Đồ án Đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang đến năm 2030

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp quản lý chất  
thải rắn sinh hoạt tại Thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang  
đến năm 2030  
Ngành:  
Kỹ thuật Môi trường  
Chuyên ngành: Kỹ thuật Môi trường  
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Vũ Hải Yến  
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thụy Vân Anh  
MSSV: 1411090187 Lớp: 14DMT02  
TP. HỒ CHÍ MINH, 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tác giả xin cam đoan đây là đồ án tốt nghiệp do chính tác giả thực hiện. Những  
số liệu, kêt quả nêu trong đề tài là trung thực và có nguồn gốc. Tác giả xin chịu trách  
nhiệm trước Hội đồng phản biện và pháp luật về các kết quả nghiên cứu của đề tài  
này.  
Tp. Mỹ Tho, ngày 15 tháng 08 năm 2018  
Sinh viên thực hiện  
Nguyễn Thụy Vân Anh  
LỜI CẢM ƠN  
Trong quá trình học tập tại trường Đại học Công Nghệ Thành phố Hồ Chí  
Minh em đã nhận được sự quan tâm, hướng dẫn tận tình đầy trách nhiệm và tâm huyết  
của quý Thầy, Cô, Ban giám hiệu Viện Khoa Học Ứng Dụng Hutech, ban cán sự và  
các bạn cùng lớp,… đã tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt khóa học và có thêm thật  
nhiều kiến thức bổ ích. Em xin được trân trọng và cảm ơn những tình cảm, sự giúp  
đỡ của quý Thầy Cô của Ban giám hiệu, cán bộ quản lý, công nhân viên các Phòng,  
Khoa, Trung tâm của trường.  
Em chân thành cảm ơn đến Cô Th.S. Vũ Hải Yến – giáo viên hướng dẫn đã  
hướng dẫn rất tận tình giúp đỡ em mỗi khi em có khó khăn trong quá trình làm đề tài  
tốt nghiệp. Em cảm ơn Cô trong hơn 2 tháng qua đã tận tình chỉ dạy, ủng hộ, góp ý,  
giúp đỡ em hoàn thành được đồ án tốt nghiệp này.  
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý cơ quan, đơn vị đã hỗ trợ, giúp đỡ và cho  
em những tài liệu, số liệu quan trọng, đáng tin cậy và có những chuyến đi thực tế  
cùng cơ quan, đơn vị.  
Con chân thành gửi lời cảm ơn đến mẹ, cha, gia đình và bạn bè thân thuộc,  
những người luôn sát cánh bên con, luôn ủng hộ và góp ý cho con những lời khuyên,  
sự động viên, sự giúp đỡ nhiệt tình trong suốt quá trình học tập tại trường và thời  
gian làm đồ án tốt nghiệp.  
Mặc dù đã cố gắng để hoàn thành đề tài với tất cả sự nỗ lực hết mình của bản  
thân, nhưng đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý Thầy  
Cô tận tình chỉ bảo để đề tài được hoàn thiện hơn.  
Em chân thành cảm ơn và biết ơn sâu sắc!  
Tp. Mỹ Tho, ngày 15 tháng 08 năm 2018  
Sinh viên thực hiện  
Nguyễn Thụy Vân Anh  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
MỤC LỤC  
i
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
ii  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
iii  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
BC – CTĐT: Báo cáo Công trình đô thị  
BCL: Bãi chôn lấp  
CTR: Chất thải rắn  
CTRSH: Chất thải rắn sinh hoạt  
CTRĐT: Chất thải rắn đô thị  
CTCTĐT: Công ty Công trình Đô Thị  
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long  
KCN: Khu công nghiệp  
KLR: Khối lượng riêng  
MT: Môi trường  
NĐ - CP: Nghị định Chính Phủ  
QH: Quốc hội  
QĐ.UB: Quyết định Ủy ban  
QLCTR: Quản lý chất thải rắn  
TNHH MTV: Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên  
TW: Trung ương  
TP: Thành phố  
UBND: Ủy ban nhân dân  
iv  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
DANH MỤC BẢNG  
v
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
MỞ ĐẦU  
1.  
