Khóa luận Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác cát sỏi mỏ Bản Luông đến môi trường xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn năm 2018

ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM  
CHU THỊ QUỲNH  
“ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC CÁT SỎI  
MỎ BẢN LUÔNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG XÃ MỸ THANH,  
HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN NĂM 2018”  
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Liên thông  
: Khoa học môi trường  
: Môi trường  
Khóa học  
: 2017-2019  
THÁI NGUYÊN - năm 2019  
ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM  
CHU THỊ QUỲNH  
“ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC CÁT SỎI  
MỎ BẢN LUÔNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG XÃ MỸ THANH,  
HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN NĂM 2018”  
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Liên thông  
: Khoa học môi trường  
: LTK49 - KHMT  
: Môi trường  
Khoa  
Khóa học  
: 2017-2019  
Giảng viên hướng dẫn : TS. Trần Hải Đăng  
THÁI NGUYÊN - năm 2019  
i
LỜI CẢM ƠN  
Quá trình thực tập rất quan trọng đối với mỗi sinh viên, thời gian thực  
tập giúp bản thân mỗi sinh viên được vận dụng những kiến thức đã được học  
vào thực tiễn, từ đó rút ra được những kiến thức nâng cao được trình độ  
chuyên môn.  
Để hoàn thành Báo cáo tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn sự  
giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô trong Ban giám hiệu nhà trường, Ban  
chủ nhiệm khoa Môi Trường.  
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cô, chú, anh, chị đang công tác tại  
Công ty TNHH Thái Bắc đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập  
tại địa phương.  
Em xin bày tỏ lòng kính trọng, cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS. Trần  
Hải Đăng – người đã hết lòng giúp đỡ, tận tình hướng dẫn em trong suốt quá  
trình thực hiện đề tài.  
Cuối cùng, với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành gửi lời cảm ơn  
đến gia đình bạn bè, những người đã giúp đỡ rất nhiều để em hoàn thành được  
chương trình học tập cũng như báo cáo tốt nghiệp.  
Do điều kiện, thời gian và trình độ hạn chế cho nên đề tài còn nhiều  
thiếu sót, kính mong thầy cô giáo và các bạn sinh viên đóng góp ý kiến xây  
dựng để đề tài của em được hoàn thiện hơn.  
Em xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày 13 tháng 6 năm 2019  
Sinh viên  
Chu Thị Quỳnh  
ii  
Mục lục  
1.2.1. Mục tiêu tổng quát ................................ Error! Bookmark not defined.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể......................................Error! Bookmark not defined.  
iii  
iv  
Danh mục bảng biểu  
v
Danh mục hình  
vi  
Danh mục các từ viết tắt  
TỪ VIẾT TẮT  
ATLĐ-BHLĐ  
BOD5  
NGHĨA ĐẦY ĐỦ  
An toàn lao động- bảo hộ lao động  
Nhu cầu oxy sinh học trong 5 ngày  
Nhu cầu oxy hóa học  
COD  
KTT  
Kinh tuyến trục  
QCVN  
Quy chuẩn Việt Nam  
SPOSH  
TCVN  
Đánh giá liệu các môi trường đại diện  
Tiêu chuẩn Việt Nam  
TNHH  
Trách nhiệm hữu hạng  
UBND  
Uỷ ban nhân dân  
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Các dòng sông cung cấp cát và sỏi để xây dựng cơ sở hạ tầng, các tòa  
nhà, nâng cao nền đất tại các khu vực ngập lụt, tạo các con đê ngăn  
lũ…Nguồn tài nguyên giá rẻ này có nhiều công dụng và nhu cầu sử dụng  
đang gia tăng nhanh chóng. Khai thác cát, sỏi lòng sông đã phát triển vào cuối  
những năm 1800 ở các nước công nghiệp để xây dựng đường và làm bê tông.  
