Khóa luận Ứng dụng máyToàn đạc điện tử và công nghệ thông tin trong thành lập mảnh bản đồ địa chính số 31 tỉ lệ 1/500 tại xã Trung Mầu, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
SÙNG A TÙNG  
Tên đề tài:  
ỨNG DỤNG MÁY TOÀN ĐẠC ĐIỆN TỬ VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG  
TIN TRONG THÀNH LẬP MẢNH BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH SỐ 31  
TỈ LỆ 1/500 TẠI XÃ TRUNG MẦU, HUYỆN GIA LÂM,  
THÀNH PHỐ HÀ NỘI  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Địa Chính Môi Trường  
: Quản lý Tài nguyên  
: 2015 – 2019  
Khóa học  
Thái Nguyên, năm 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
SÙNG A TÙNG  
Tên đề tài:  
ỨNG DỤNG MÁY TOÀN ĐẠC ĐIỆN TỬ VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG  
TIN TRONG THÀNH LẬP MẢNH BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH SỐ 31  
TỈ LỆ 1/500 TẠI XÃ TRUNG MẦU, HUYỆN GIA LÂM,  
THÀNH PHỐ HÀ NỘI  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Địa chính Môi trường  
: K47 – ĐCMT – N01  
: Quản lý Tài nguyên  
: 2015 – 2019  
Khoa  
Khóa học  
Giáo viên hướng dẫn :TS Nguyễn Đức Nhuận  
Thái Nguyên, năm 2019  
i
LỜI CẢM ƠN  
Thực tập tốt nghiệp là một trong những nội dung quang trọng trong công  
tác đào tạo, quá trình này giúp cho sinh viên củng cố kiến thức tiếp thu được  
trên giảng đường học tập để tiếp cận với thực tế nghề nghiệp,kết hợp với kiến  
thức đã học trên giảng đường để hoàn thiện các kỹ năng trong công việc, tích  
lũy kinh nghiệm làm hành trang để phục vụ cho công việc trải nghiệm thực tế  
để vận dụng cho sau này. Bên cạnh sự cố gắng của bản thân trong quá trình  
điều tra nghiên cứu thực hiện đồ án tốt nghiệp này được hoàn thành nhờ sự  
quang tâm, hướng dẫn tận tình chu đáo của cơ quan, tổ chức và chính quyền  
địa phương UBND xã Trung Mầu và tập thể cán bộ trong Công Ty Cổ Phần  
Tài Nguyên Và Môi Trường Phương Bắc. Để có được kết quả như ngày hôm  
nay, em xin gửi lời cám ơn chân thành sâu sắc tới các thầy cô khoa Quản Lý  
Tài Nguyên trường Đại Học Nông Lâm - Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ,  
trang bị những kiến thức trong suốt quá trình học tập và thực tập vừa qua.  
Đặc biệt em xin gửi lời cám ơn chân thành nhất tới TS Nguyễn Đức  
Nhuận đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập và hoàn  
thành đề tài này.  
Em xin gửi lời cám ơn tới ban giám đốc trong Công Ty Cổ Phần Tài  
Nguyên Và Môi Trường Phương Bắc và UBND xã Trung Mầu, đã giúp đỡ  
em trong quá trình thực tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tại địa phương.  
Em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, anh em bạn bè đã luôn động viên  
quan tâm trong quá trình học tập và rèn luyện.  
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên đồ án của em  
không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến  
của quý thầy cô, các bạn sinh viên để đề tài của em hoàn thiện hơn.  
