Khóa luận Nghiên cứu xây dựng mô hình lưới thu sương (hơi) thành nước từ các sợi tự nhiên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
NGUYỄN THỊ ÁNH  
Tên đề tài:  
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH LƯỚI THU SƯƠNG (HƠI)  
THÀNH NƯỚC TỪ CÁC SỢI TỰ NHIÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo:  
Chuyên ngành:  
Khoa:  
Chính quy  
Khoa học môi trường  
Môi trường  
Khóa học:  
2014 - 2018  
THÁI NGUYÊN - 2018  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
NGUYỄN THỊ ÁNH  
Tên đề tài:  
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH LƯỚI THU SƯƠNG (HƠI)  
THÀNH NƯỚC TỪ CÁC SỢI TỰ NHIÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo:  
Chuyên ngành:  
Khoa:  
Chính quy  
Khoa học môi trường  
Môi trường  
Lớp:  
K46-KHMT (NO3)  
2014 - 2018  
Khóa học:  
Giảng viên hướng dẫn:  
Ths. Trần Hải Đăng  
THÁI NGUYÊN - 2018  
i
LỜI CẢM ƠN  
Báo cáo thực tập vừa là cơ hội để sinh viên trình bày về những vấn đề  
mình quan tâm trong quá trình thực tập, đồng thời cũng là một tài liệu quan  
trọng giúp các giảng viên kiểm tra đánh giá quá trình học tập và kết quả thực  
tập của mỗi sinh viên.  
Để hoàn thành báo cáo thực tập này trong thời gian thực tập tại phòng  
thí nghiệm khoa môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên em  
xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:  
- Các thầy cô giáo giảng dạy của Khoa Môi trường -Trường Đại Học  
Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức chuyên  
nghành về môi trường và các vấn đề cấp bách về môi trường hiện nay.  
- Giảng viên, TS. Trần Hải Đăng giáo viên trực tiếp hướng dẫn em  
trong đợt thực tập này đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong quá trình thực tập,  
xây dựng báo cáo.  
- Ngoài ra em cũng xin gửi lời cảm ơn tới sự hướng dẫn và giám sát  
của kỹ thuật viên phòng thí nghiệm khoa Môi trường Th.S Bàn Thị Mỳ đã tạo  
điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập.  
Em xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày.... tháng.... năm 2018  
Sinh viên thực tập  
Nguyễn Thị Ánh  
 
iv  
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT  
Viết tắt  
Tiếng việt  
ĐNA  
Đông Nam Á  
NGO  
Tổ chức phi Chính phủ  
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia  
Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc  
Tổ chức y tế Thế giới  
Việt Nam  
QCVN  
UNICEF  
WHO  
VN  
 
v
MỤC LỤC  
 
vi  
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Tính cấp thiết của đề tài  
Nước là nguồn tài nguyên thiết yếu cho cuộc sống của con người, là sự  
phát triển bền vững của mọi quốc gia, là ưu tiên hàng đầu để phát triển bền  
vững. Nước là yếu tố cơ bản không thể thiếu trong việc duy trì sự sống và mọi  
hoạt động của con người trên trái đất. Nó đảm bảo sự tồn tại cho tất cả các  
loài sinh vật trên trái đất kể cả con người, nước phục vụ cho phát triển nông -  
lâm - ngư nghiệp và rất nhiều ngành kinh tế khác, do đó tài nguyên nước nói  
chung và tài nguyên nước mặt nói riêng là một trong những yếu tố quyết định  
sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia. Vì vậy,  
việc đáp ứng nhu cầu về nước đảm bảo cả về chất lượng và số lượng là một  
điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững [9].  
Tuy nhiên, nhu cầu phát triển kinh tế nhanh với mục tiêu lợi nhuận cao,  
con người đã cố tình bỏ qua các tác động đến môi trường một cách trực tiếp  
hoặc gián tiếp; cùng với sự gia tăng dân số gây nguy cơ thiếu nước, đặc biệt  
là nước ngọt và nước sạch là một hiểm họa lớn đối với sự tồn vong của  
con người cũng như toàn bộ sự sống trên trái đất.  