Đặt vấn đề  
Đất nước ta hiện nay đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hoá và  
hiện đại hoá. Cùng với sự phát triển đó, quá trình đô thị hoá ở Việt Nam cũng đang  
phát triển không ngừng cả về tốc độ, qui mô cũng như về số lượng lẫn chất lượng.  
Bên cạnh những mặt tích cực, những tiến bộ vượt bậc vẫn còn tồn tại những mặt tiêu  
cực, những hạn chế mà không một nước đang phát triển nào không phải đối mặt, đó  
là tình trạng môi trường ngày càng bị ô nhiễm.  
Môi trường có tầm quan trọng đối với con người và cũng như của sinh vật theo  
đó là sự phát triển của kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới. Những năm gần  
đây tốc độ gia tăng dân số cùng với công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước thì môi  
trường càng bị đe dọa nghiêm trọng bởi nhu cầu khai thác quá mức và sử dụng các  
nguồn tài nguyên thiên nhiên, ý thức của con người về bảo vệ môi trường còn hạn  
chế. Nước thải ô nhiễm chưa qua công đoạn xử lý từ các nhà máy, công ty,... thuốc  
trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật từ quá trình sản xuất nông nghiệp của người nông dân  
hầu như thải trực tiếp ra sông, hồ, kênh rạch, quá trình khai thác tài nguyên thiên  
nhiên,…. đã và đang gây ô nhiễm môi trường càng nghiêm trọng. Những nguyên  
nhân trên gây nên hậu quả nặng nề đến con người và hệ sinh thái như: sự nóng lên  
của toàn cầu, băng tan chảy nhanh, tăng khí gây hiệu ứng nhà kính, ngập lụt, bão,….  
Một trong những tác nhân góp phần gây ô nhiễm, suy thoái môi trường là chất  
thải rắn (CTR) phát sinh từ quá trình sinh hoạt của con người. Lượng CTR được xử  
lý chủ yếu là đưa về bãi chôn lấp (BCL). Rác được chôn lấp phần lớn chưa được phân  
loại tại nguồn có nhiều chất ngây nguy hại và khó phân hủy như bao bì ni lông, vỏ  
chai nhựa thuốc trừ sâu,… gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đất và nguồn  
nước ngầm.  
Đối với các thành phố trọng điểm thì vấn đề này càng trở nên trầm trọng hơn,  
đòi hỏi cần được quan tâm sâu sắc, kịp thời giải quyết một cách nghiêm túc, triệt để  
và hàng loạt các vấn đề môi trường khác cần được giải quyết.  
1
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
Thành phố Mỹ Tho là đô thị loại I trực thuộc tỉnh tiền Giang (được Thủ tướng  
Chính phủ công nhận vào ngày 05 tháng 02 năm 2016), giữ vai trò trung tâm chính  
trị, hành chính, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật của tỉnh, đồng thời là trung tâm  
giao lưu kinh tế với các huyện, thị trong tỉnh và khu vực Bắc sông Tiền, là một trong  
những đô thị đặc trưng vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long. Mỹ Tho có hệ  
thống giao thông thuận lợi nằm giữa hai cầu mối trung tâm lớn ở khu vực Đồng Bằng  
Sông Cửu Long với một cụm Khu công nghiệp là Trung An và Khu công nghiệp Mỹ  
Tho đã thu hút hàng trăm công ty lớn nhỏ, các nhà máy, xí nghiệp, trung tâm thương  
mại và khu dân cư tạo cho hàng nghìn người lao động có việc làm. Do đó, mức độ  
gia tăng chất thải từ các hoạt động kinh doanh, sản xuất ngày càng cao gây ô nhiễm  
môi trường ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân.  
Công ty TNHH MTV Công Trình Đô Thị Mỹ Tho là đơn vị công ích duy nhất  
chịu trách nhiệm thu gom, vận chuyển và xử lý CTR trên địa bàn thành phố Mỹ Tho.  