Thái Nguyên, ngày.....tháng.....năm 2019  
Sinh viên thực hiện  
Sùng A Tùng  
 
iii  
DANH MỤC CÁC HÌNH  
 
iv  
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT  
Chữ viết tꢀt  
Nguyên nghĩa  
BĐĐC  
CP  
Bản đồ địa chính  
Chính Phủ  
CSDL  
HN-72  
QĐ  
Cơ sở dữ liệu  
Hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia HN-72  
Quyết định  
QL  
Quốc lộ  
TCĐC  
TNMT  
TS  
Tổng cục Địa chính  
Tài nguyên & Môi trường  
Tiến sỹ  
TT  
Thông tư  
UBND  
UTM  
VN-2000  
Ủy ban nhân dân  
Lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc  
Hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000  
 
v
MỤC LỤC  
 
vi  
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Tính cấp thiết của đề tài  
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt là cội nguồn của mọi hoạt động sống  
của con người. Trong sự nghiệp phát triển của đất nước, đất luôn chiếm giữ  
một vị trí quan trọng, đất là nguồn đầu vào của nhiều ngành kinh tế khác  
nhau, là nguồn tư liệu sản xuất của ngành nông nghiệp. Không những thế,  
đất đai còn là không gian sống của con người. Song sự phân bố đất đai lại  
rất khác nhau dẫn đến nảy sinh các mối quan hệ về đất đai cũng rất phức  
tạp. Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao quản lý đất đai một cách có hiệu quả  
để góp phần giải quyết tốt các quan hệ đất đai, thúc đẩy sự phát triển nền  
kinh tế đất nước.  
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, quá trình đô thị hóa, công  
nghiệp hóa ngày càng phát triển nhanh với quy mô lớn, từ đó đòi hỏi công tác  
quản lý nhà nước về đất đai càng phải được chú trọng hơn. Trong 15 nội dung  
quản lý nhà nước về đất đai được quy định tại Điều 22, Luật Đất đai năm  
2013 thì công tác đo đạc thành lập bản đồ địa chính là một trong những nội  
dung rất quan trọng, bởi lẽ bản đồ địa chính là tài liệu quan trọng trong bộ hồ  
sơ địa chính, là tài liệu cơ bản để thống kê đất đai, làm cơ sở để quy hoạch,  
giao đất, thu hồi đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất... Mức độ chi  
tiết của bản đồ địa chính thể hiện tới từng thửa đất thể hiện được cả về loại  
đất, chủ sử dụng... Vì vậy bản đồ địa chính có tính pháp lý cao, trợ giúp đắc  
lực cho công tác quản lý đất đai.  
Việc thành lập bản đồ địa chính là một trong những nhiệm vụ quan  
trọng trong công tác quản lý đất đai. Cùng với sự phát triển của xã hội nên  
việc áp dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ vào sản xuất là một yêu cầu  
   
2
rất cấp thiết, nhằm nâng cao năng suất lao động, giảm sức lao động của con  
người và góp phần tự động hóa trong quá trình sản xuất. Công nghệ điện tử  
tin học đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã  
hội nói chung và trong lĩnh vực ngành đất đai nói riêng.  
Xuất phát từ những nội dung trên và với mục đích tìm hiểu quy trình  
công nghệ, ứng dụng và khai thác những ưu điểm của các thiết bị hiện đại  
trong đo đạc thành lập bản đồ địa chính và các phần mềm ứng dụng trong việc  
xử lý số liệu, biên tập, biên vẽ bản đồ địa chính. Là một sinh viên ngành Địa  
Chính Môi Trường việc nắm bắt và áp dụng các tiến bộ của khoa học mới vào  
trong công việc của mình là tối cần thiết. Để làm quen với công nghệ mới và  
tạo hành trang cho mai sau ra trường khỏi bỡ ngỡ trước công việc thực tế, qua  
sự tìm tòi, phân tích, đánh giá của bản thân cùng với sự hướng dẫn trực  
tiếp và nhiệt tình của TS Nguyễn Đức Nhuận, cùng với sự giúp đỡ của  
Công Ty Cổ Phần Tài Nguyên Và Môi Tường Phương Bắc em đã thực hiện  
đề tài: “Ứng dụng máyToàn đạc điện tử và công nghệ thông tin trong  
thành lập mảnh bản đồ địa chính số 31 tỉ lệ 1/500 tại xã Trung Mầu, huyện  
Gia Lâm, thành phố Hà Nội”.  
1.2. Mục tiêu của đề tài  
- Đánh giá quy trình công nghệ và xây dựng bản đồ địa chính tỷ lệ lớn  
từ các số liệu đo vẽ ngoại nghiệp.  
