ẩm đạt yêu cầu. Sau khi trộn đều dùng  
nilong phủ kín đống ủ trong vòng 48 giờ. Trong thời gian này cần đảo đống ủ  
2-3 lần để cung cấp ôxy và tưới thêm nước, nhằm giúp vi sinh vật hoạt động,  
sinh sôi nảy nở.  
Sau 48 giờ ủ, người ta được sản phẩm đất men. Quá trình sản xuất đất  
men được hiểu như quá trình nhân giống vi sinh vật dùng để sản xuất phân ủ  
cho bước tiếp theo.  
Sản xuất phân ủ: Khác với làm đất men, sản xuất phân ủ cần có các  
nguyên liệu như: Đất men, phế thải thực vật, cám gạo, phân gia súc. Để sản  
xuất 1 tấn phân ủ cần các nguyên liệu kể trên với khối lượng và tỷ lệ như sau:  
50 kg đất men, 600 kg phế thải thực vật, 250 kg phân gia súc, 60 kg cám gạo.  
Ngoài ra cũng cần bổ sung thêm 3 kg đường được hòa tan vào nước để tạo độ  
ẩm 30-35%. Cũng giống như quá trình làm đất men ta tiến hành trộn đều đất  
men, cám gạo, lá cây khô hoặc có thể sử dụng lá rau già, hoa quả hư thối cũng  
được. Sau đó tiếp tục bổ sung phân gia súc vào và rắc đường đã được hòa tan  
trong nước. Đảo đều và dùng bao tải nilon phủ kín. Quá trình tạo phân ủ kéo  
dài khoảng 2 tháng. Trong quá trình ủ phải đảo thường xuyên, khoảng 1  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 57 trang yennguyen 26660 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu hàm lượng nitrat tồn dư trong đất khi sử dụng các loại phân bón khác nhau cho cây rau cải mào gà", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_ham_luong_nitrat_ton_du_trong_dat_khi_s.pdf