Khóa luận Đánh giá hiện trạng môi trường của một số trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn xã Minh Đức, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
-------------------------  
NGUYỄN THỊ HIỀN  
Tên đề tài:  
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG CỦA MỘT SỐ TRANG  
TRẠI CHĂN NUÔI LỢN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ MINH ĐỨC,  
THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN”  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Khoa học Môi trường  
: Môi trường  
Khóa học  
: 2014 – 2018  
Thái Nguyên – năm 2018  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
-------------------------  
NGUYỄN THỊ HIỀN  
Tên đề tài:  
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG CỦA MỘT SỐ TRANG  
TRẠI CHĂN NUÔI LỢN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ MINH ĐỨC,  
THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN”  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Khoa học Môi trường  
: K46 - KHMT - N01  
: Môi trường  
Khoa  
Khóa học  
: 2014 – 2018  
Giảng viên hướng dẫn : TS. Dư Ngọc Thành  
Thái Nguyên – năm 2018  
i
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt  
tình của các thầy cô giáo trong trường cùng các anh chị công tác tại Chi cục  
bảo vệ môi trường tỉnh Thái Nguyên, cùng với đó là sự động viên của gia  
đình và bạn bè.  
Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy giáo cô giáo  
trong khoa Môi trường của trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, người đã  
giảng dạy và đạo tạo, hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập. Đặc biệt em  
xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS. Dư Ngọc Thành đã quan tâm, chỉ bảo,  
hướng dẫn em rất tận tình trong suốt quá trình em thực tập và hoàn thành  
khoá luận tốt nghiệp này.  
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cô chú, anh chị đang công tác tại  
Chi cục bảo vệ Môi trường tỉnh Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ em trong  
quá trình thực tập tốt nghiệp.  
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm,  
động viên giúp đỡ để em hoàn thành tốt khoá luận này.  
Do kiến thức còn hạn chế nên luận văn sẽ không tránh khỏi những sai  
sót. Vì vậy em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý thầy cô, các  
anh chị cùng các bạn để luận văn của em được hoàn thiện hơn.  
Cuối cùng em xin kính chúc các thầy cô giáo Khoa Môi Trường, thầy Dư  
Ngọc Thành, cán bộ đang công tác tại Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Thái  
Nguyên cùng bạn bè và gia đình nhiều sức khoẻ, hạnh phúc và thành công.  
Em xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018  
Sinh viên  
Nguyễn Thị Hiền  
 
ii  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
 
iv  
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT  
AC  
: Ao - Chuồng  
BVMT  
BTNMT  
BOD  
: Bảo vệ môi trường  
: Bộ Tài nguyên Môi trường  
: Biochemical Oxygen Demand (chỉ số nhu cầu oxy sinh hóa)  
: Chemical Oxygen Demand (chỉ số nhu cầu oxy hóa học)  
: Chất thải rắn chăn nuôi  
COD  
CTRCN  
DO  
: Demand Oxygen (chỉ số nhu cầu oxy hòa tan)  
NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
QCVN  
SBR  
: Quy chuẩn Việt Nam  
: sequencing batch reactor (bể phản ứng theo mẻ)  
: Tiêu chuẩn Việt Nam  
TCVN  
VAC  
VC  
: Vườn - Ao - Chuồng  
: Vườn - Chuồng  
VSV  
SBR  
: Vi sinh vật  
: sequencing batch reactor (bể phản ứng theo mẻ)  
: Upflow anearobic sludge blanket (bể xử lý sinh học dòng chảy  
ngược qua tầng bùn kỵ khí)  
UASB  
HDPE  
TPS  
: High Density Polyethinel (Mật độ cao Polyethinel)  
: Toyota Production System (hệ thống sản xuất Toyota, còn gọi  
là JIT (Just – In – time: đúng lúc))  
TPM  
TQM  
: Total Productive Maintenance (Bảo trì năng suất toàn diện)  
: Total Quality Management hệ thống quản lý chất lượng toàn diện  
 
v
MỤC LỤC  
 
vi  
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Hiện nay ô nhiễm môi trường trở thành vấn đề của toàn cầu. Hiện  
tượng ô nhiễm môi trường ngày càng tăng không chỉ do sự phát triển mạnh  
mẽ công nghiệp, mà còn chiếm tỷ trọng lớn từ sản xuất nông nghiệp bao gồm  
trồng trọt và chăn nuôi. Đối với các cơ sở chăn nuôi, các chất thải gây ô  
nhiễm môi trường có tác động trực tiếp tới sức khỏe cộng đồng, làm giảm sức  
đề kháng vật nuôi, tăng tỷ lệ mắc bệnh, năng suất không cao, hiệu quả chăn nuôi  
thấp. Nếu môi trường chăn nuôi không tốt, sức đề kháng của gia súc, gia cầm  
giảm sút sẽ là nguy cơ gây nên bùng phát dịch bệnh.Vì vậy trong khuyến cáo của  
tổ chức WHO [2005] luôn đề nghị phải có các giải pháp tăng cường sự trong  
sạch môi trường chăn nuôi, kiểm soát, xử lý chất thải, giữ vững được an toàn  
sinh học, tăng cường sức khỏe đàn giống. Đặc biệt nguy hiểm ô nhiễm môi  
trường về vi sinh vật (các mầm bệnh truyền nhiễm) làm phát sinh các loại dịch  
bệnh như ỉa chảy, lở mồm long móng, tai xanh, cúm gia cầm H5N1.  