Hoạt động của công ty góp phần tích cực giúp cho thành phố ‘ xanh- sạch- đẹp’ tạo  
được mỹ quan đô thị và góp phần cho môi trường sạch đẹp hơn. Tuy nhiên việc vệ  
sinh đô thị cũng còn gặp khá nhiều khó khăn do ý thức của người dân còn chưa tốt,  
tình trạng rác thải vẫn còn vứt bừa bãi xuống kênh, sông, khu đất trống gây ô nhiễm  
ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước, đất, không khí và làm ảnh hưởng đến sức  
khỏe của người dân.  
Rác thải luôn gia tăng tỉ lệ thuận với tốc độ phát triển của dân số. Vì thế, nếu  
công tác thu gom, vận chuyển và xử lý không đáp ứng được nhu cầu sẽ làm cho mức  
độ ô nghiễm ngày càng quan trọng. Trên thực tế, hiện trạng quản lý CTR còn nhiều  
bất cập, vì thế các cơ quan chức năng, các cấp lãnh đạo luôn quan tâm và khắc phục  
chúng trong thời gian tới. Trên cơ sở đó mà đề tài: “ Đánh giá hiện trạng và đề xuất  
các biện pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang  
đến năm 2030’’ được thực hiện với mong muốn tìm hiểu những vấn đề liên quan đến  
công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) hiện nay và góp phần cải thiện trên  
địa bàn thành phố.  
2.  
Mục tiêu đề tài  
2
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
‘‘Đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại  
Thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang quy hoạch đến năm 2030’’  
3.  
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
CTR có nhiều loại: CTR y tế, CTR sinh hoạt, CTR công nghiệp, CTR xây  
dựng,... nhưng do thời gian và điều kiện có hạn và còn nhiều hạn chế nên đối tượng  
tập trung nghiên cứu chủ yếu là CTR sinh hoạt bao gồm:  
CTR phát sinh từ các hộ gia đình  
CTR phát sinh từ các chợ  
CTR phát sinh từ các trung tâm thương mại  
CTR phát sinh từ các cơ quan, trường học.  
Trên cơ sở khảo sát thu thập và số liệu sẵn có về hệ thống thu gom, vận chuyển  
CTR trên địa bàn thành phố. Từ đó đánh giá hiện trạng quản lý CTRSH trên địa bàn  
thành phố (nguồn phát sinh, công tác thu gom, vận chuyển, xử lý).  
4.  
Nội dung nghiên cứu  
Tổng quan về thành phố Mỹ Tho  
Tổng quan về chất thải rắn  
Hiện trạng quản lý chất thải rắn tại Thành phố Mỹ Tho  
Đánh giá hệ thống quản lý CTRSH  
Đề xuất hệ thống quản lý CTRSH  
Phương pháp nghiên cứu  
5.  
5.1. Phương pháp luận  
Mục tiêu chính của đề tài là nhằm thu thập thông tin đầy đủ về công tác quản  
lý rác thải sinh hoạt và các quy trình thu gom, vận chuyển CTR trên địa bàn thành  
phố.  
Để thực hiện đề tài, cần thu thập các dữ liệu về hệ thống quản lý CTR, điều  
kiện tự nhiên- kinh tế- xã hội của thành phố Mỹ Tho, từ đó xây dựng hiện trạng  
QLCTR trên địa bàn thành phố. Dựa trên những ưu điểm, nhược điểm của hiện trạng,  
từ đó đề tài đã đề xuất các giải pháp quản lý CTR cho phù hợp.  
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể  
3
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
Thu thập, chọn lọc và tổng hợp tài liệu về quản lý chất thải rắn, điều kiện tự  
nhiên, kinh tế – xã hội tại thành phố Mỹ Tho, các phương pháp quản lý chất  
thải rắn, xử lý chất thải rắn.  
Thu thập tư liệu về hiện trạng môi trường đô thị (thu gom, vận chuyển, xử lý  
sơ bộ CTRSH).  
Đánh giá dựa trên hiện trạng và tiêu chuẩn do nhà nước ban hành.  
6.  