Cát, sỏi là vật liệu xây dựng thông thường không thể thiếu đối với  
ngành xây dựng. Và đây cũng là mặt hàng đang được săn lùng, khai thác để  
mua bán – trao đổi trên thị trường để thu lợi nhuận. Ở Việt Nam, nhu cầu sử  
dụng vật liệu cát, sỏi đang ngày một tăng cao nên tình trạng khai thác cát, sỏi  
và tập kết tại các bến bãi không phép đang là vấn đề nhức nhối trong dư luận  
suốt thời gian qua. Những năm gần đây, tình trạng cát, sỏi bị khai thác trái  
phép tràn lan diễn ra ở nhiều địa phương trên cả nước gây ô nhiễm môi  
trường, sạt lở nghiêm trọng bờ sông, tác động xấu tình hình an ninh trật tự, đe  
dọa cuộc sống của người dân địa phương, gây bức xúc trong dư luận. Hoạt  
động bơm hút rất nhanh, diễn ra ở địa bàn giáp ranh, có mạng lưới chân rết  
rộng để cảnh giới nên việc bắt giữ, xử lý còn khó khăn. Việc khai thác cát, sỏi  
lòng sông khác với khai thác các loại tài nguyên khác vì đầu tư không lớn;  
phương tiện khai thác có thể nhỏ lẻ, hoặc có quy mô lớn nhưng di chuyển linh  
hoạt có thể khai thác được cả ngày lẫn đêm; cát, sỏi hút lên là có thể bán được  
ngay, thậm chí bán ngay trên sông mà không cần tới điểm tập kết nên lợi  
nhuận cao. Do đó, các lực lượng chức năng rất khó khăn trong việc truy quét,  
xử lý vì thiếu nhân lực, phương tiện, kinh phí. Nhiều vụ việc khi bị cơ quan  
chức năng phát hiện, truy quét, các đối tượng sẵn sàng đánh chìm thuyền và  
bỏ chạy. Tại một số địa phương còn chưa xử lý nghiêm đối với cán bộ, công  
     
2
chức, nhất là lãnh đạo chính quyền cấp cơ sở có hành vi bao che, dung túng  
để hoạt động khai thác trái phép diễn ra mà không xử lý, hoặc để kéo dài.  
Đồng thời, cho xây dựng các bãi tập kết cát, sỏi trái phép mà không xử lý...  
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước  
nói chung và tỉnh Bắc Kạn nói riêng nhu cầu về vật liệu xây dựng như đất, đá,  
cát, sỏi..là rất lớn. Hiện nay nguồn vật liệu xây dựng cát, sỏi tại huyện Bạch  
Thông ngày một trở nên cấp thiết do nhu cầu xây dựng ngày càng nhiều. Do  
đó việc thăm dò, khai thác cát, sỏi là cần thiết để có thể đảm bảo cung cấp  
nguồn vật liệu thường xuyên cho công tác tu bổ, nâng cấp các tuyến đường  
giao thông, xây dựng hạ tầng, đê, kè....hàng năm trên địa bàn huyện và khu  
vực lân cận.  
Tuy nhiên trong quá trình khai thác có nhiều mỏ khai thác trái phép với  
quy mô nhỏ lẻ, hiện tượng phổ biến liên quan đến khai thác cát và sỏi là sự  
khoét sâu lòng sông, gây ảnh hưởng tới hệ sinh thái trên cạn và dưới nước,  
gây ô nhiễm môi trường không khí xung quanh khu khai thác.  
Xuất phát từ những vấn đề trên được sự đồng ý của ban giám hiệu,  
BCN Khoa Môi trường trường Đại học Nông Lâm, dưới sự hướng dẫn của  
thầy giáo: TS. Trần Hải Đăng, em tiến hành đánh giá và nghiên cứu đề tài:  
“Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác cát sỏi mỏ Bản Luông đến  
môi trường xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn”.  
3
1.2. Mục tiêu của đề tài  
- Đánh giá sự ảnh hưởng đến môi trường từ hoạt động khai thác cát, sỏi  
tại mỏ Bản Luông từ đó đưa ra các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu các tác  
động xấu tới môi trường trên địa bàn xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh  
Bắc Kạn.  
- Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội của xã Mỹ Thanh, huyện  
Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn  
+ Điều kiện tự nhiên  
+ Điều kiện kinh tế, xã hội  
- Tổng quan hoạt động khai thác cát sỏi tại mỏ Bản Luông, xã Mỹ  
Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn  
- Đánh giá ảnh hưởng của việc khai thác cát sỏi tới môi trường xã Mỹ  
Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn  
- Đánh giá chung và đề xuất các biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu  
các tác động do hoạt động khai thác cát sỏi tới môi trường xã Mỹ Thanh  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học  
- Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo và là cơ sở khoa học mang tính  
tham khảo cho các nghiên cứu liên quan.  
- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu để  
làm quen với thực tế.  
- Nâng cao kiến thức và tích lũy được kinh nghiệm thực tế phục vụ cho  
công tác sau này.  
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn  
- Đưa ra các giải pháp cũng như những kiến nghị phù hợp với điều kiện  
thực tế của địa phương nhằm cải thiện hiện trạng môi trường xã Mỹ Thanh,  
huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.  
       
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở khoa học  
2.1.1. Một số khái niệm chung  
2.1.1.1. Khái niệm môi trường và tầm quan trọng của môi trường  
* Khái niệm môi trường  
Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác  
động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. [9]  
* Tầm quan trọng của môi trường  
- Thứ nhất phải nhắc đến môi trường là nơi chứa đựng và cung cấp tài  
nguyên cho đời sống sản xuất của con người chúng ta  
Khi xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng  
tăng số lượng tài nguyên được khai thác tăng lên càng cao để đáp độ phức tạp  
phát triển của xã hội.Chức năng này của môi trường là chức năng sản xuất tự  
nhiên:  
+ Rừng núi là nơi cung cấp nước với đa dạng sinh học và độ phì nhiêu  
cho đất đai, nguồn gỗ và củi phục vụ cho đời sống, dược liệu...vv cải thiện  
điều kiện sinh thái.  
+ Các ao hồ sông ngòi cung cấp nước dinh dưỡng là nơi tồn tại phát  
triển cho thủy sản.  
+Các động thực vật cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm thiết yếu  
cho con người.  
+ Nhiệt độ, không khí, năng lượng mặt trời nước gió có chức năng duy  
trì trao đổi chất.  
+ Các quặng dầu mỏ cung cấp nguyên liệu cho hoạt động sản xuất của  
con người.  
- Môi trường một không gian sống lý tưởng cho sinh vật và con người  
     
5
+ Cuộc sống hàng ngày của con người cần một không gian nhất định để  
hoạt động như nghỉ ngơi làm việc...vv. Như vậy môi trường đòi hỏi phải đủ  
tiêu chuẩn về các mặt sinh lý hóa...vv  
+ Không gian sống của con người thay đổi liên tục theo sự phá triển  
của công nghệ khoa học.Như ngày nay việc xây dựng hệ thống cống rãnh để  
đáp ứng được sự lưu thông của nước thải sản xuất của con người để tránh  
phải thông tắc cống như trước kia.  
- Chứa đựng chất thải đó là chức năng sống còn của môi trường  
+ Trong quá trình phá triển con người luôn luôn đào thải các chất ra  
ngoài môi trường và được phân hủy dưới tác động của vi sinh vật.Trong  
những thời kì còn chưa phát triển quá trình phân hủy chất thải đa phần là để  
tự nhiên, nhưng giớ đây với sự gia tăng dân số chóng mặt và vựa phá triển của  
khoa học kĩ thuật và đô thị hóa thì lượng rác thải không ngừng được thải ra  
làm cho lượng chất thải quá tải gây ô nhiễm nghiêm trọng.  
+ Nhiều nơi rác thải được thải ra đặc biệt là rác thải sản xuất và sinh  
hoạt nhiều nơi ô nhiễm nghiêm trọng do rác thải như gây ô nhiễm nguồn  
nước, tắc cống ngầm...vv.  
- Môi trường là nơi lưu trữ cung cấp thông tin cho con người  
+ Môi trường là nơi ghi chếp lưu giữ lịch sử tiến hóa phá triển của con  
người trên trái đất.  
+ Cung cấp các tín hiệu báo hiệu hiểm họa sớm cho con người và sinh  
vật sống trước những thảm họa từ thiên nhiên.  
+ Là nơi gìn giữ các giá trị thẩm mỹ, tôn giáo, văn hóa của con  
người...vvv  
+ Môi trường còn bảo vệ con người và sinh vật trước những tác động từ  
bên ngoài.  
