Khóa luận Đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
NGUYỄN SƠN TÙNG  
Tên đề tài:  
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NƯỚC SINH HOẠT  
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ CAO SƠN, HUYỆN ĐÀ BẮC,  
TỈNH HÒA BÌNH  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo:  
Chuyên ngành:  
Lớp:  
Chính quy  
Khoa học Môi trường  
K46-KHMT-N03  
Môi trường  
Khoa:  
Khóa học:  
2014 - 2018  
Thái Nguyên, năm 2018  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
NGUYỄN SƠN TÙNG  
Tên đề tài:  
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NƯỚC SINH HOẠT  
TRÊN ĐỊA BÀN XàCAO SƠN, HUYỆN ĐÀ BẮC,  
TỈNH HÒA BÌNH  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo:  
Chuyên ngành:  
Lớp:  
Chính quy  
Khoa học Môi trường  
K46-KHMT-N03  
Môi trường  
Khoa:  
Khóa học:  
2014 – 2018  
Giáo viên hướng dẫn:  
ThS. Dương Thị Minh Hòa  
Thái Nguyên, năm 2018  
i
LỜI CẢM ƠN  
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của quá trình đào tạo tại các  
trường Đại học. Đây là thời gian giúp cho mỗi sinh viên làm quen với công  
tác nghiên cứu khoa học, củng cố những kiến thức lý thuyết và vận dụng  
những kiến thức đó vào thực tế. Thực tập tốt nghiệp là kết quả của quá trình  
tiếp thu kiến thức thực tế, qua đó giúp cho sinh viên tích lũy kinh nghiệm để  
phục vụ cho quá trình công tác sau này.  
Để đạt được mục tiêu trên, được sự nhất trí của khoa Môi Trường trường  
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh  
giá hiện trạng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh  
Hòa Bình”.  
Đề hoàn thành đề tài này em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các  
thầy, cô giáo trong Khoa Môi trường, đặc biệt là cô giáo hướng dẫn: Ths.  
Dương Thị Minh Hòa, Phòng Tài Nguyên & Môi Trường huyện Đà Bắc,  
UBND xã Cao Sơn và bà con nhân dân trong xã đã tạo điều kiện cho em trong  
quá trình thực hiện khóa luận. Em xin được bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả sự  
giúp đỡ quý báu đó.  
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do kiến thức bản thân còn hạn chế.  
Vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự chỉ bảo của  
các thầy, cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.  
Em xin chân thành cảm ơn!  
Thái nguyên, ngày tháng năm 2018  
Sinh viên  
Nguyễn Sơn Tùng  
 
ii  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Bảng 4.4. Kết quả phân tích nước một số chỉ tiêu của nước giếng đào xóm  
Bảng 4.8. Đánh giá của người dân về chất lượng nước sinh hoạt tại xã Cao  
Sơn………………………………………………………………………….40  
 
iv  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Kí hiệu  
BTNMT  
Viết đầy đủ  
Bộ Tài Nguyên và Môi Trường  
Bộ Y tế  
BYT  
BVMT  
BVTV  
Bảo vệ môitrường  
Bảo vệ thực vật  
CHXHCN  
CP  
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa  
Chính phủ  
CT  
Chỉ thị  
DNA  
FAO  
Đông Nam Á  
Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc  
Giá trị sản xuất  
GTSX  
HCBVTV  
LHQ  
Hóa chất bảo vệ thực vật  
Liên Hợp Quốc  
NĐ  
Nghị định  
QĐ  
Quy định  
QCVN  
QH  
Quy chuẩn Việt Nam  
Quốc hội  
TP.HCM  
TT  
thành phố Hồ Chí Minh  
Thông tư  
UBND  
XD  
Uỷ ban nhân dân  
Xây dựng  
VSMT  
VSMT  
WHO  
Vệ sinh môi trường  
Vệ sinh môi trường  
Tổ chức Y tế thế giới  
v
MỤC LỤC  
1.3. Yêu cầu của đề tài .................................... Error! Bookmark not defined.  
 