Ý nghĩa của đề tài  
6.1. Ý nghĩa khoa học  
Tìm hiểu về hệ thống quản lý CTRSH của thành phố Mỹ Tho  
Thu thâp cơ sở dữ liệu tương đối đầy đủ về hệ thống quản lý CTRSH của thành  
phố Mỹ Tho  
Tìm ra giải pháp thích hợp cho công tác quản lý và xử lý nhằm tái sử dụng có  
hiệu quả chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Mỹ Tho, trên cơ sở đề  
xuất các giải pháp quản lý phù hợp tại thành phố Mỹ Tho như đề xuất biện  
pháp phân loại rác tại nguồn và xử lý tác thải làm phân compost và các giải  
pháp tái chế, tái sử dụng khác có thể áp dụng.  
6.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Hiểu được vấn đề thu gom, vận chuyển CTR như thế nào  
Đưa ra được những nhận xét, đánh giá khách quan về hệ thống quản lý CTRSH  
tại địa phương  
7.  
Cấu trúc đề tài  
Đồ án gồm 4 chương  
Phần mở đầu  
Chương 1: Tổng quan về thành phố Mỹ Tho  
Chương 2: Tổng quan về chất thải rắn  
Chương 3: Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt  
Chương 4: Đánh giá và đề xuất hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt đến  
năm 2030  
Phần kết luận và kiến nghị  
Tài liệu tham khảo  
4
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ MỸ THO  
1.1. Điều kiện tự nhiên  
1.1.1. Vị trí địa lý  
Thành phố Mỹ Tho là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Tiền Giang, nằm chếch về  
phía Đông Nam  
Phía Đông và phía Bắc giáp huyện Chợ Gạo  
Phía nam giáp sông Tiền và tỉnh Bến Tre  
Phía Tây giáp huyện Châu Thành.  
Thành phố Mỹ Tho có sông Tiền và Quốc lộ 1 chạy qua, có Quốc lộ 50 đi về  
các huyện Gò Công và tỉnh lộ 864 chạy dọc sông Tiền lên Cai Lậy, Cái Bè. Có Quốc  
lộ 60 và cầu Rạch Miễu nối thành phố Mỹ Tho với tỉnh Bến Tre. Thành phố Mỹ Tho  
có 75 tuyến đường, trong đó có 68 tuyến đường nội ô. Từ thành phố Mỹ Tho có thể  
dễ dàng đi bằng đường thủy hay bằng đường bộ lên thành phố Hồ Chí Minh hoặc  
xuống các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ra biển, hay thủ đô Phnongpenh  
(Campuchia).  
1.1.2. Diện tích, dân số, đơn vị hành chính  
Hình 1.1: Bản đồ quy hoạch tổng thể kinh tế- xã hội thành phố Mỹ Tho đến năm  
2020 và định hướng đến năm 2030  
Diện tích tự nhiên: 81.54 km2, trong đó phần diện tích nội thị là 9,17 km2.  
5
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
Dân số có 227.008 người, có 4 nhóm tộc người chính: Kinh, Hoa, Ấn và  
Khơme. Có 4 tôn giáo chính: Công giáo, Tin lành, Phật giáo và Cao đài.  
Thành phố Mỹ Tho có 17 đơn vị hành chính cơ sở (gồm 11 phường, 6 xã). 17  
đơn vị hành chính cấp phường – xã của TP Mỹ Tho khi được điều chỉnh mở  
rộng bao gồm các phường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, Tân Long và các xã:  
Phước Thạnh, Trung An, Thới Sơn, Đạo Thạnh, Tân Mỹ Chánh, Mỹ Phong.  
1.2. Địa hình- địa chất, khí hậu- thủy văn  
1.2.1. Địa hình- địa chất  
Tỉnh Tiền Giang có địa hình bằng phẳng, với độ dốc <1% và cao trình biến  
thiên từ 0 m đến 1,6 m so với mặt nước biển, phổ biến từ 0,8m đến 1,1 m. Toàn bộ  
diện tích tỉnh nằm trong vùng hạ lưu châu thổ sông Cửu Long, bề mặt địa hình hiện  
tại và đất đai được tạo nên bởi sự lắng đọng phù sa sông Cửu Long trong quá trình  
phát triển châu thổ hiện đại trong giai đoạn biển thoái từ đại Holoxen trung, khoảng  
5.000 - 4.500 năm trở lại đây còn được gọi là phù sa mới.  