Ở các trang trại chăn nuôi tại xã Minh Đức, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái  
Nguyên chỉ tập trung chủ yếu là nuôi lợn. Số lượng đàn lợn ngày càng lớn  
kéo theo chất lượng như phân nước tiểu, chất độn chuồng, thức ăn thừa, xác  
vật nuôi chết, vỏ bao bì của thức ăn chăn nuôi... ngày càng tăng đã trở thành  
điểm nóng về ô nhiễm môi trường do chất thải không được xử lý hoặc chỉ xử  
lý sơ bộ rồi thải ra môi trường đã gây tác động xấu đến nguồn nước, đất,  
không khí, và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người chăn nuôi lợn  
nói riêng và các hộ dân xung quanh nói chung.Xuất phát từ thực tế đó tôi tiến  
hành đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường của một số trang trại chăn  
nuôi lợn trên địa bàn xã Minh Đức, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”  
với mục tiêu đánh giá một cách khoa học, đầy đủ về mức độ, phạm vi ô  
nhiễm, từ đó đề xuất được các biện pháp xử lý và giảm thiểu ô nhiễm môi  
trường cho các cơ sở chăn nuôi một cách hiệu quả.  
   
2
1.2. Mục tiêu đề tài  
1.2.1. Mục tiêu chung  
Đánh giá hiện trạng môi trường của một số trang trại chăn nuôi lợn trên  
địa bàn xã Minh Đức, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên từ đó đề xuất các giải  
pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tạicác trang trại chăn nuôi lợn trên địa  
bàn xã Minh Đức  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Tìm hiểu tình hình chăn nuôi lợn tại một số trang trại trên địa bàn xã  
Minh Đức  
- Đánh giá chất lượng môi trường tại một số trang trại chăn nuôi lợn  
trên địa bàn xã Minh Đức.  
- Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các cơ sở  
chăn nuôi lợn trong điều kiện thực tế ở địa phương.  
1.3. Ý nghĩa đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong khoa học  
- Nghiên cứu sẽ đánh giá một phần hiện trạng ngành chăn nuôi lợn tại  
các cơ sở trên địa bàn xã Minh Đức, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.  
- Đề tài nhằm vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, góp phần  
nâng cao hiểu biết về công tác quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường cho các  
hộ chăn nuôi. Đồng thời kết quả nghiên cứu còn phục vụ cho việc học tập và  
công tác nghiên cứu sau này.  
1.3.2.Ý nghĩa trong thực tiễn  
Góp phần giải quyết ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi, và đề xuất  
giải pháp để cải thiện cảnh quan môi trường cho các khu vực chăn nuôi tại địa  
bàn xã Minh Đức, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và nâng cao chất lượng  
môi trường sống cho cộng đồng dân cư.  