- Thành lập mảnh bản đồ địa chính số 31 tỷ lệ 1/500 khu vực xã Trung  
Mầu - huyện Gia Lâm – thành phố Hà Nội từ số liệu đo vẽ ngoại nghiệp.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
-Trong học tập và nghiêm cứu khoa học.  
+ Thực tập tốt nghiệp là cơ hội tốt để hệ thống và củng cố lại những kiến  
thức đã được học trong nhà trường về lý thuyết và thực hành để áp dụng vào thực  
tiễn công việc.  
   
3
-Trong thực tiễn.  
+ Qua quá trình nghiên cứu tìm hiểu và ứng dụng máy toàn đặt điện tử  
trong công tác đo đạc và thành lập bản đồ địa chính giúp cho công tác quản lý  
Nhà nước về quản lý đất đai một cách đầy đủ hiệu quả và chính xác nhất.  
+ Để phục vụ tốt cho công tác đo vẽ chi tiết và thành lập bản đồ địa  
chính theo  
công nghệ số, hiện đại hóa hệ thống hồ sơ địa chính theo đúng  
quy định của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường.  
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở khoa học  
2.1.1. Tổng quan về bản đồ, bản đồ địa chính  
2.1.1.1. Khái niệm bản đồ  
“Bản đồ là hình ảnh của thực tế địa lý được ký hiệu hoá, phản ánh các  
yếu tố hoặc các đặc điểm một cách có chọn lọc, là kết quả từ sự nỗ lực sáng  
tạo trong lựa chọn của tác giả bản đồ, và được thiết kế để sử dụng chủ yếu  
liên quan đến mối quan hệ không gian”. (Theo Hội nghị Bản đồ thế giới lần  
thứ 10- Barxelona, 1995).  
Nội dung bản đồ thể hiện các hiện tượng địa lý tự nhiên, kinh tế - xã  
hội và mối quan hệ giữa chúng. Nội dung bản đồ được biểu thị thông qua quá  
trình tổng quát hoá và được trình bày bằng hệ thống ký hiệu.  
Theo A.M. Berliant: “Bản đồ là hình ảnh (mô hình) của bề mặt trái đất,  
các thiên thể hoặc không gian vũ trụ, được xác định về mặt toán học, thu nhỏ,  
và tổng quát hoá, phản ánh về các đối tượng được phân bố hoặc chiếu trên đó,  
trong một hệ thống ký hiệu đã được chấp nhận”.  
2.1.1.2. Bản đồ địa chính  
a. Khái niệm bản đồ địa chính  
Địa chính là thể tổng hợp của các tư liệu văn bản xác định rõ ranh giới,  
phân loại, số lượng, chất lượng của đất đai, quyền sở hữu, quyền sử dụng đất  
làm cơ sở cho việc phân bổ, đánh thuế đất, quản lý đất, bao gồm trách nhiệm  
thành lập, cập nhật và bảo quản các tài liệu địa chính.  
b. Bản đồ địa chính  
Là bản đồ chuyên ngành đất đai, trên bản đồ thể hiện chính xác vị trí,  
ranh giới, diện tích và một số thông tin địa chính của từng thửa đất, từng vùng  
     
5
đất. Bản đồ địa chính còn thể hiện các yếu tố địa lý khác liên quan đến đất  
đai. Bản đồ địa chính được thành lập theo đơn vị hành chính cơ sở xã,  
phường, thị trấn và thống nhất trong phạm vi cả nước. Bản đồ địa chính được  
xây dựng trên cơ sở kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại, nó đảm bảo  
cung cấp thông tin không gian của đất đai phục vụ công tác quản lý đất.  
Bản đồ địa chính là tài liệu cơ bản nhất của bộ hồ sơ địa chính, mang  
tính pháp lý cao phục vụ quản lý đất đai đến từng thửa đất, từng chủ sử dụng  
đất. Bản đồ địa chính khác với bản đồ chuyên ngành khác ở chỗ bản đồ địa  
chính có tỷ lệ lớn và phạm vi đo vẽ rộng khắp mọi nơi trên toàn quốc. Bản đồ  
địa chính thường xuyên được cập nhật thông tin về các thay đổi hợp pháp của  
đất đai, công tác cập nhật thông tin có thể thực hiện hàng ngày theo định kỳ.  