vi  
1
Phần 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Tất cả chúng ta đều biết rằng, nước là một dạng tài nguyên đặc biệt quan  
trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn  
tại, phát triển của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, trên khắp thế giới, nhiều người  
còn chưa có được nước an toàn và đầy đủ để đáp ứng những nhu cầu cơ bản  
nhất của họ. Tài nguyên nước đang bị đe doạ bởi các chất thải và ô nhiễm, bởi  
việc khai thác sử dụng kém hiệu quả, bởi sự thay đổi mục đích sử dụng đất,  
thay đổi khí hậu toàn cầu và nhiều nhân tố khác…  
Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và  
nước biển. Trong đó nguồn nước mặt và nước dưới đất là quan trọng nhất, có  
liên quan trực tiếp đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của con người. Nguồn  
nước mặt là các dạng tích tụ nước tự nhiên hay nhân tạo có thể khai thác sử  
dụng trên mặt đất hoặc hải đảo bao gồm: sông, suối, ao, hồ, kênh, rạch, đầm,  
phá, hồ chứa nước tự nhiên, hồ chứa nước nhân tạo, băng tuyết….. Nước dưới  
lòng đất hay nước ngầm là nguồn cung cấp nước quan trọng cho sinh hoạt  
hằng ngày của con người và cây trồng.  
Nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với con người, tuy nhiên hiện  
nay nước đang bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng do nhiều nguyên  
nhân khác nhau như: Dân số gia tăng, phát triển kinh tế và công tác quản lý  
tài nguyên nước chưa được thỏa đáng. Con người sử dụng nước cho nhiều  
mục đích khác nhau. Việc cải thiện cấp nước và điều kiện vệ sinh góp phần  
quan trọng vào việc giảm bớt gánh nặng về sức khỏe cho người dân.  
Theo số liệu báo cáo điều tra thực trạng vệ sinh môi trường và vệ sinh cá  
nhân ở nông thôn Việt Nam do Bộ Y tế và UNICEF thực hiện thì chỉ có 11,7%  
dân cư nông thôn, 7,8% khu chợ nông thôn, 14,2% trạm y tế xã, 16,1% ủy ban  
     
2
nhân dân xã và 36,4% trường học được tiếp cận và sử dụng nước máy (nguồn  
nước đã được xử lý và dẫn bằng mạng đường ống đến người tiêu dùng).  
Thiếu nước sạch và vệ sinh môi trường ô nhiễm đang là nguyên nhân  
chủ yếu gây nên các loại dịch bện như tả, lỵ, ngoài ra phụ khoa, … và gần đây  
là tiêu chảy cấp.  
Qua các số liệu trên chúng ta thấy rằng, nhu cầu nước sạch phục vụ sinh  
hoạt ở nông thôn Việt Nam còn rất lớn, càng bức xúc hơn trong điều kiện  
nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm nặng do chất thải từ các khu công nghiệp,  
chất thải từ sản xuất nông nghiệp (phân bón hóa học, các loại thuốc bảo vệ  
thực vật, thuốc tăng trưởng,…), chất thải từ sinh hoạt của người dân chưa  
được quan tâm, xử lý. Trong đó phải nhấn mạnh đến giải pháp xử lý nước thải  
sinh từ các khu dân cư hiện vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy, rất  
cần thiết phải tiếp cận với đối tượng là các hộ gia đình để cùng tìm kiếm giải  
pháp xử lý nước thải sinh hoạt đạt hiệu quả cao, ít tốn kém, ổn định lâu dài,  
phù hợp với nhu cầu nguyện vọng của nhiều vùng nông thôn Việt Nam.  
Giải quyết tốt vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường sẽ kiểm soát được  
80% bệnh tật ở nước ta (những bệnh có thể ngừa được). Cung cấp nước sạch  
đầy đủ và sạch là một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ sức khỏe cho  
con người. Quốc gia sẽ không thể phát triển bền vững nếu không tiếp tục bảo  
vệ môi trường sống, không đảm bảo nước sạch và vệ sinh môi trường.  
Xuất phát từ vấn đề trên, em thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi  
trường nước sinh hoạt trên địa bàn xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình”.  
1.2. Mục tiêu của đề tài  
1.2.1. Mục tiêu tổng quát  
Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt trên địa bàn xã Cao Sơn,  
huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình và đề xuất giải pháp bảo vệ, xử lý nguồn nước  
sinh hoạt của người dân  
   