Nhìn chung, do đặc điểm bề mặt nền đất là phù sa mới, giàu bùn sét và hữu cơ  
(trừ các giồng cát) nên về mặt địa hình cao trình tương đối thấp, về địa chất công  
trình khả năng chịu lực không cao, cần phải san nền và gia cố nhiều cho các công  
trình xây dựng. Các tầng đất sâu tương đối giàu cát và có đặc tính địa chất công trình  
khá hơn, tuy nhiên phân bố các tầng rất phức tạp và có hiện tượng xen kẹp với các  
tầng đất có đặc tính địa chất công trình kém, cần khảo sát kỹ khi xây dựng các công  
trình có qui mô lớn, tải trọng cao…Toàn vùng không có hướng dốc rõ ràng, tuy nhiên  
có những khu vực địa hình thấp trũng hay gò cao hơn so với địa hình chung.  
1.2.2. Khí hậu  
Tỉnh Tiền Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm thuộc  
vùng đồng bằng Sông Cửu Long với đặc điểm: Nền nhiệt cao và ổn định quanh năm.  
Khí hậu phân hóa thành hai mùa tương phản rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng  
11 trùng với mùa gió Tây Nam, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 trùng với mùa gió  
Đông Bắc.Thành phố Mỹ Tho nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa mưa  
nắng rõ rệt.  
6
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
Các đặc trưng khí tượng tại Mỹ Tho như sau: Gió: thường xuất hiện 2 luồng  
gió chính:  
Gió mùa Tây Nam: gió mùa này mang nhiều hơi nước làm cho thời tiết mát  
mẻ, khí hậu ẩm.  
Gió mùa Đông Bắc: có khí hậu khô, độ ẩm giảm, mát lạnh. Nhiệt độ: nhiệt độ  
cao và khá ổn định, trung bình năm là 27.9oC, nhiệt độ trung bình cao nhất  
trong năm là 29.50C, nhiệt độ trung bình thấp nhất là 260C, tổng nhiệt độ trung  
bình trong năm là 9700 – 98000C  
Độ ẩm không khí: độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 79.2%, trung bình  
tháng thấp nhất là 76% (tháng 4), cao nhất là 85% (tháng 8).  
Lượng mưa: hàng năm lượng mưa đạt từ 1300 – 1600 mm, mùa mưa thường  
tập trung từ tháng 5 đến tháng 10.  
Lượng bốc hơi: lượng bốc hơi trung bình trong năm là 1225 ha, bình quân đạt  
3.3 mm/ngày, tháng 3 có lượng bốc hơi lớn nhất 136mm, tháng 10 có lượng  
bốc hơi nhỏ nhất 87mm.  
Nắng – bức xạ: trung bình năm có 2622 giờ nắng, bình quân đạt 7.2 giờ  
nắng/ngày, tổng lượng bức xạ trung bình năm là 156.8 kcal/cm2  
=> Nhìn chung, Tiền Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa chung  
của đồng bằng sông Cửu Long với đặc điểm nền nhiệt cao và ổn định quanh năm, ít  
bão, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên trong 10 năm qua, điều kiện khí  
hậu thủy văn diễn biến khá phức tạp so với quy luật, tình hình thiên tai lũ lụt, bão lốc  
xảy ra liên tiếp, tình trạng thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn khá nghiêm trọng vào  
mùa nắng tại vùng nhiễm mặn Gò Công và vùng nhiễm phèn Đồng Tháp Mười thuộc  
huyện Tân Phước, cần được quan tâm trong việc quy hoạch bố trí cây trồng vật nuôi  
và đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thích hợp để phát triển ổn định của các tiểu  
vùng kinh tế này và hạn chế phần nào ảnh hưởng xấu do các điều kiện khí hậu thủy  
văn gây ra.  