Hiện nay trên thế giới, nước sạch đang là nguồn tài nguyên cực kì quý  
giá và rất khan hiếm ở một số vùng đất. Theo báo cáo của WHO, khoảng 2,4  
tỉ người trên thế giới không có nước sạch để uống hàng ngày và 1,8 tỉ người  
phải uống những nguồn nước ô nhiễm, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính  
mạng. Hàng năm, 4.000 trẻ em tử vong vì nước bẩn và vệ sinh kém [Quỹ Nhi  
đồng Liên Hợp Quốc UNICEF công bố]. Giám đốc Điều hành UNICEF, bà  
Ann M. Veneman cho biết: “Trên thế giới, cứ 15 giây lại có một trẻ em tử vong  
bởi các bệnh do nước không sạch gây ra và nước không sạch là thủ phạm của  
     
2
hầu hết các bệnh và nạn suy dinh dưỡng. Chỉ tính riêng ở Châu Phi, do biến  
đổi khí hậu, số người chịu cảnh thiếu nước nhiều hơn vào năm 2020 là từ 75  
đến 250 triệu người. Khan hiếm nước ở một số vùng khô hạn và bán khô hạn  
sẽ tác động lớn tới sự di cư; do hiếm nước sẽ có từ 24 triệu đến 700 triệu  
người dân mất chỗ ở.  
Tại các khu vực miền núi ở Việt Nam cũng đang đối diện với tình trạng  
khan hiếm nguồn nước sạch trầm trọng. Trong bối cảnh nguồn nước mặt đang  
dần trở nên cạn kiện còn nguồn nước ngầm thì không phải nơi nào cũng có.  
Đặc biệt tại các khu vực miền núi phía Bắc thì việc tìm được nguồn nước  
ngầm là rất khó khăn. Ngoài ra thì chất lượng của các nguồn nước cũng  
không đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Cho đến thời điểm này  
theo thông tin của Ban Chỉ đạo quốc gia về chương trình nước sạch và vệ sinh  
môi trường thì 60% người dân vùng nông thôn, miền núi không có nước sạch  
để sử dụng. Theo ước tính của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) ở  
Việt Nam có khoảng 17 triệu (52%) trẻ em chưa được sử dụng nước sạch. Do  
đó, cần phải nhanh chóng có các biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý  
nguồn tài nguyên nước [9].  
Tại các vùng núi cao luôn có một lượng sương dày đặc quanh năm. Ở  
nước ra có rất nhiều loại sợi tự nhiên có khả năng hút ẩm, giữ nước tốt như  
sợi gai, sợi đay, sợi dừa,... Các loại sợi này là nguồn nguyên liệu rẻ tiền, dễ  
kiếm có thể phục vụ cho việc thu sương rất tốt. Từ đó em đưa ra ý tưởng làm đề tài  
“Nghiên cứu xây dựng mô hình lưới thu sương (hơi) thành nước từ các sợi tự  
nhiên” nhằm cung cấp nước sạch cho các tỉnh vùng núi của Việt Nam.  
1.2. Mục tiêu của đề tài  
1.2.1. Mục tiêu chung  
Đánh giá khả năng thu sương (hơi) của một số sợi có nguồn gốc tự nhiên  
để tạo nước.  
   
3
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Đánh giá khả năng thu sương (hơi) của các sợi tự nhiên: sợi đay, sợi  
gai, sợi dừa.  
- Tìm ra điều kiện thu sương (hơi) tốt nhất: kiểu lưới, nhiệt độ.  
- Đánh giá chất lượng nước sau khi thu được.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
- Ý nghĩa thực tiễn  
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Giúp bản thân em có cơ  
hội tiếp cận với cách thức thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học, giúp em  
vận dụng kiến thức đã học vào thực tế và rèn luyện, tiếp thu và học hỏi những  
kinh nghiệm từ thực tế. Trên cơ sở những kiến thức nắm được sẽ là hành  
trang phục vụ cho công việc của sinh viên sau khi ra trường.  
- Ý nghĩa khoa học  
Kết quả nghiên cứu của đề tài là bước đầu đánh giá được khả năng thu  
sương tạo nước sạch từ các sợi tự nhiên. Đưa ra biện pháp mới trong việc cung  
cấp nguồn nước sạch cho cộng đồng.  
   
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lí của đề tài  
2.1.1. Cơ sở khoa học  
- Khái niệm nước:  
Nước là một hợp chất hóa học của oxy và hidro, có công thức hóa học  
là H2O. Với các tính chất lí hóa đặc biệt (ví dụ như tính lưỡng cực, liên kết  
hydro và tính bất thường của khối lượng riêng) nước là một chất rất quan  
trọng trong nhiều ngành khoa học và trong đời sống. 70% diện tích của Trái  
Đất được nước che phủ nhưng chỉ 0,3% tổng lượng nước trên Trái Đất nằm  
trong các nguồn có thể khai thác dùng làm nước uống.  