3
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Tìm hiểu được các nguồn cung cấp nước sinh hoạt trên địa bàn xã  
- Đánh giá chất lượng môi trường nước sinh hoạt trên địa bàn xã Cao  
Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.  
- Tìm hiểu các phương pháp xử lý nước sinh hoạt của người dân trên địa  
bàn xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.  
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nước sinh hoạt và  
nâng cao năng lực quản lý tài nguyên nước.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học  
- Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm.  
- Áp dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn.  
- Nâng cao hiểu biết về kiến thức thực tế .  
- Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường.  
- Bổ sung tư liệu cho học tập.  
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn  
- Giúp bản thân có thêm kiến thức về tài nguyên nước (nước sinh hoạt).  
- Phản ánh thực trạng môi trường nước trên địa bàn xã Cao Sơn, huyện  
Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.  
- Cảnh báo các vấn đề cấp bách và nguy cơ tiềm tàng về ô nhiễm suy  
thoái môi trường nước.  
- Nâng cao chất lượng nước phục vụ cho người dân trên địa bàn của  
huyện.  
- Lựa chọn các giải pháp tối ưu để sử dụng nước có chất lượng đảm bảo.  
- Tạo số liệu làm cơ sở cho việc lập kế hoạch xây dựng chính sách bảo  
vệ môi trường và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của xã.  
       
4
Phần 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sở pháp lý của đề tài  
* Luật:  
- Luật Bảo vệ môi trường của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt  
Nam số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014.  
- Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 được Quốc hội nước Cộng Hòa  
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12 tháng 06 năm 2012.  
* Nghị định:  
- Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính Phủ quy  
định chi tiết thi hành một số điều của luật tài nguyên nước.  
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy  
định chi tiết thi hành một số điều của luật BVMT.  
- Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17/07/2017 của Chính phủ quy  
định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.  
* Thông tư:  
- Thông tư số 47/2017/TT-BTNMT ngày 07/11/2017 của Bộ Tài nguyên  
và Môi trường quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước.  
- Thông tư số 75/2017/TT-BTNMT ngày 29/12/2017 của Bộ Tài nguyên  
và Môi trường quy định về bảo vệ nước dưới đất trong các hoạt động khoan,  
đào, thăm dò, khai thác nước dưới đất.  
*Các tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam liên quan đến chất lượng  
nước sinh hoạt:  
- QCVN 01:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng  
nước ăn uống;  
- QCVN 02: 2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng  
nước sinh hoạt;  
     
5
- QCVN 08: 2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng  
nước mặt;  
- QCVN 09: 2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng  
nước ngầm;  
- TCVN 5992:1995 (ISO 5667-2: 1991) - Chất lượng nước - Lấy mẫu.  
Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu;  
- TCVN 5993:1995 (ISO 5667-3: 1985) - Chất lượng nước - Lấy mẫu.  
Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu;  
- TCVN 6000:1995 (ISO 5667-11: 1992) Chất lượng nước - Lấy mẫu.  
Hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm;  
2.2. Cơ sở lý luận của đề tài  
*Khái niệm môi trường:  
- Theo UNESCO, môi trường được hiểu là: “Toàn bộ các hệ thống tự  
nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con  
người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các nguồn tài nguyên  
thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người”.  
- Theo Luật Bảo vệ Môi trường (2014) của Nước CHXHCN Việt Nam, thì  
môi trường được khái niệm: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên  
và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”.  
*Khái niệm ô nhiễm môi trường:  
- Ô nhiễm môi trường: Là sự thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm  
tiêu chuẩn môi trường. Chất gây ô nhiễm môi trường là những nhân tố làm  
cho môi trường trở nên độc hại. Thông thường tiêu chuẩn môi trường là  
những chuẩn mực, giới hạn cho phép được quy định dùng làm căn cứ để quản  
lý môi trường (Nguyễn Lan Phương) [9].  
- Theo Khoản 8 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 của Việt Nam:  
“Ô nhiễm môi trường” là sự biến đổi của các thành phần môi trường không  
 