1.2.3. Chế độ thủy văn  
Về phương diện thủy văn, địa bàn tỉnh Tiền Giang chia làm ba vùng:  
7
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
Vùng Đồng Tháp Mười: Thuộc địa phận tỉnh Tiền Giang giới hạn bởi kênh  
Bắc Đông, kênh Hai Hạt ở phía Bắc, kênh Nguyễn Văn Tiếp B ở phía Tây,  
sông Tiền ở phía Nam, quốc lộ 1A ở phía Đông.  
Hàng năm vùng Đồng Tháp Mười đều bị ngập lũ, diện tích ngập lũ vào khoảng  
120.000 ha, thời gian ngập lũ khoảng 3 tháng (tháng 9 - 11), độ sâu ngập biến  
thiên từ 0,4-1,8 m.  
Về chất lượng, nước tại địa bàn thường bị nhiễm phèn trong thời kỳ từ đầu đến  
giữa mùa mưa, độ PH vào khoảng 3-4. Ngoài ra, mặn cũng xâm nhập vào từ  
sông Vàm Cỏ với độ mặn khoảng 2 - 4% trong vòng 2-3 tháng tại vùng phía  
Đông Đồng Tháp Mười.  
Vùng Đồng Tháp Mười có nhiều hạn chế, chủ yếu là ngập lũ và nước bị chua  
phèn. Tuy nhiên, việc triển khai các quy hoạch thủy lợi và kiểm soát lũ trên toàn vùng  
ĐBSCL nói chung và Đồng Tháp Mười của tỉnh nói riêng đã và đang thúc đẩy sự  
phát triển nông lâm nghiệp toàn diện cho khu vực.  
Vùng ngọt giữa Đồng Tháp Mười và Gò Công: Giới hạn giữa quốc lộ 1A và  
kênh Chợ Gạo có điều kiện thủy văn thuận lợi.  
Địa bàn chịu ảnh hưởng lũ lụt nhẹ theo con triều, chất lượng nước tốt, nhiều  
khả năng tưới tiêu, cho phép phát triển nông nghiệp đa dạng nhất.  
Vùng Gò Công: Giới hạn bởi sông Vàm Cỏ ở phía Bắc, kênh Chợ Gạo ở phía Tây,  
sông Cửa Tiểu ở phía Nam và biển Đông ở phía Đông. Đặc điểm thủy văn chung là  
bị nhiễm mặn từ 1,5 tháng đến 7 tháng tùy vào vị trí cửa lấy nước.  
Khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp vào chế độ bán nhật triều biển Đông. Mặn  
xâm nhập chính theo 2 sông cửa Tiểu và sông Vàm Cỏ mặn thường lên sớm  
và kết thúc muộn, trong năm chỉ có 4-5 tháng nước ngọt, độ mặn cao hơn sông  
Tiền từ 2-7 lần.  
1.3. Các nguồn tài nguyên  
1.3.1. Tài nguyên đất  
Theo các chương trình điều tra thổ nhưỡng, Tiền Giang có các nhóm đất chính  
như sau:  
8
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
Nhóm đất phù sa: Chiếm 55,49% diện tích tự nhiên với khoảng 139.180,73 ha  
chiếm phần lớn diện tích các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo,  
thành phố Mỹ Tho và một phần huyện Gò Công Tây thuộc khu vực có nguồn  
nước ngọt. Đây là nhóm đất thuận lợi nhất cho nông nghiệp, đã được sử dụng  
toàn bộ diện tích. Trong nhóm đất này có loại đất phù sa bãi bồi ven sông có  
thành phần cơ giới tương đối nhẹ hơn cả nên thích hợp cho trồng cây ăn trái.  
Nhóm đất mặn: Chiếm 14,6% diện tích tự nhiên với 36.621,23 ha, chiếm phần  
lớn diện tích huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây, Tân Phú Đông, thị xã Gò  
Công và một phần huyện Chợ Gạo. Về bản chất, đất đai thuận lợi như nhóm  
đất phù sa, nhưng bị nhiễm mặn từng thời kỳ hoặc thường xuyên.  