Hiện nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đang hướng tới việc xây dựng  
bản đồ địa chính đa chức năng, vì vậy bản đồ địa chính còn có tính chất của  
bản đồ cơ bản quốc gia.  
c. Bản đồ địa chính gốc  
Là bản đồ thể hiện hiện trạng sử dụng đất và thể hiện chọn và không  
chọn các thửa đất, các đối tượng chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất,  
các yếu tố quy hoạch đó được duyệt, các yếu tố địa lý có liên quan; lập trong  
khu vực, trong phạm vi một số đơn vị hành chính cấp xã, trong một phần hay  
cả đơn vị hành chính cấp huyện hoặc một số huyện trong phạm vi một tỉnh  
hoặc thành phố trực thuộc trung ương, được một cơ quan thực hiện và cơ  
quan quản lý đất đai cấp tỉnh xác nhận. Bản đồ địa chính gốc là cơ sở để  
thành lập bản đồ địa chính theo đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn.  
d. Bản trích đo địa chính  
Là bản đồ thể hiện trọn một thửa đất hoặc trọn một số thửa đất liền kề  
nhau, các đối tượng chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất, các yếu tố  
quy hoạch đã được duyệt, các yếu tố địa lý có liên quan trong phạm vi một  
6
đơn vị hành chính cấp xã trường hợp thửa đất có liên quan đến hai hay  
nhiều xã thì trên bản trích đo phải thể hiện đường địa giới hành chính xã để  
xác định diện tích thửa đất trên từng xã, được cơ quan thực hiện, ủy ban  
nhân dân xã và cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh xác nhận.  
e. Thửa đất  
Là phần diện tích đất được giới hạn bởi ranh giới xác định trên thực địa  
hoặc mô tả trên hồ sơ. Ranh giới thửa đất trên thực địa được xác định bằng các  
cạnh thửa đất là tâm của ranh giới tự nhiên hoặc đường nối giữa các mốc giới  
hoặc địa vật cố định ( là dấu mốc hoặc cột mốc ) tại các đỉnh liền kề của thửa đất;  
ranh giới thửa đất mô tả trên hồ sơ địa chính xác định bằng các cạnh thửa là ranh  
giới tự nhiên hoặc đường nối giữa các mốc địa giới hoặc địa vật cố định. Trên bản  
đồ địa chính tất cả các thửa đất đều được xác định vị trí ranh giới (hình thể), diện  
tích, loại đất và được đánh số thứ tự. Trên bản đồ địa chính ranh giới thửa đất phải  
thể hiện là đường bao khép kín của phần diện tích đất thuộc thửa đó.  
f. Loại đất  
Là tên gọi đặc trưng cho mục đích sử dụng đất. Trên bản đồ địa chính  
loại đất được thể hiện bằng ký hiệu tương ứng với mục đích sử dụng của đất  
được quy định theo thông tư số 08/2007/TT-BTNMT.  
g. Diện tích thửa đất  
Diện tích thửa đất được thể hiện theo đơn vị mét vuông (m²), được làm  
tròn đến một số (01) chữ số thập phân. Vd: 100.2 m²  
h. Trích đo địa chính  
Là đo vẽ lập bản đồ địa chính hoặc của một khu đất hoặc thửa đất tại  
khu vực chưa có bản đồ địa chính hoặc đã có bản đồ địa chính nhưng chưa  
đáp ứng được một số yêu cầu trong việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất,  
đền bù, giải phóng mặt bằng, đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng  
nhận quyền sử dụng đất.  
7
i. Hồ sơ địa chính  
Là hồ sơ phục vụ quản lý Nhà nước đối với việc sử dụng đất. Hồ sơ  
địa chính được lập chi tiết đến từng thửa đất của mỗi người sử dụng đất theo  
từng đơn vị hành chính cấp xã.  