6
phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh  
hưởng xấu đến con người và sinh vật” [4].  
* Nước và một số khái niệm liên quan:  
- Trong tự nhiên: nước tồn tại ở cả 3 dạng: rắn, lỏng, khí, nước đóng  
băng ở nhiệt độ 0OC nước có khối lượng riêng lớn nhất.  
- Nước mặt: Là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo.  
- Nước dưới đất: Là nước tồn tại ở trong các tầng chứa nước dưới đất.  
- Nước sinh hoạt: là nước dùng để ăn uống, vệ sinh con người.  
- Nước sạch: là nước đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng nước sạch Việt Nam.  
- Nguồn nước liên tỉnh: Là nguồn nước phân bố trên địa bàn từ hai tỉnh  
thành phố trực thuộc trung ương trở lên (Dư Ngọc Thành, 2008) [8].  
- Nguồn nước nội tỉnh: Là nguồn nước phân bố trên địa bàn một tỉnh,  
thành phố trực thuộc trung ương.  
- Nguồn nước liên quốc gia: Là nguồn nước chảy từ lãnh thổ Việt Nam  
sang lãnh thổ nước khác hoặc từ lãnh thổ nước khác vào Việt Nam hoặc  
nguồn nước nằm trên đường biên giới giữa Việt Nam và quốc gia láng giềng.  
- Khái niệm ô nhiễm nước: Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu  
đi các tính chất vật lý – hóa học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất  
lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại đối với con người và  
sinh vật, làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và  
quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.  
- Ô nhiễm nguồn nước: Là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hóa  
học, thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn,  
kỹ thuật cho phép gây ảnh hưởng xấu tới con người và sinh vật.  
- Suy thoái nguồn nước: Là sự suy giảm về số lượng, chất lượng nguồn  
nước so với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nước đã được  
quan trắc qua các thời kỳ trước đó (Dư Ngọc Thành, 2008) [8].  
7
- Cạn kiệt nguồn nước: Là sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng của  
nguồn nước, làm cho nguồn nước không còn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu  
khai thác sử dụng và duy trì hệ sinh thái thủy sinh.  
- Chức năng của nguồn nước: Là những mục đích sử dụng nước nhất  
định dựa trên các giá trị lợi ích của nguồn nước.  
- Hành lang bảo vệ nguồn nước: Là những mục đích sử dụng nước nhất  
định dựa trên các giá trị lợi ích của nguồn nước (Dư Ngọc Thành, 2008) [8].  
- Bảo vệ tài nguyên nước: Là biện pháp nhằm chống suy thoái, trách  
cạn kiệt nguồn nước, đảm bảo an toàn nguồn nước và bảo vệ khả năng phát  
triển tài nguyên nước.  
2.3. Cơ sở thực tiễn của đề tài  
2.3.1. Vai trò của nước đối với cơ thể con người  
Cũng như không khí và ánh sáng, nước không thể thiếu được trong đời  
sống con người. Trong quá trình hình thành sự cố trên trái đất thì nước và môi  
trường đóng vai trò quan trọng, nước tham gia vào vai trò tái sinh thế giới hữa  
cơ (tham gia vào qúa trình quang 8 hợp). Trong quá trình trao đổi chất nước  
đóng vai trò trung tâm. Những phản ứng lý hóa học diễn ra với sự tham gia  
bắt buộc của nước. Nước là dung môi của nhiều chất và đóng vai trò dẫn  
đường cho các muối đi vào cơ thể.  
Con người sống không thể thiếu nước. Cơ thể chỉ cần mất đi 10% lượng  
nước thì lập tức các chức năng sinh lý sẽ bị rối loạn: nếu mất đi 20% lượng  
nước thì nhanh chóng dẫn đến nguy cơ tử vong. Một cơ thể khỏe mạnh, nhịn  
ăn chỉ cần cung cấp đủ nước vẫn có thể duy trì sự sống trong vòng một tháng.  
Ngược lại nếu thiếu nước, chỉ sử dụng thức ăn khô không có nước thì bình  
thường sau 5-7 ngày sẽ có nguy cơ tử vong. Điều này cho chúng ta thấy rằng,  
nước có vai trò quan trọng như thế nào đối với sự sống con người.  
   
8
Nước chiếm khoảng 60% thành phần cấu tạo cơ thể. Hàm lượng nước ở  
nam giới nhiều hơn so với nữ giới, người trẻ tuổi cần nhiều nước hơn người  
cao tuổi. Đối với các bộ phận trong cơ thể, lượng nước phân phối không  
giống nhau. Trong xương chiếm 10%, trong mô mỡ chiếm 20% - 35%, trong  
thịt chiếm gần 70%, trong dịch vị và huyết tương nước chiếm tới 90% (Võ  
Dương Mộng Huyền và cs, 2013) [8].  
2.3.2. Vai trò của nước đối với đời sống sản xuất  
- Đối với đời sống sinh hoạt: nước sử dụng cho nhu cầu ăn uống, tắm  
giặt, các hoạt động vui chơi giải trí: bơi lội…  
- Đối với hoạt động nông nghiệp: trồng lúa, hoa màu… nước là yếu tố  
không thể thiếu.  
- Đối với công nghiệp: nước được sử dụng trong quá trình sản xuất giấy,  
công nghiệp hóa chất và kim loại, xử lý rác thải…  
- Nước có vai trò đối với các hoạt động nuôi trồng thủy hải sản, chăn  
nuôi, thủy điện.  
2.4. Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước  
2.4.1. Tác nhân vật lý gây ô nhiễm môi trường nước  
Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm tăng lượng chất lơ  
lửng, tức làm tăng độ đục của nước. Các chất này có thể là nguồn gốc vô cơ  
hay hữu cơ, có thể được vi khuẩn ăn. Sự phát triển của các vi khuẩn và các vi  
sinh vật khác lại càng làm tăng tốc độ đục của nước và làm giảm độ xuyên  
thấu của ánh sáng.  
Nhiều nước thải công nghiệp có chứa các chất có màu, hầu hết là màu  
hữu cơ, làm giảm giá trị sử dụng của nước về mặt y tế cũng như thẩm mỹ.  
Ngoài ra, các chất thải công nghiệp còn chứa nhiều hợp chất hóa học như  
muối sắt, mangan, clo tự do, hydro sulfua, phenol,... làm cho nước có vị  
không bình thường. Các chất amoniac, sulfua, cyanua, dầu làm cho nước có  
mùi lạ. Thanh tảo làm cho nước có mùi tanh của cá.  
     