Việc trồng trọt thường chỉ giới hạn trong mùa mưa có đủ nước ngọt, ngoại trừ  
các loại cây chịu lợ như dừa, sơri, cói. Một ít diện tích được tiếp ngọt về hoặc có trữ  
nước mưa trong ao thì có thể tiếp tục trồng trọt vào mùa khô. Loại đất này khi có điều  
kiện rửa mặn sẽ trở nên rất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp với chủng loại cây  
trồng tương đối đa dạng.  
Chương trình ngọt hóa Gò Công bằng biện pháp ngăn mặn và đưa nguồn nước  
ngọt dồi dào về đã mở ra một diện tích lớn đất tăng vụ mùa khô hoặc đầu mùa khô.  
Riêng đất ven biển là thích nghi cho rừng ngập mặn và nuôi trồng thủy sản.  
Nhóm đất phèn: Chiếm 19,4% diện tích tự nhiên với 48.661,06 ha, phân bố  
chủ yếu ở khu vực trũng thấp Đồng Tháp Mười thuộc phía Bắc 3 huyện Cái  
Bè, Cai Lậy, Tân Phước. Đây là loại đất hình thành nên trầm tích đầm lầy ven  
biển tạo thành trong quá trình biển thoái, nên loại đất này giàu hữu cơ và phèn.  
Hiện nay, ngoài tràm và bàng là 2 cây cố hữu trên đất phèn nông, đã tiến hành  
trồng khóm và mía có hiệu quả ổn định trên diện tích đáng kể. Ngoài ra, một  
số diện tích khác cũng đã bước đầu được canh tác có hiệu quả với một số mô  
hình như trồng khoai mỡ và các loại rau màu, trồng lúa 2 vụ và cả trồng cây  
ăn quả trên những diện tích có đủ nguồn nước ngọt và có khả năng chống lũ.  
Đất phèn mặn chiếm diện tích nhỏ phân bố dọc bờ thấp (đất biền) bị ngập triều  
ven các lạch triều và bưng trũng.  
9
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
Nhóm đất cát giồng: Chỉ chiếm 3% diện tích tự nhiên với 7.524,91 ha, phân  
bố rải rác ở các huyện Cai Lậy, Châu Thành, Gò Công Tây và tập trung nhiều  
nhất ở huyện Gò Công Đông. Do đất cát giồng có địa hình cao, thành phần cơ  
giới nhẹ nên chủ yếu sử dụng làm thổ cư và canh tác cây ăn trái, rau màu.  
Phần diện tích đất còn lại chủ yếu là sông rạch và mặt nước chuyên dùng có  
tổng diện tích là: 18.842,25 ha, chiếm 7,51% tổng diện tích tự nhiên được phân bố  
đều khắp các huyện, thị xã và thành phố trong tỉnh.  
Nhìn chung, đất đai của tỉnh phần lớn là nhóm đất phù sa (chiếm 55%), thuận  
lợi nguồn nước ngọt, từ lâu đã được đưa vào khai thác sử dụng, hình thành vùng lúa  
năng suất cao và vườn cây ăn trái chuyên canh của tỉnh; còn lại 19,4% là nhóm đất  
phèn và 14,6% là nhóm đất phù sa nhiễm mặn…Trong thời gian qua được tập trung  
khai hoang, mở rộng diện tích, cải tạo và tăng vụ thông qua các chương trình khai  
thác phát triển vùng Đồng Tháp Mười, chương trình ngọt hóa Gò Công, đã từng bước  
mở rộng vùng trồng lúa năng suất cao, vườn cây ăn trái sang các huyện phía Đông và  
vùng chuyên canh cây công nghiệp thuộc huyện Tân Phước.  
1.3.2. Tài nguyên nước  
Nước mặt: Tiền Giang có hai sông lớn chảy qua là sông Tiền, sông Vàm Cỏ  
Tây và hệ thống kênh ngang, dọc tương đối phong phú, rất thuận lợi cho việc  
đi lại bằng phương tiện đường thủy và sử dụng nguồn nước mặt phục vụ cho  
sản xuất nông nghiệp.  