6
Tóm lại môi trường là nơi mà chúng ta cần phải luôn luôn bảo vệ giữ  
gìn vì môi trường là nguồn sống thiết thực và mang lại cho con người sự phát  
triển phồn thịnh nhất. [3]  
2.1.1.2. Khái niệm về ô nhiễm môi trường và nguồn gốc  
* Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường  
không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường  
gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. [9]  
* Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học  
và thành phần sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép. [6]  
* Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi  
quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc  
gây ra sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do bụi  
* Ô nhiễm đất là sự làm biến đổi thành phần, tính chất của đất gây ra  
bởi nhiều yếu tố đến mức ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe  
con người, làm suy thoái chất lượng môi trường, nồng độ các chất tăng lên  
vượt quá mức an toàn, vượt lên khả năng tự làm sạch của đất. [5]  
* Nguồn gốc ô nhiễm môi trường  
- Nguồn gốc tự nhiên  
+ Ô nhiễm không khí: do hoạt động của núi lửa, bão cát, song thần,  
động đất, quá trình phân hủy xác chết của các loài sinh vật.  
+ Ô nhiễm môi trường nước: nước mưa rửa trôi đất và cuốn theo rác  
thải, bùn đất xuống các con sông, sự phun trào núi lửa làm bụi khói bốc lên  
cao theo nước mưa rơi xuống đất, do triều cường nước biển dâng cao vào sâu  
gây ô nhiễm các dòng sông, mưa axit.  
+ Ô nhiễm môi trường đất: đất bị nhiễm phèn chủ yếu nhiễm Fe2+, Al3+,  
2-  
SO4 ,…pH môi trường giảm gây ngộ độc cho các loài sinh vật trong môi  
trường đó.  
7
- Nguồn gốc nhân tạo  
+ Ô nhiêm môi trường không khí: Khí thải phát ra từ các nhà máy, khu  
công nghiệp, từ các phương tiện giao thông (xe cơ giới, tàu biển và máy bay).  
Các quá trình gây ô nhiễm là quá trình đốt các nhiên liệu hóa thạch: than, dầu,  
khí đốt tạo ra: CO2, CO, SO2, NOx, các chất hữu cơ chưa cháy hết: muội than,  
bụi, quá trình thất thoát, rò rỉ trên dây chuyền công nghệ, các quá trình vận  
chuyển các hóa chất bay hơi, bụi. Giao thông vận tải là nguồn gây ô nhiễm  
lớn đối với không khí đặc biệt ở khu đô thị và khu đông dân cư. Các quá trình  
tạo ra các khí gây ô nhiễm là quá trình đốt nhiên liệu động cơ: CO, CO2, SO2,  
NOx, Pb, CH4 Các bụi đất đá cuốn theo trong quá trình di chuyển. Nếu xét  
trên từng phương tiện thì nồng độ ô nhiễm tương đối nhỏ nhưng nếu mật độ  
giao thông lớn và quy hoạch địa hình, đường sá không tốt thì sẽ gây ô nhiễm  
nặng cho hai bên đường. Sinh hoạt Là nguồn gây ô nhiễm tương đối nhỏ, chủ  
yếu là các hoạt động đun nấu sử dụng nhiên liệu nhưng đặc biệt gây ô nhiễm  
cục bộ trong một hộ gia đình hoặc vài hộ xung quanh. Tác nhân gây ô nhiễm  
chủ yếu: CO, bụi, khí thải từ máy móc gia dụng, xe cộ,…  
+ Ô nhiễm môi trường nước: Từ sinh hoạt nước thải sinh hoạt: là nước  
thải phát sinh từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, cơ quan trường học,  
chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con người. Thành  
phần cơ bản của nước thải sinh hoạt là các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh  
học (cacbonhydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dưỡng (photpho, nitơ), chất  
rắn và vi trùng. Tùy theo mức sống và lối sống mà lượng nước thải cũng như  
tải lượng các chất có trong nước thải của mỗi người trong một ngày là khác  
nhau. Nhìn chung mức sống càng cao thì lượng nước thải và tải lượng thải  
càng cao. Từ các chất thải công nghiệp nước thải công nghiệp: là nước thải từ  
các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải.  
Khác với nước thải sinh hoạt hay nước thải đô thị, nước thải công nghiệp  
8
không có thành phần cơ bản giống nhau, mà phụ thuộc vào ngành sản xuất  
công nghiệp cụ thể. Ví dụ: nước thải của các xí nghiệp chế biến thực phẩm  
thường chứa lượng lớn các chất hữu cơ.  