2.1.1.3. Mục đích thành lập bản đồ địa chính  
Bản đồ địa chính được thành lập nhằm mục đích sau:  
+ Làm cơ sở để giao đất, thực hiện đăng ký đất, thu hồi, cấp giấy chứng  
nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử  
dụng đất ở.  
+ Xác nhận hiện trạng về địa giới các cấp hành chính xã, huyện, tỉnh.  
+ Xác nhận hiện trạng, thể hiện và chỉnh lý biến động của từng loại đất  
trong phạm vi xã, phường.  
+ Làm cơ sở để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cải tạo đất, thiết  
kế xây dựng các điểm dân cư, đường giao thông, cấp thoát nước.  
+ Làm cơ sở để thanh tra tình hình sử dụng đất và tranh chấp đất đai.  
+ Làm cơ sở để thống kê và kiểm kê đất đai.  
+ Làm cơ sở để xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai các cấp.  
2.1.1.4. Yêu cầu cơ bản đối với bản đồ địa chính  
Bản đồ địa chính được sử dụng trong quản lý đất đai là bộ bản đồ biên  
tập riêng cho từng đơn vị hành chính cơ sở, xã, phường, mỗi bộ bản đồ gồm  
có nhiều tờ bản đồ ghép lại. Để đảm bảo tính thống nhất, tránh nhầm lẫn và dễ  
dàng vận dụng trong quá trình thành lập, sử dụng bản đồ địa chính và quản lý  
đất đai, ta cần hiểu rõ bản chất một số yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính và  
các yếu tố tham chiếu.  
+ Yếu tố điểm: Điểm là một vị trí được đánh dấu mốc ở thực địa bằng  
dấu mốc đặc biệt trong thực tế đó là điểm trắc địa. Các điểm đặc trưng trên  
đường biên thửa đất, các điểm đặc trưng của địa vật, địa hình. Trong địa chính  
8
cần quản lý các dấu mốc thể hiện điểm ở thực địa và toạ độ của chúng.  
+ Yếu tố đường: Đó là các đoạn thẳng, đường thẳng, đường cong nối  
các điểm trên thực địa. Đối với đoạn thẳng cần xác định và quản lý toạ độ hai  
điểm đầu và cuối, từ toạ độ có thể tính ra chiều dài và phương vị của đoạn  
thẳng đối với đường gấp khúc cần quản lý các điểm đặc trưng của nó.  
+ Thửa đất: Đó là yếu tố đơn vị cơ bản của đất đai. Thửa đất là một  
mảnh đất tồn tại ở thực địa có diện tích xác định được giới hạn bởi một đường  
bao khép kín thuộc một chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng nhất định. Trong mỗi  
thửa đất có thể có một hoặc một số loại đất. Đường ranh giới thửa đất ở thực  
địa có thể là con đường, bờ ruộng, tường xây hay rào cây. Hoặc đánh dấu mốc  
theo quy ước của các chủ sử dụng đất, các yếu tố đặc trưng của thửa đất là các  
điểm gốc thửa đất đều được xác định vị trí, ranh giới, diện tích.  
+ Thửa đất phụ: là trên một thửa đất lớn có thể tồn tại các thửa nhỏ  
có đường ranh giới phân chia không ổn định, có các phần được sử dụng  
vào các mục đích khác nhau, trồng cây khác nhau, mức tính thuế khác  
nhau, thậm chí thường xuyên thay đổi chủ sử dụng đất loại thửa nhỏ này  
được gọi là thửa đất phụ hay đơn vị phụ tính thuế.  
+ Lô đất: là vùng đất có thể gồm một hoặc nhiều thửa đất, thông  
thường lô đất được giới hạn bởi các con đường, kênh mương, sông ngòi... Đất  
đai được chia lô theo điều kiện địa lý như có cùng độ cao, độ dốc theo điều  
kiện giao thông, thuỷ lợi, theo mục đích sử dụng hay cùng loại cây trồng.  
+ Khu đất, xứ đồng: ( là tên địa danh của 1 cánh đồng ) đó là vùng đất  
gồm nhiều thửa đất, nhiều lô đất. Khu đất và xứ đồng thường có tên gọi riêng  
được đặt từ lâu đời.  