Bên cạnh nước "thông thường" còn có nước nặng và nước siêu nặng. Ở  
các loại nước này, các nguyên tử hidro bình thường được thay thế bởi các  
đồng vị doteri và triti. Nước nặng có tính chất vật lý (điểm nóng chảy cao  
hơn, nhiệt độ sôi cao hơn, khối lượng riêng cao hơn) và hóa học khác với  
nước thường.  
- Khái niệm nước sạch:  
Nước sạch là nước không màu, không mùi, không vị, có thể chứa các  
yếu tố vật lý hóa học và vi sinh trong mức độ cho phép không gây ảnh hưởng  
tới sức khỏe con người. Đáp ứng các chỉ tiêu theo quy định của Quy chuẩn kỹ  
thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt - QCVN 02:2009/BYT do Bộ Y  
tế ban hành ngày 17/6/2009.  
Cấu tạo và tính chất của phân tử nước:  
*Cấu tạo  
Phân tử nước bao gồm hai nguyên tử hidro và một nguyên tử oxy. Về  
mặt hình học thì phân tử nước có góc liên kết là 104,45°. Do các cặp điện  
       
5
tử tự do chiếm nhiều chỗ nên góc này sai lệch đi so với góc lý tưởng của hình  
tứ diện. Chiều dài của liên kết O-H là 96,84 picomet.  
Tính lưỡng cực: Oxy có độ âm điện cao hơn hidro. Việc cấu tạo thành  
hình ba góc và việc tích điện từng phần khác nhau của các nguyên tử đã dẫn  
đến cực tính dương ở các nguyên tử hidro và cực tính âm ở nguyên tử oxy,  
gây ra sự lưỡng cực. Dựa trên hai cặp điện tử đơn độc của nguyên tử oxy, lý  
thuyết VSEPR đã giải thích sự sắp xếp thành góc của hai nguyên tử hidro,  
việc tạo thành moment lưỡng cực và vì vậy mà nước có các tính chất đặc biệt.  
Vì phân tử nước có tích điện từng phần khác nhau nên một số sóng điện  
từ nhất định như sóng cực ngắn có khả năng làm cho các phân tử nước dao  
động, dẫn đến việc nước được đun nóng. Hiện tượng này được áp dụng để chế  
tạo lò vi sóng.  
Liên kết hidro: Các phân tử nước tương tác lẫn nhau thông qua liên kết  
hidro và nhờ vậy có lực hút phân tử lớn. Đây không phải là một liên kết bền  
vững. Liên kết của các phân tử nước thông qua liên kết hidro chỉ tồn tại trong  
một phần nhỏ của một giây, sau đó các phân tử nước tách ra khỏi liên kết này  
và liên kết với các phân tử nước khác.Đường kính nhỏ của nguyên tử hidro  
đóng vai trò quan trọng cho việc tạo thành các liên kết hidro, bởi vì chỉ có  
như vậy nguyên tử hidro mới có thể đến gần nguyên tử oxy một chừng mực  
đầy đủ. Các chất tương đương của nước, thí dụ như dihidro sulfua (H2S),  
không tạo thành các liên kết tương tự vì hiệu số điện tích quá nhỏ giữa các  
phần liên kết. Việc tạo chuỗi của các phân tử nước thông qua liên kết cầu nối  
hidro là nguyên nhân cho nhiều tính chất đặc biệt của nước, thí dụ như nước  
mặc dù có khối lượng mol nhỏ vào khoảng 18 g/mol vẫn ở thể lỏng trong điều  
kiện tiêu chuẩn. Ngược lại, H2S tồn tại ở dạng khí cùng ở trong những điều  
kiện này. Nước có khối lượng riêng lớn nhất ở 4 độ Celcius và nhờ vào đó mà  
băng đá có thể nổi lên trên mặt nước; hiện tượng này được giải thích nhờ vào  
liên kết cầu nối hidro [14].  