9
2.4.2. Tác nhân hóa học gây ô nhiễm môi trường nước  
Các tác nhân và thông số hoá học gây ô nhiễm môi trường nước bao gồm  
các tác nhân sau:  
- Kim loại nặng: Các kim loại nặng như Hg, Cd, Pb, As, Cu, Zn, Mn…có  
trong nước với nồng độ lớn đều làm cho nước bị ô nhiễm. Kim loại nặng thường  
tích luỹ dưới cơ thể sinh vật do vậy rất độc hại với cơ thể sinh vật. Kim loại nặng  
có mặt trong nước từ các nguồn khác nhau như nước thải công nghiệp, y tế, khai  
thác khoáng sản, sinh hoạt, nông nghiệp, từ đường giao thông.  
-
3-  
2-  
- Các nhóm anion NO3 , PO4 , SO4 : Các nguyên tố N, P, S ở nồng độ  
thấp là các chất dinh dưỡng đối với tảo và các sinh vật dưới nước. Khi ở nồng  
độ cao các chất này gây ra sự phú dưỡng hoặc các biến đổi sinh hoá trong cơ  
thể sinh vật và người.  
- Thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc BVTV là những chất độc hại có nguồn  
gốc tự nhiên hoặc tổng hợp hoá học, được dùng để phòng trừ các sinh vật có  
hại cho cây trồng và nông sản. Thuốc BVTV được dùng trong sản xuất nông  
nghiệp, chỉ có một phần thuốc tác dụng trực tiếp để diệt côn trùng và bệnh  
hại, còn lại sẽ đi vào nước, đất, tích luỹ trong môi trường hay cơ thể sinh vật  
(Trịnh Thị Thanh, 1998) [5].  
- Do thải vào nước các chất nitrat, photphat dùng trong nông nghiệp và  
các chất thải do luyện kim và các công nghệ khác như Zn, Mn, Cu, Hg là  
những chất độc cho thủy sinh vật.  
- Đó là chì được sử dụng là chất phụ gia trong xăng và các kim loại khác  
như đồng, kẽm, crom, niken, cadimi rất độc đối với sinh vật thủy sinh.  
- Sự ô nhiễm nước do nitrat và photphat từ phân hóa học cũng đáng lo  
ngại. Phân bón làm tăng năng suất cây trồng và chất lượng của sản phẩm.  
Nhưng các cây trồng chỉ được khoảng 30 – 40 % lượng phân bón, lượng dư  
 