+ Thôn bản, xóm ấp: Đó là các cụm dân cư tạo thành một cộng đồng  
người cùng sống và lao động trên một vùng đất. Các cụm dân cư thường có sự  
cố kết mạnh về các yếu tố dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp.  
9
+ Xã, phường: Là đơn vị hành chính cơ sở gồm nhiều thôn, bản hoặc  
đường phố đó là đơn vị hành chính có đầy đủ các tổ chức chính quyền lực để  
thực hiện chức năng quản lý nhà nước một cách toàn diện đối với các hoạt  
động về chính trị, kinh tế văn hoá xã hội trong phạm vi lãnh thổ của mình.  
2.2. Phân loại bản đồ địa chính  
2.2.1. Theo điều kiện khoa học và công nghệ  
Với điều kiện khoa học và công nghệ như hiện nay, bản đồ địa chính  
được thành lập ở hai dạng cơ bản là bản đồ giấy và bản đồ số địa chính.  
+ Bản đồ giấy địa chính: là loại bản đồ truyền thống, các thông tin  
được thể hiện toàn bộ trên giấy nhờ hệ thống ký hiệu và ghi chú. Bản đồ giấy  
cho ta thông tin rõ ràng, trực quan và dễ sử dụng.  
+ Bản đồ số địa chính: có nội dung thông tin tương tự như bản đồ giấy  
địa chính song các thông tin này được lưu trữ dưới dạng số trong máy tính, sử  
dụng một hệ thống ký hiệu mã hoá. Các thông tin không gian lưu trữ dưới dạng  
toạ độ (x,y), còn thông tin thuộc tính sẽ được mã hoá. Các số liệu đo đạc hoặc  
bản đồ cũ được đưa vào máy tính để xử lý, biên tập, lưu trữ và có thể in ra thành  
bản đồ giấy.  
Hai loại bản đồ trên có cùng cơ sở toán học cùng nội dung. Tuy nhiên  
bản đồ số đã sử dụng thành quả của công nghệ thông tin hiện đại nên có nhiều  
ưu điểm hơn hẳn so với bản đồ giấy theo phương pháp truyền thống thông  
thường. Về độ chính xác, bản đồ số lưu trữ trực tiếp các số đo nên các thông  
tin chỉ bị ảnh hưởng của sai số đo đạc ban đầu, trong khi đó bản đồ giấy còn  
chịu ảnh hưởng rất lớn của sai số đồ họa. Trong quá trình sử dụng, bản đồ số  
cho phép ta lưu trữ gọn nhẹ, dễ dàng tra cứu, cập nhật thông tin, đặc biệt nó  
tạo ra khả năng phân tích tổng hợp thông tin nhanh chóng, phục vụ kịp thời  
cho các cơ quan nhà nước, cơ quan kinh tế, kỹ thuật.  
   
10  
2.2.2. Theo đặc điểm quy trình công nghệ thành lập bản đồ địa chính  
Khi nghiên cứu đặc điểm quy trình công nghệ thành lập bản đồ địa  
chính và phạm vi ứng dụng của từng loại bản đồ địa chính cần phải dựa trên  
một số khái niệm về các loại bản đồ địa chính sau:  
+ Bản đồ địa chính cơ sở: là tên gọi chung cho bản đồ gốc được đo vẽ  
bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp ở thực địa, đo vẽ có sử dụng ảnh hàng không  
kết hợp với đo vẽ bổ sung ở thực địa. Trên bản đồ địa chính cơ sở thể hiện hiện  
trạng, hình thể, diện tích và các loại đất của các ô thửa có tính ổn định lâu dài và  
dễ xác định vị trí ở ngoài thực địa. Bản đồ địa chính cơ sở được đo vẽ kín ranh  
giới hành chính các cấp vẽ kín khung của tờ bản đồ. Các thửa đất ở vùng biên của  
các tờ bản đồ địa chính cơ sở có thể bị cắt bởi đường khung trong. Trong trường  
hợp bản đồ địa chính được lập bằng phương pháp đo ảnh đối với vùng đất nông  
nghiệp không thể vẽ chi tiết đến các thửa đất nhỏ của chủ sử dụng đất mà chỉ vẽ  
đến lô đất, các vùng đất khi có số hiệu thửa đất trên bản đồ địa chính cơ sở chỉ là  
số hiệu tạm thời.  