           
3
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở khoa học  
2.1.1. Tác động của chăn nuôi tới đời sống và nền kinh tế  
Ngành chăn nuôi không đóng vai trò chủ chốt trong nền kinh tế toàn  
cầu nhưng lại là ngành có nhiều ý nghĩa về mặt chính trị – xã hội. Nó chiếm  
40 % tổng sản phẩm trong ngành nông nghiệp, giải quyết việc làm cho hơn  
1,3 tỷ người lao động và là sinh kế của hơn 1 tỷ người dân sống ở các nước  
nghèo. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi cũng được coi là một trong ba ngành có  
tác động lớn đến môi trường.  
Cùng với sự tăng dân số và thu nhập, nhu cầu về các sản phẩm từ thịt  
và sữa ngày càng tăng. Tổng nhu cầu tiêu thụ thịt trên toàn thế giới được dự  
đoán là sẽ tăng gấp đôi, từ 229 triệu tấn năm 1999 lên 465 triệu tấn vào năm  
2050, và sản lượng sữa cũng sẽ tăng từ 580 lên 1043 triệu tấn trong cùng thời  
gian này. Đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, ngành chăn nuôi đã có nhiều  
thay đổi.  
Xu hướng công nghiệp hoá và chuyên môn hoá ngày càng tăng. Khu  
vực sản xuất cũng chuyển dịch dần từ vùng nông thôn đến vùng đô thị và ven  
đô, đến gần hơn với người tiêu dùng. Còn nguồn thức ăn cung cấp cho chăn  
nuôi thì được trồng ở vùng khác có điều kiện thuận lợi hơn, sau đó được nhập  
khẩu và vận chuyển đến các khu chăn nuôi.  
Tốc độ tăng giữa các loài được nuôi cũng có sự chuyển dịch nhất định. Với  
những loài dạ dày đơn như lợn và gia cầm, khi chuyển sang nuôi công nghiệp thì  
tăng trưởng nhanh hơn, trong khi gia súc lớn thì tăng trưởng chậm hơn.  
     
4
Với sự chuyển dịch này, ngành chăn nuôi đang trở thành một đối thủ  
không kém cạnh trong cuộc chạy đua về tiêu tốn về đất đai, nước và các  
nguồn tài nguyên thiên nhiên khác so với các ngành công nghiệp, dịch vụ.  
Bản báo cáo mới đây của Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO)  
cho thấy ngành chăn nuôi đã và đang gây ra những vấn đề môi trường nghiêm  
trọng như thoái hoá đất, biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí, thiếu nước và  
ô nhiễm nước, mất đa dạng sinh học.  
Tổng diện tích dành cho chăn nuôi chiếm 26% diện tích bề mặt không  
phủ băng tuyết của Trái đất. Thêm vào đó là 33% diện tích đất trồng được  
dành để sản xuất thức ăn cho chăn nuôi. Tổng cộng, ngành chăn nuôi chiếm  
70% diện tích đất nông nghiệp, tương đương 30% diện tích bề mặt Trái đất.  
Mở rộng diện tích dành cho chăn nuôi là một trong những nguyên nhân  
chính làm mất rừng. Tình trạng này xảy ra rất phổ biến trên toàn thế giới  
nhưng đặc biệt nghiêm trọng ở khu vực Nam Mỹ. Rừng Amazon – khu rừng  
nhiệt đới lớn nhất thế giới đang bị tàn phá với tốc độ khủng khiếp để chuyển  
đổi thành đồng cỏ chăn nuôi và đất trồng thức ăn gia súc.  
Mất rừng làm cho đất bị xói mòn vào mùa mưa và khô hạn vào mùa  
khô. Khoảng 20% diện tích đất đồng cỏ và đất rừng, trong đó khoảng 73%  
diện tích đất rừng nằm trong vùng khô hạn đã bị thoái hoá do các tác động  
của ngành chăn nuôi.  
Biến đổi khí hậu với các hiện tượng như tăng nhiệt độ, tăng mực nước  
biển, tan băng, thay đổi các dòng hải lưu và các hiện tượng thời tiết cực  
đoan…đang từng ngày đe doạ sự tồn vong của loài người. Trong đó, ngành  
chăn nuôi phải chịu trách nhiệm về 18% trong tổng lượng phát thải khí nhà  
kính của toàn cầu, cao hơn cả ngành giao thông vận tải.  