Ngoài các nguồn gây ô nhiễm chính như trên thì còn có các nguồn gây  
ô nhiễm nước khác như từ y tế hay từ các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư  
nghiệp của con người…  
+ Ô nhiễm môi trường đất: Ô nhiễm do các chất thải công nghiệp các  
hoạt động công nghiệp xả vào đất một lượng lớn các phế thải của chúng. Các  
lượng phế thải đó, nguy hiểm nhất là các chất thải nguy hại, được thông qua  
khí thải, nước thải và rác thải hoặc thải trực tiếp xuống đất. Chúng làm ô  
nhiễm môi trường đất, phá huỷ sự cân bằng của hệ sinh thái đất. Quá trình  
khai khoáng gày ô nhiễm và suy thoái môi trường đất ở mức nghiêm trọng  
nhất. Do khai thác, một lượng lớn phế thải, quặng… từ lòng đất được đưa lên  
trên bề mặt. Mặt khác thảm thực vật trong khu vực khai khoáng bị huý diệt,  
đất có thể bị xói mòn. Tiếp theo là một lượng lớn phế thải, xí quặng theo khói  
bụi bay vào không khí rồi lại lắng đọng xuống đất và làm nhiễm bẩn đất trong  
một phạm vi lớn. Các chất thải này thường xuyên chứa những sản độc hại ở  
dạng dung dịch và dạng rắn. Khoảng 50% chất thải công nghiệp là dạng rắn  
(than, bụi, chất hữu cơ xí quặng…) và trong đó 15% có khả năng gây độc  
nguy hiểm. Độ pH của đất giảm do mưa axít và chất thải công nghiệp. Tương  
ứng sự giảm đi 50% độ no bazơ nghĩa là 1/2 cation bazơ đã được thay thê  
bằng H+ và Al3+ (theo TAMM 1988, ANDERSON 1988). Điều đáng lo ngại  
là các phế thải công nghiệp thường làm ô nhiễm đất bởi các hoá chất và kim  
loại nặng. Phênol là vật thải của công nghiệp dệt, luyện kim đen, luyện than  
cốc – khi thấm vào đất, vào nước thì làm cho đất, nước có mùi đặc biệt, nguy  
hiểm là khi phênol kết hợp với clo ở những đất bị nhiễm mặn sẽ tạo thành  
clorôphênol rất độc, có mùi buồn nôn, gây ung thư. Hàm lượng phênol từ 25-  
9
30mg// nước đất gây độc cho cây và chết động vật đất. Các nguyên tố kim  
loại nặng (Cu, Zn, Pb, Hg, Cr, Cd,…) thường chứa trong phế thải của ngành  
luyện kim mầu, sản xuất ôtô… Nước thải chứa kim loại nặng cuối cùng làm ô  
nhiễm đất. Các loại phế thải rắn công nghiệp được tạo nên từ hầu hết các khâu  
công nghệ sản xuất và từ trong các quá trình sử dụng sản phẩm. Các loại phế  
thải này dược tập trung tại các cơ sở sản xuất hoặc vận chuyển khỏi khu vực,  
rồi bằng cách này hay cách khác và cuối cùng cũng trở về với môi trường đất.  
Các chất thải vô cơ từ cơ sở công nghiệp như mạ điện, thủy tinh, công nghiệp  
giấy, cặn xỉ,... Các phế thải dễ cháy từ các nhà máy lọc dầu, sửa chữa ô tô - xe  
máy, sản xuất máy lạnh,...Các phế tải độc hại như phế thải chứa đồng vị  
phóng xạ, các phế thải hóa học,...Đặc điểm của phế thải công nghiệp gây ô  
nhiễm môi trường đất là đa dạng về thành phần và kích thước, không tập  
trung và đa nguồn gốc, vì vậy việc lựa chọn phương pháp xử lý chúng cũng  
rất phức tạp.  
Ô nhiễm do các hoạt động nông nghiệp Áp lực tăng dân số đòi hỏi nhu  
cầu tăng lương thực, thực phẩm ngày càng tăng đòi hỏi phải tăng cường các  
hoạt động sản xuất, hay kích thích thu hoạch các sản phẩm nông nghiệp. Các  
biện pháp được người nông dân sử dụng đó là tăng cường sử dụng các hóa  
chất, phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, các loại thuốc kích thích  
với liều lượng lớn, làm cho đất tại các khu vực này bị ô nhiễm trầm trọng.  