Bản đồ địa chính cơ sở là tài liệu cơ bản để biên vẽ và đo vẽ bổ sung,  
biên tập thành bản đồ địa chính theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn.  
+ Bản đồ địa chính: là bản đồ thể hiện trọn các thửa đất và các đối tượng  
chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đó được duyệt,  
các yếu tố địa lý có liên quan, lập theo đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị  
trấn, được cơ quan thực hiện, Uỷ ban nhân dân cấp xã và cơ quan quản lý đất đai  
cấp tỉnh xác nhận.  
Ranh giới, diện tích, mục đích sử dụng (loại đất) của thửa đất thể hiện  
trên bản đồ địa chính được xác định theo hiện trạng sử dụng đất. Khi đăng ký  
quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ranh giới, diện  
tích, mục đích sử dụng đất có thay đổi thì phải chỉnh sửa bản đồ địa chính  
thống nhất với số liệu đăng ký quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử  
 
11  
dụng đất.  
+ Bản đồ địa chính đo: là tên gọi chung cho bản vẽ tỷ lệ lớn hơn hoặc  
nhỏ hơn tỷ lệ bản đồ địa chính cơ sở, bản đồ địa chính, trên đó thể hiện chi  
tiết từng thửa đất trong các ô đất có tính ổn định lâu dài hoặc thể hiện chi tiết  
theo yêu cầu quản lý đất đai.  
2.3. Cơ sở toán học của bản đồ địa chính  
2.3.1. Phép chiếu và hệ tọa độ của bản đồ địa chính  
Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200, 1:500, 1:1 000, 1:2 000, 1:5 000 và 1:10 000  
được thành lập ở múi chiếu 3o trên mặt phẳng chiếu hình, trong hệ toạ độ  
Quốc gia VN- 2000 và độ cao Nhà nước hiện hành, kinh tuyến trục địa  
phương của từng tỉnh được chọn phù hợp với từng tỉnh hoặc thành phố trực  
thuộc trung ương nhằm đảm bảo làm giảm ảnh hưởng biến dạng về độ dài và  
diện tích đến các yếu tố thể hiện trên bản đồ địa chính, hệ số chiếu trên kinh  
tuyến trục m˳= 0.9999. Điểm gốc của hệ toạ độ mặt phẳng (điểm cắt giữa  
kinh tuyến trục của từng tỉnh và xích đạo) có X = 0 km, Y = 500 km.  
Các tham số chính của hệ tọa độ Quốc gia VN-2000  
+ Elipxoid quy chiếu quốc gia là ElipxoidWGS-84 toàn cầu với kích thước:  
Bán trục lớn:  
a = 6378137.0 m²  
Độ dẹt:  
f = 1/298,257223563  
= 7292115,0 x 10-11 rad/s  
Tốc độ góc quay quanh trục:  
Hằng số trọng trường trái đất:  
GM = 3986005 x 108 m3 s-2  
+ Vị trí Elipxoid quy chiếu Quốc gia: ElipxoidWGS-84 toàn cầu được  
xác định vị trí (định vị) phù hợp với lãnh thổ Việt Nam trên cơ sở sử dụng  
điểm GPS cạnh dài có độ cao thuỷ chuẩn phân bố đều trên toàn lãnh thổ.  
+ Điểm gốc hệ toạ độ Quốc gia: Điểm N00 đặt tại Viện Nghiên cứu Địa  
chính (nay là Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ) thuộc Bộ Tài nguyên và Môi  
trường, đường Hoàng Quốc Việt - Hà Nội.  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 78 trang yennguyen 25780 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Ứng dụng máyToàn đạc điện tử và công nghệ thông tin trong thành lập mảnh bản đồ địa chính số 31 tỉ lệ 1/500 tại xã Trung Mầu, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_ung_dung_maytoan_dac_dien_tu_va_cong_nghe_thong_ti.pdf