5
Lượng phát thải CO2 từ chăn nuôi chiếm 9% toàn cầu, chủ yếu là do  
hoạt động chuyển đổi mục đích sử dụng đất – đặc biệt là phá rừng để mở rộng  
các khu chăn nuôi và các vùng trồng cây thức ăn gia súc.  
Ngành này còn thải ra 37% lượng khí mê tan CH4 (một loại khí có khả  
năng gây hiệu ứng nhà kinh cao gấp 23 lần CO2), 65% lượng khí NOx (có  
khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp 296 lần CO2) và tạo ra 2/3 tổng  
lượng phát thải khí a-mô-ni-ắc, nguyên nhân chính gây mưa axit phá huỷ các  
các hệ sinh thái.  
Thế giới hiện đang phải đối mặt với tình trạng thiếu nước ngọt nghiêm  
trọng. Theo dự đoán đến năm 2025, 64% dân số thế giới sẽ phải sống trong  
điều kiện căng thẳng về nguồn nước. Trong khi đó, sự phát triển của ngành  
chăn nuôi càng làm tăng nhu cầu sử dụng nước.  
Hiện nay, ngành chăn nuôi đang chiếm khoảng 8% tổng lượng nước  
loài người sử dụng trên toàn thế giới. Nhưng vấn đề nghiêm trọng nhất mà nó  
gây ra đối với môi trường nước chính là nước thải. Nước thải của ngành chăn  
nuôi chứa nhiều chất ô nhiễm như chất kháng sinh, hoocmon, hoá chất, phân  
bón, thuốc trừ sâu.  
Chúng đang huỷ hoại các vùng ven biển, các bãi san hô ngầm, gây ra  
nhiều vấn đề sức khoẻ cho con người và các vấn đề khác. Ngoài ra, ngành  
chăn nuôi còn làm giảm lượng nước bổ sung cho các mạch nước ngầm do mất  
rừng và đất bị thoái hoá, chai cứng, giảm khả năng thẩm thấu.  
Tất cả những tác động tiêu cực của ngành chăn nuôi đến môi trường  
đất, nước, không khí và khí hậu đã dẫn đến một kết quả tất yếu đối với hệ sinh  
thái Trái đất, đó là sự suy giảm đa dạng sinh học.  
Theo báo cáo của WWF, trong số 825 vùng sinh thái trên cạn của Trái  
đất có 306 vùng bị tác động bởi ngành chăn nuôi. Còn theo Tổ chức Bảo tồn  
6
Thiên nhiên Thế giới (Conservation International) thì có đến 23 trong tổng số  
35 “điểm nóng về đa dạng sinh học” bị ảnh hưởng bởi ngành chăn nuôi.  
Sách đỏ về những Loài bị Đe doạ của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Thế  
giới (IUCN) cũng cho thấy hầu hết những loài đang bị đe doạ trên thế giới là  
do mất đi môi trường sống, mà chăn nuôi là một trong những nguyên nhân  
hàng đầu.  
2.1.2. Hiện trạng môi trường của một số trang trại chăn nuôi lợn  
2.1.2.1. Hiện trạng môi trường chăn nuôi lợn của Việt Nam  
Ở Việt Nam, chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất  
nông nghiệp với tốc độ tăng trưởng luôn ở mức cao. Giá trị ngành chăn nuôi  
ước đạt 11 nghìn tỷ USD và có tốc độ tăng trưởng 6 - 8%/năm trong khi đó  
trên thế giới gia tăng bình quân chỉ đạt 1%/năm. Đến nay tỉ trọng chăn  
nuôi trong nông nghiệp Việt Nam chiếm 22,3% [21]. Sản phẩm chăn nuôi  
của Việt Nam đạt trên 4 triệu tấn/năm, đứng thứ 3 châu Á (sau Trung  
Quốc và Ấn Độ) với tổng đàn lợn của Việt Nam đứng thứ 4 trên thế giới chỉ  
sau Trung Quốc, Hoa Kỳ và Brazil [11].  