Sông Tiền chảy qua lãnh thổ tỉnh Tiền Giang dài khoảng 103 km, cao trình  
đáy sông từ -6 đến -16 m, bình quân -9m; sông có chiều rộng 600-1.800 m, là nguồn  
chủ yếu cung cấp nước ngọt cho toàn tỉnh.  
Sông Vàm Cỏ Tây chảy qua lãnh thổ tỉnh Tiền Giang có khoảng 25km, rộng  
185 m, lưu lượng dòng chảy chủ yếu từ sông Tiền chuyển qua và một phần nước tiêu  
lũ từ Đồng Tháp Mười thoát ra, là tuyến xâm nhập mặn chính trên địa bàn tỉnh Tiền  
Giang.  
Các kênh chính trong tỉnh là:  
10  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
Kênh Chợ Gạo, nằm trong tuyến kênh chính cấp Trung Ương nối thành phố  
Hồ Chí Minh - Rạch Giá - Hà Tiên.  
Kênh Nguyễn Văn Tiếp, đi từ sông Vàm Cỏ Tây (thị xã Tân An) qua tỉnh Tiền  
Giang sang Đồng tháp. Đây là tuyến kênh quan trọng xuyên Đồng Tháp Mười.  
Hệ thống kênh ngang, tạo thành hệ thống đường thủy xương cá nối các đô thị  
và điểm dân cư dọc Quốc lộ 1A với các vùng trong tỉnh, đó là các kênh: Cổ  
Cò, kênh 28, kênh 7, kênh 9, kênh 10, kênh 12, kênh Nguyễn Tấn Thành, kênh  
Năng, kênh Lộ Ngang…  
Nước ngầm: Tỉnh Tiền Giang có nguồn nước ngầm ngọt có chất lượng khá tốt  
ở khu vực phía Tây và một phần khu vực phía Đông của tỉnh, nhưng phải khai  
thác ở độ sâu khá lớn (từ 200 - 500 m). Đây là một trong những nguồn nước  
sạch quan trọng, góp phần bổ sung nguồn nước sạch cho sinh hoạt và sản xuất  
của nhân dân, đặc biệt đối với những vùng bị nhiễm mặn, phèn…  
1.3.3.Tài nguyên khoáng sản  
Theo các chương trình khảo sát, điều tra cơ bản, các loại khoáng sản được tìm  
thấy trên địa bàn tỉnh Tiền Giang có:  
Than Bùn: Tìm thấy ở xã Phú Cường (Cai Lậy), Tân Hòa Tây và Hưng Thạnh  
(Tân Phước). Than bùn nằm ở độ sâu từ 0,5-1m với trữ lượng khoảng 5 triệu  
m3 và trải rộng trên diện tích gần 500 ha, chất lượng nhìn chung không cao,  
lẫn nhiều tạp chất và hàm lượng lưu huỳnh cao. Riêng than bùn ở kênh Tây và  
Tràm Sập có hàm lượng axít humic đạt yêu cầu làm nền cho phân bón với trữ  
lượng 1,3 triệu m3, có thể sử dụng cho một nhà máy phân bón công suất 10.000  
tấn/năm.  
Sét: Sử dụng cho công nghiệp được tìm thấy trong phù sa cổ và mới. Sét làm  
gốm sành đã được phát hiện trong tỉnh dọc theo quốc lộ 1 từ Cổ Cò đến Bà  
Lâm (Cái Bè), có thể sử dụng làm gốm sành quy mô nhỏ. Sét ở Tân Lập trữ  
lượng khoảng 6 triệu m3 có thể làm gạch ngói, nhưng việc khai thác, sản xuất  
cần phải sử dụng các biện pháp cách ly sự ô nhiễm phèn và xử lý phèn từ lớp  
đất bên trên.  
11  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 116 trang yennguyen 19960 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đồ án Đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang đến năm 2030", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_an_danh_gia_hien_trang_va_de_xuat_cac_bien_phap_quan_ly_c.pdf