6
* Các tính chất hóa lý của nước:  
Cấu tạo của phân tử nước tạo nên các liên kết hidro giữa các phân tử là  
cơ sở cho nhiều tính chất của nước. Cho đến nay một số tính chất của nước  
vẫn còn là câu đố cho các nhà nghiên cứu mặc dù nước đã được nghiên cứu từ  
lâu. Nhiệt độ nóng chảy và nhiệt độ sôi của nước đã được Anders Celsius  
dùng làm hai điểm mốc cho độ bách phân Celcius. Cụ thể, nhiệt độ nóng chảy  
của nước là 0 độ Celcius, còn nhiệt độ sôi (760 mm Hg) bằng 100 độ Celcius.  
Nước đóng băng được gọi là nước đá. Nước đã hóa hơi được gọi là hơi nước.  
Nước có nhiệt độ sôi tương đối cao nhờ liên kết hidro.  
Dưới áp suất bình thường nước có khối lượng riêng (tỷ trọng) cao nhất là  
ở 4°C: 1 g/cm³ đó là vì nước vẫn tiếp tục giãn nở khi nhiệt độ giảm xuống  
dưới 4°C. Điều này không được quan sát ở bất kỳ một chất nào khác. Điều  
này có nghĩa là: Với nhiệt độ trên 4°C, nước có đặc tính giống mọi vật khác là  
nóng nở, lạnh co; nhưng với nhiệt độ dưới 4°C, nước lại lạnh nở, nóng co. Do  
hình thể đặc biệt của phân tử nước (với góc liên kết 104,45°), khi bị làm lạnh  
các phân tử phải rời xa ra để tạo liên kết tinh thể lục giác mở. Vì vậy mà tỉ  
trọng của nước đá nhẹ hơn nước thể lỏng.Khi đông lạnh dưới 4°C, các phân  
tử nước phải dời xa ra để tạo liên kết tinh thể lục giác mở.  
Nước là một dung môi tốt nhờ vào tính lưỡng cực. Các hợp chất phân  
cực hoặc có tính ion như axit, rượu và muối đều dễ tan trong nước. Tính hòa  
tan của nước đóng vai trò rất quan trọng trong sinh học vì nhiều phản ứng hóa  
sinh chỉ xẩy ra trong dung dịch nước.  
Nước tinh khiết không dẫn điện. Mặc dù vậy, do có tính hòa tan tốt,  
nước hay có tạp chất pha lẫn, thường là các muối, tạo ra các ion tự do trong  
dung dịch nước cho phép dòng điện chạy qua.  
Về mặt hóa học, nước là một chất lưỡng tính, có thể phản ứng như  
một axit hay bazơ. Ở 7 pH (trung tính) hàm lượng các ion hydroxyt (OH-) cân  
7
bằng với hàm lượng của hydronium (H3O+). Khi phản ứng với một axit mạnh  
hơn thí dụ như HCl, nước phản ứng như một chất kiềm.  
HCl + H2O ↔ H3O+ + Cl-  
Với ammoniac nước lại phản ứng như một axit:  
+
NH3 + H2O ↔ NH4 + OH-  
[Tổng quan về nước 2013]  
2.1.2. Cơ sở pháp lý của đề tài  
*Văn bản Luật  
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; Số: 55/2014/QH13  
- Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2012;  
* Văn bản dưới Luật  
- Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy  
định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước;  
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định  
chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;  
- Thông tư số 47/2017/TT-BTNMT ngày 07/11/2017 của Bộ Tài nguyên  
và Môi trường quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước;  
- Thông tư số 73/2017/TT-BTNMT ngày 29/12/2017 của Bộ Tài nguyên  
và Môi trường ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành tài nguyên và  
môi trường;  
- Thông tư số 50/2015/TT-BYT ngày 11/12/2015 của Bộ Y tế Quy định  
việc kiểm tra vệ sinh, chất lượng nước ăn uống, nước sinh hoạt.  
* Một số văn bản khác  
- QCVN 02:2009/BYT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng  
nước sinh hoạt.  
 
8
- QCVN 01:2009/BYT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước  
ăn uống (đối với nước dùng để ăn uống, nước dùng cho các cơ sở chế biến  
thực phẩm);  
- QCVN 08-MT:2015/BTNMT, Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất  
lượng nước mặt  
- TCVN 6492:2011 Chất lượng nước - Xác định pH.  