Tuy nhiên, tính đến nay Việt Nam chưa có dự án CDM (xây dựng và  
áp dụng Cơ chế phát triển sạch) nào trong lĩnh vực chăn nuôi được thực hiện  
do nhận thức, hiểu biết về CDM và những quyền lợi, lợi ích từ CDM mang lại  
còn nhiều hạn chế [11]; các chuyên gia về CDM trong chăn nuôi còn rất  
thiếu; cơ sở pháp lý, các quy định ở nước ta cũng như trên thế giới chưa được  
hoàn thiện và phối hợp đồng bộ nên việc thực hiện gặp nhiều khó khăn; số  
lượng quy mô trang trại nhỏ vẫn còn nhiều, phân tán ở hầu hết các địa phương  
gây ảnh hưởng đến việc áp dụng các công nghệ tiên tiến giảm lượng khí thải  
nhà kính.  
 
7
Bảng 2.1. Số lượng lợn phân theo các vùng của Việt Nam  
(Đơn vị: 1000 con)  
2011 2012  
Năm  
Cả nước  
2008  
26  
2009  
27  
2010  
27  
27 055,9 26 494,0  
701,598  
627,729  
373,149  
ĐBSH  
6 971,850 7 095,707 6 946,504 7 092,1  
6 855,2  
4 915  
1 432  
2 908  
Đông Bắc  
4 988,258 5 289,789 5 495,255  
1 301,479 1 375,584 1 461,496  
3 551,052 3 445,825 3 287,506  
4 952  
1 473  
3 047  
Tây Bắc  
Bắc Trung Bộ  
Duyên Hải Nam  
Trung Bộ  
2 000,169 2 099,099 1 938,072 5 253,3  
5 084,9  
Tây Nguyên  
Đông Nam Bộ  
ĐBSCL  
1 557,225 1 636,052 1 633,125 1 711,7  
2 701,575 2 954,846 2 812,361 2 801,4  
3 629,990 3 730,827 3 798,830 3 772,5  
1 704,1  
2 780,0  
3 722,9  
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2012)  
Môi trường bị ô nhiễm lại tác động trực tiếp vào sức khoẻ vật nuôi,  
phát sinh dịch bệnh, gây khó khăn trong công tác quản lý dịch bệnh, giảm  
năng suất không thể phát triển bền vững.  
Công tác quản lý chất thải trong chăn nuôi lợn đang gặp nhiều khó  
khăn, việc sử dụng phân lợn trong nông nghiệp vẫn còn bị hạn chế do phân  
lợn không giống phân bò hay gia cầm khác. Theo điều tra tình hình quản lý  
chất thải chăn nuôi ở một số huyện thuộc TP. HCM và một số tỉnh lân cận chỉ  
có 6% số hộ nuôi lợn có bán phân cho các đối tượng sử dụng để nuôi cá và  
làm phân bón, khoảng 29% số hộ chăn nuôi lợn sử dụng phân cho bể biogas  
và 9% hộ dùng phân lợn để nuôi cá.  
Theo kết quả điều tra đánh giá hiện trạng môi trường của Viện chăn  
nuôi (2006) tại các cơ sở chăn nuôi lợn có quy mô tập trung ở Hà Nội, Hà  
 
8
Tây, Ninh Bình, Nam Định, Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai cho thấy:  
Chất thải rắn bao gồm chủ yếu là phân, chất độn chuồng, thức ăn thừa và đôi  
khi là xác gia súc, gia cầm chết. Kết quả điều tra hiện trạng quản lý chất thải  
chăn nuôi cho thấy 100% số cơ sở chăn nuôi đều chưa tiến hành xử lý chất  
thải rắn trước khi chuyển ra ngoài khu vực chăn nuôi. Các cơ sở này chỉ có  
khu vực tập trung chất thải ở vị trí cuối trại, chất thải được thu gom và đóng  
bao tải để bán cho người tiêu thụ làm phân bón hoặc nuôi cá. Đối với phương  
thức nuôi lợn trên sàn bê tông phía dưới là hầm thu gom thì không thu được  
chất thải rắn. Toàn bộ chất thải, bao gồm phân, nước tiểu, nước rửa chuồng  
được hòa lẫn và dẫn về bể biogas.  