10  
thừa sẽ vào các dòng nước mặt hoặc nước ngầm, sẽ gây hiện tượng phì nhiêu  
hóa sông hồ, gây yếm khí ở các lớp nước ở dưới.  
- Hydrocacbon:  
Hydrocacbon là các hợp chất của nguyên tố cacbon và hydro. Chúng ít  
tan trong nước nhưng tan nhiều trong dầu và các dung môi hữu cơ. Chúng là  
một trong những nguồn ô nhiễm của nền văn minh hiện đại. Vấn đề hết sức  
nghiêm trọng ở những vùng nước lợ và thềm lục địa có nhiều cá.  
Sự ô nhiễm bởi các hydrocacbon là do các hiện tượng khai thác mỏ dầu,  
vận chuyển dầu trên biển và các chất thải bị nhiễm xăng dầu. Các tai nạn đắm  
tàu chở dầu là tương đối thường xuyên.  
Các vực nước ở đất liền cũng bị nhiễm bẩn bởi các hydrocacbon. Sự thải của  
các nhà máy lọc dầu, hay sự thải dầu nhớt xe tàu là do vô ý vãi xăng dầu. Tốc độ  
thấm của xăng dầu lớn gấp 7 lần của nước, sẽ làm các lớp nước ngầm bị nhiễm.  
- Chất tẩy rửa: Bột giặt tổng hợp và xà bông.  
Bột giặt tổng hợp phổ biến từ năm 1950. Chúng là các chất hữu cơ có  
cực và không có cực. Có 3 loại bột giặt: anionic, cationic và non-ionic. Bột  
giặt anionic được sử dụng nhiều nhất, nó có chứa TBS (tetrazopylerne benzen  
sulfonate), không bị phân hủy sinh học.  
Xà bông là tên gọi chung có muối kim loại với axit béo. Ngoài các xà  
bông natri và kali tan được trong nước, thường dùng trong sinh hoạt, còn các  
xà bông không tan thì chứa canxi, sắt, nhôm,... sử dụng trong kỹ thuật (các  
chất bôi trơn, sơn, verni,...).  
- Nông dược  
Các nông dược tạo nên một nguồn ô nhiễm quan trọng cho các vực  
nước. Nguyên nhân gây ô nhiễm là do các nhà máy thải các chất cặn bã ra  
sông hoặc do việc sử dụng các nông dược trong nông nghiệp, làm ô nhiễm  
nước mặt, nước ngầm và các vùng cửa sông, bờ biển.  
11  
Sử dụng nông dược mang lại nhiều hiệu quả trong nông nghiệp nhưng  
hậu quả cho môi trường và sinh thái cũng rất đáng kể.  
2.4.3. Tác nhân sinh học gây ô nhiễm nguồn nước  
Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là phân, rác,  
nước thải. Coliform là chỉ số phản ánh số lượng vi khuẩn E.coli trong nước  
thường không gây bệnh cho người và sinh vật. Nước bị ô nhiễm gây ra rất  
nhiều ảnh hưởng đến đời sống con người và các sinh vật. Ở Việt Nam có gần  
80% loại bệnh có liên quan đến chất lượng nước và vệ sinh môi trường mà  
chủ yếu là do chất lượng nước, nhất là các bệnh đường ruột, bệnh tả, bệnh  
thương hàn…Các bệnh đặc biệt là ỉa chảy, lị ngày càng có xu hướng gia tăng.  
Không chỉ vậy, hiện nay nông thôn Việt Nam, tỷ lệ người nhiễm giun sán,  
giun đũa, giun móc…được xếp vào loại cao nhất thế giới. Những khảo sát gần  
đây cho thấy 100% trẻ em từ 4 - 14 tuổi ở nông thôn miền Bắc nhiễm giun  
đũa, từ 50 - 80% nhiễm giun móc. Các bệnh sán lá gan, lá lợn vẫn hoành  
hành… Đặc biệt nguy hiểm hơn nếu nước bị nhiễm kim loại nặng là nguyên  
nhân gây ra căn bệnh ung thư ở người (Trịnh Thị Thanh, 1998) [5].  
Ô nhiễm nước sinh học do các nguồn thải đô thị hay công nghiệp bao  
gồm các chất thải sinh hoạt, phân, nước rửa của các nhà máy đường, giấy,..  
Sự ô nhiễm về mặt sinh học chủ yếu là do sự thải các chất hữu cơ có thể  
lên men được, chất thải sinh hoạt hoặc công nghiệp có chứa cặn bã sinh hoạt,  
phân tiêu, nước rửa của các nhà máy đường, giấy, lò sát sinh,...  
Sự ô nhiễm sinh học thể hiện bằng sự nhiễm bẩn do vi khuẩn rất nặng.  
Các bệnh cầu trùng, viêm gan do siêu vi khuẩn tăng lên liên tục ở nhiều quốc  
gia chưa kể đến các trận dịch tả. Các nước thải từ lò sát sinh chứa một lượng  
lớn mầm bệnh.  
Các nhà máy chế biến thực phẩm, sản xuất đồ hộp, thuộc da, lò mổ, đều  
có nước thải chứa protein. Khi được thải ra dòng chảy, protein nhanh chóng  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 64 trang yennguyen 17920 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hien_trang_nuoc_sinh_hoat_tren_dia_ban_xa.pdf