2.2. Tình hình sử dụng nước trên Thế giới và Việt Nam  
Tài nguyên nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo nhưng  
cũng có thể bị cạn kiệt tùy vào tốc độ khai thác của con người và khả năng tái  
tạo của môi trường. Ngày nay, sử dụng nước cho mọi hoạt động đã trở nên  
phổ biến. Tuy nhiên, việc sử dụng khai thác nguồn tài nguyên này gây ra  
những hậu quả ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn tài nguyên nước.  
2.2.1. Nhu cầu sử dụng nước trên thế giới  
Khi con người bắt đầu trồng trọt và chăn nuôi thì đồng ruộng dần dần  
phát triển ở miền đồng bằng màu mỡ, kề bên lưu vực các con sông lớn. Lúc  
đầu cư dân còn ít và nước thì đầy ắp trên các sông hồ, đồng ruộng, cho dù có  
gặp thời gian khô hạn kéo dài thì cũng chỉ cần chuyển cư không xa lắm là tìm  
được nơi ở mới tốt đẹp hơn. Vì vậy, nước được xem là nguồn tài nguyên vô  
tận và cứ như thế qua một thời gian dài, vấn đề nước chưa có gì là quan trọng.  
Tình hình thay đổi nhanh chóng khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện và  
càng ngày càng phát triển như vũ bão. Hấp dẫn bởi nền công nghiệp mới ra  
đời, từng dòng người từ nông thôn đổ xô vào các thành phố và khuynh hướng  
này vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay.Đô thị trở thành những nơi tập trung  
dân cư quá đông đúc, tình trạng này tác động trực tiếp đến vấn đề về nước  
càng ngày càng trở nên nan giải [10].  
Nhu cầu nước càng ngày càng tăng theo đà phát triển của nền công  
nghiệp, nông nghiệp và sự nâng cao mức sống của con người. Theo sự ước  
   
9
tính, bình quân trên toàn thế giới có chừng khoảng 40% lượng nước cung cấp  
được sử dụng cho công nghiệp, 50% cho nông nghiệp và 10%cho sinh hoạt.  
Tuy nhiên, nhu cầu nước sử dụng lại thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của  
mỗi quốc gia. Thí dụ: Ở Hoa Kỳ, khoảng 44% nước được sử dụng cho công  
nghiệp, 47% sử dụng cho nông nghiệp và 9% cho sinh hoạt và giải trí (Chiras,  
1991). Ở Trung Quốc thì 7% nước được dùng cho công nghiệp, 87% cho  
công nghiệp, 6% sử dụng cho sinh hoạt và giải trí. (Chiras, 1991). Nhu cầu về  
nước trong công nghiệp: Sự phát triển càng ngày càng cao của nền công  
nghiệp trên toàn thế giới càng làm tăng nhu cầu về nước, đặc biệt đối với một  
số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, dầu mỏ, giấy, luyện kim, hóa  
chất..., chỉ 5 ngành sản xuất này đã tiêu thụ ngót 90% tổng lượng nước sử  
dụng cho công nghiệp. Thí dụ: cần 1.700 lít nước để sản xuất một thùng bia  
chừng 120 lít, cần 3.000 lít nước để lọc một thùng dầu mỏ chừng 160 lít, cần  
300.000 lít nước để sản xuất 1 tấn giấy hoặc 1,5 tấn thép, cần 2.000.000 lít  
nước để sản xuất 1 tấn nhựa tổng hợp. Theo đà phát triển của nền công nghiệp  
hiện nay trên thế giới có thể dự đoán đến năm 2000 nhu cầu nước sử dụng cho  
công nghiệp tăng 1.900 km3/năm có nghĩa là tăng hơn 60 lần so với năm  
1900. Phần nước tiêu hao không hoàn lại do sản xuất công nghiệp chiếm  
khoảng từ 1 - 2% tổng lượng nước tiêu hao không hoàn lại và lượng nước còn  
lại sau khi đã sử dụng được quay về sông hồ dưới dạng nước thải chứa đầy  
những chất gây ô nhiễm [10].  
Nhu cầu về nước trong nông nghiệp: Sự phát triển trong sản xuất nông  
nghiệp như sự thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích đất canh tác cũng đòi  
hỏi một lượng nước ngày càng cao. Theo M.I.Lvovits (1974), trong tương lai  
do thâm canh nông nghiệp mà dòng chảy cả năm của các con sông trên toàn  
thế giới có thể giảm đi khoảng 700 km3/năm. Phần lớn nhu cầu về nước được  
thỏa mãn nhờ mưa ở vùng có khí hậu ẩm, nhưng cũng thường được bổ sung  
10  
bởi nước sông hoặc nước ngầm bằng biện pháp thủy lợi nhất là vào mùa khô.  