Ô nhiễm do hoạt động sinh hoạt của con người. Hàng ngày, từ sinh  
hoạt, con người ta thải vào môi trường đất một lượng đáng kể chất thải rắn và  
chất thải lỏng, về chất thải lỏng: trung bình người dân đô thị ở các thành phố  
lớn của Việt Nam mỗi ngày sử dụng một lượng nước cấp khoảng 100-150 lít,  
và cũng thải ra môi trường một lượng nước thải như vậy, trong đấy có chứa  
bao nhiêu là chất độc hại. Những chất độc hại đấy đọng lại nhiều nhất trong  
môi trường nước và đất. về chất thải rắn: trung bình mỗi người mỗi ngày thái  
10  
ra một lượng chất thải rắn từ 0,4 đến 1,8 kg/người.ngđêm, khối lượng này tuỳ  
thuộc vào đặc điểm của từng đô thị, từng lứa tuổi… Lượng phân này xả vào  
môi trường theo hệ thống thoát nước.  
Trong đó có chứa nhiều chất ô nhiễm, ví dụ hàm lượng chất lơ lửng là  
65-100g/người.ng đêm… Trong rác và phế thái rắn sinh hoạt có phế thải thực  
phẩm, lá cây, vật liệu xây dựng, các loại bao bì, phân người và súc vật.v.v…  
Trong các loại phế thải sinh hoạt này hàm lượng chất hữu cơ lớn, độ ẩm cao.  
Nếu không xử lý tốt thì chúng vẫn được tồn lưu trong môi trường nước và đất,  
và đó là môi trường cho các loài vi khuẩn, trong đó có nhiều loại vi khuẩn gày  
bệnh phát triển.  
Ô nhiễm đất là hậu quả của ô nhiễm nước nông dân lấy nước thải tưới  
cho đồng ruộng. Nếu không điều tra chất lượng nước, có thể làm cho đất bị ô  
nhiễm ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây. Tưới nước có độ mặn cao làm  
cho đất bị mặn hoá. [5]  
2.1.1.3. Khái niệm khoáng sản  
- Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở  
thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả  
khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ.  
- Khoáng sản là thành tạo khoáng vật của lớp vỏ trái đất mà thành phần  
hóa học và các tính chất vật lý của chúng cho phép sử dụng chúng có hiệu quả  
và lợi ích trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất của nền kinh tế quốc dân. [6]  
- Khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm  
xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có  
liên quan. [10]  
2.1.1.4. Các khái niệm khác  
11  
- Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm  
đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất  
khác.  
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn  
chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô  
nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài  
nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành.  
- Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về  
chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có  
trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có  
thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi  
trường.  
- Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất  
lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong  
chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các  
tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường.  
- Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về thành phần  
môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin đánh  
giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với  
môi trường.  
- Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại  
mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương  
lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến  
bộ xã hội và bảo vệ môi trường.  
- Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về  
chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có  
trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có  
12  
thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi  
trường.  
- Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất  
lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong  
chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các  
tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường.  
- Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của  
thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.  
- Sự cố môi trường là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động của con  
người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi  
trường nghiêm trọng.  
- Chất gây ô nhiễm là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học  
khi xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm cho môi trường  
bị ô nhiễm.  
- Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,  
sinh hoạt hoặc hoạt động khác.  
- Sức chịu tải của môi trường là giới hạn chịu đựng của môi trường đối  
với các nhân tố tác động để môi trường có thể tự phục hồi.  
- Kiểm soát ô nhiễm là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và  
xử lý ô nhiễm.  
- Khí nhà kính là các khí trong khí quyển gây ra sự nóng lên toàn cầu  
và biến đổi khí hậu. [9]  
2.1.2. Một số bệnh liên quan đến môi trường  
* Những bệnh thường mắc phải do nguồn nước trong 3 trường hợp trực  
tiếp và gián tiếp sau đây:  
+ Tiếp xúc trực tiếp với môi trường: Khi tắm rửa, do các hoá chất, qua  
đường hô hấp và vi sinh vật trong nước.  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 76 trang yennguyen 13000 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác cát sỏi mỏ Bản Luông đến môi trường xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_anh_huong_cua_hoat_dong_khai_thac_cat_soi.pdf