Kết quả điều tra của cho thấy hệ thống xử lý nước thải tại các trang trại  
trên là: Nước thải bể Biogas hồ sinh học thải ra môi trường, hầu hết  
các trang trại chăn nuôi lợn khác cũng có sơ đồ xử lý chất thải như trên  
2.1.2.2. Hiện trạng môi trường chăn nuôi tỉnh Thái Nguyên  
Hiện nay, trên toàn tỉnh Thái Nguyên có 674 trang trại, gia trại, trong  
đó có 274 trang trại, gia trại chăn nuôi lợn; 353 trang trại, gia trại chăn nuôi  
gà; 47 trang trại, gia trại còn lại chăn nuôi trâu, ngựa, dê, nhím, chồn, rắn. Các  
trang trại/gia trại chăn nuôi lợn có lượng chất thải lớn và đang có nguy cơ gây  
ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh so với các loại hình trang trại khác.  
Trong đó, huyện có số trang trại chăn nuôi lợn nhiều nhất là: Phú Lương (có  
93 trang/gia trại), Phú Bình (có 68 trang/gia trại), Phổ Yên (có 44 trang/gia  
trại); còn lại phân bố rải rác tại các huyện còn lại.  
Trong số các trại chăn nuôi lợn, đa số các trang trại, gia trại có quy mô  
dưới 1000 con/năm (chiếm khoảng 90% trong tổng số 274 trang trại, gia trại  
lợn); khoảng 10% có quy mô trên 1000 con/năm. Phần lớn các trang trại, gia  
trại nằm xem kẽ trong các khu dân cư không đảm bảo khoảng cách vệ sinh  
đến khu dân cư; chất thải chủ yếu được xử lý bằng hệ thống biogas không  
9
đảm bảo đã gây ô nhiễm môi trường nhất là nguồn nước và môi trường không  
khí, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân xung quanh  
Bảng 2.2. Số lượng trang trại chăn nuôi tỉnh Thái Nguyên từ 2014-2016  
Số lượng trang trại  
TT Đơn vị hành chính  
2014  
64  
34  
95  
7
2015  
75  
2016  
82  
1
2
Tp. Thái Nguyên  
TP. Sông Công  
Phổ Yên  
50  
70  
3
96  
102  
14  
4
Định Hóa  
Võ Nhai  
11  
5
5
19  
21  
6
Phú Lương  
Đồng Hỷ  
36  
78  
25  
204  
548  
35  
53  
7
95  
105  
40  
8
Đại Từ  
53  
9
Phú Bình  
172  
606  
207  
694  
10  
Tổng số  
(Niên giám thống kê Thái Nguyên 2016 và điều tra thực tế)  
Hiện nay, Thái Nguyên là một tỉnh có ngành nông nghiệp chăn nuôi  
phát triển khá nhanh. Nhiều huyện có số lượng các trang trại chăn nuôi quy  
mô lớn và phong phú như: Đồng Hỷ và Phổ Yên, Phú Bình. Các trang trại này  
tập trung chủ yếu là chăn nuôi lợn.So với cả nước thì Thái Nguyên là tỉnh có  
số lượng đàn trâu không lớn. Những con trâu này được phân bố rải rác ở tất  
cả các huyện nhưng tập trung phần lớn ở các huyện Phú Bình, Đại Từ, Phổ  
Yên. Trâu ở Thái Nguyên được nuôi chủ yếu để làm sức kéo trong dân.  
Huyện Phú Bình có số lượng đàn bò lớn nhất so với toàn tỉnh (hơn 19  
ngàn con) được nuôi để lấy thịt.Số lượng đầu bò còn lại được phân bố khá  
đồng đều ở hầu hết các huyện còn lại. Theo khảo sát thì số lượng đầu bò tại 2  
 
10  
huyện (Phú Lương và Đại Từ) có số lượng khá khiêm tốn (dưới 1.000  
con/năm).  
Ngoài ra, Thái Nguyên còn nuôi cả ngựa và dê, Tuy nhiên, số lượng  
đầu ngựa và dê không nhiều do Thái Nguyên chưa có nhà máy chế biến sữa  
như các tỉnh Sơn La, Hòa Bình. Và do địa hình của Thái Nguyên là đồi núi,  
đường đi khó khăn nên việc nuôi ngựa chủ yếu theo quy mô hộ gia đình để  
tận dụng làm sức kéo. Ngày nay khi hệ thống giao thông được cải thiện, nhiều  
tuyến đường mới mở, việc đi lại và thu hoạch hoa màu của người dân thuận  
lợi hơn, ít phụ thuộc vào sức kéo từ ngựa thì số lượng đầu ngựa cũng có xu  
hướng giảm nhẹ qua các năm.  
Trong những năm gần đây, Thái Nguyên đã chú trọng phát triển đàn  
gia cầm dưới mô hình trang trại. Hiện nay, mô hình trang trại chăn nuôi gà  
của Thái Nguyên phát triển khá mạnh. Tính đến nay đã có khoảng hơn 1 triệu  
con gà đã và đang được nuôi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, trong đó Phú  
Bình, Đại Từ và thành phố Thái Nguyên là 3 huyện có tổng đàn gia cầm lớn  
hơn cả.  
Hình 2.1. Tổng số trang trại chăn nuôi tỉnh Thái Nguyên  
 
11  
Bảng 2.3. Số liệu điều tra chăn nuôi lợn năm 2016  
Quy mô chăn nuôi  
lợn  
Khối lượng CTR Lượng nước  
Thu gom và xꢂ lꢃ NT  
Điꢅm xả cuối  
Ao sinh học: 10%  
Số phiꢀu  
điều tra  
Số lượng  
Lợn  
trung bꢁnh  
kg/con/ngày  
trung bꢁnh  
lit/con/ngày  
Thu gom CTR  
con  
Lớn  
Vừa  
Nhꢄ  
Xꢂ lꢃ  
Kho chứa CTR: 41%  
Đóng bao để ngoài  
trời: 59%  
Kho chứa CTR: 52%.  
Đóng bao để ngoài  
trời: 48%  
Kho chứa CTR: 48%  
Đóng bao để ngoài  
trời: 52%  
Kho chứa CTR: 65%  
Đóng bao để ngoài  
trời: 35%  
Kho chứa CTR: 29%.  
Đóng bao để ngoài  
trời: 71%  
Kho chứa CTR: 33%.  
Đóng bao để ngoài  
trời: 67%  
Kho chứa CTR: 48%.  
Đóng bao để ngoài  
trời: 52%  
Kho chứa CTR: 65%.  
Đóng bao để ngoài  
trời: 35%  
100% có hầm  
biogas  
Đồng Hỷ  
Phú Lương  
Phổ Yên  
Đại Từ  
46  
46  
77  
40  
14  
79  
33  
17  
7
37  
2
20.619  
12.617  
29.805  
8.512  
1,93  
1,9  
1,8  
2,2  
2
2,1  
2,1  
2,3  
2
Kênh, suối: 20%  
Tưới cây trong vườn: 70%  
Ao sinh học: 10%  
Kênh, suối:10%  
100% có hầm  
5
13  
0
41  
63  
40  
14  
74  
28  
15  
0
1
0
0
0
0
2
biogas  
Tưới cây trong vườn:80%  
Ao sinh học: 24%  
Kênh, suối: 10%  
100% có hầm  
biogas  
Tưới cây trong vườn: 66%  
Ao sinh học: 24%  
Kênh, suối: 17%  
100% có hầm  
biogas  
Tưới cây trong vườn: 73%  
Ao sinh học: 0%  
Kênh, suối: 30%  
100% có hầm  
Định Hóa  
Phú Bình  
0
30.326  
30.326  
20.560  
2.610  
1,9  
1,9  
1,9  
1,9  
biogas  
Tưới cây trong vườn: 70%  
Ao sinh học: 10%  
Kênh, suối: 0,5%  
100% có hầm  
5
1,9  
1,9  
2
biogas  
Tưới cây trong vườn: 85%  
Ao sinh học: 0,5  
Kênh, suối: 0.5%  
Thái  
Nguyên  
100% có hầm  
5
biogas  
Tưới cây trong vườn: 95%  
Ao sinh học: 0%  
Kênh, suối: 10%  
100% có hầm  
Sông Công  
0
biogas  
Tưới cây trong vườn: 90%  
Vꢀ Nhai  
1
0
1
0
500  
2
2
Số lượng nhỏ nên không đánh giá  
Tổng Cộng  
353  
35  
313  
5
127173  
2
2
(Nguồn báo cáo tổng hợp nhiệm vụ” Điều tra đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”)  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 70 trang yennguyen 19260 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiện trạng môi trường của một số trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn xã Minh Đức, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hien_trang_moi_truong_cua_mot_so_trang_tr.pdf