Người ta ước tính được mối quan hệ giữa lượng nước sử dụng với lượng sản  
phẩm thu được trong quá trình canh tác như sau: để sản xuất 1 tấn lúa mì cần  
đến 1.500 tấn nước, 1 tấn gạo cần đến 4.000 tấn nước và 1 tấn bông vải cần  
đến 10.000 tấn nước. Sở dĩ cần số lượng lớn nước như vậy chủ yếu là do sự  
đòi hỏi của quá trình thoát hơi nước của cây, sự bốc hơi nước của lớp nước  
mặt trên đồng ruộng, sự trực di của nước xuống các lớp đất bên dưới và phần  
nhỏ tích tụ lại trong các sản phẩm nông nghiệp. Dự báo nhu cầu về nước  
trong nông nghiệp đến năm 2000 sẽ lên tới 3.400 km3/năm, chiếm 58% tổng  
nhu cầu về nước trên toàn Thế giới [10].  
Nhu cầu về nước Sinh hoạt và giải trí: Theo sự ước tính thì các cư dân  
sinh sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5-10 lít nước/ người/ ngày. Ngày nay, do  
sự phát triển của xã hội loài người ngày càng cao nên nhu cầu về nước sinh  
hoạt và giải trí ngày cũng càng tăng theo nhất là ở các thị trấn và ở các đô thị  
lớn, nước sinh hoạt tăng gấp hàng chục đến hàng trăm lần nhiều hơn. Theo sự  
ước tính đó thì đến năm 2000, nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí sẽ tăng  
gần 20 lần so với năm 1900, tức là chiếm 7% tổng nhu cầu nước trên thế giới.  
Ngoài ra, còn rất nhiều nhu cầu khác về nước trong các hoạt động khác  
của con người như giao thông vận tải, giải trí ở ngoài trời như đua thuyền,  
trượt ván, bơi lội ... nhu cầu này cũng ngày càng tăng theo sự phát triển của xã  
hội [10].  
2.2.2. Nhu cầu sử dụng nước ở Việt Nam  
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm có lượng mưa tương đối lớn  
trung bình từ 1.800 mm - 2.000 mm, nhưng lại phân bố không đồng đều mà  
tập trung chủ yếu vào mùa mưa từ tháng 4-5 đến tháng 10, riêng vùng duyên  
hải Trung bộ thì mùa mưa bắt đầu và kết thúc chậm hơn vài ba tháng. Sự phân  
bố không đồng đều lượng mưa và dao động phức tạp theo thời gian là nguyên  
 
11  
nhân gây nên nạn lũ lụt và hạn hán thất thường gây nhiều thiệt hại lớn đến  
mùa màng và tài sản ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc gia, ngoài ra còn gây  
nhiều trở ngại cho việc trị thủy, khai thác dòng sông. Theo sự ước tính thì  
lượng nước mưa hằng năm trên toàn lãnh thổ khoảng 640 km3 , tạo ra một  
lượng dòng chảy của các sông hồ khoảng 313 km3 . Nếu tính cả lượng nước  
từ bên ngoài chảy vào lãnh thổ nước ta qua hai con sông lớn là sông Cửu long  
( 550 km3 ) và sông Hồng ( 50 km3 ) thì tổng lượng nước mưa nhận được  
hằng năm khoảng 1.240 km3 và lượng nước mà các con sông đổ ra biển hằng  
năm khoảng 900 km3 . Như vậy so với nhiều nước, Việt nam có nguồn nước  
ngọt khá dồi dào lượng nước bình quân cho mỗi đầu người đạt tới 17.000 m3 /  
người/ năm. Do nền kinh tế nước ta chưa phát triển nên nhu cầu về lượng  
nước sử dụng chưa cao, hiện nay mới chỉ khai thác được 500 m3 /người/năm  
nghĩa là chỉ khai thác được 3% lượng nước được tự nhiên cung cấp và chủ  
yếu là chỉ khai thác lớp nước mặt của các dòng sông và phần lớn tập trung  
cho sản xuất nông nghiệp [10].  
2.2.2.1. Nước ngầm  
Nước tàng trữ trong lòng đất cũng là một bộ phận quan trọng của nguồn  
tài nguyên nước ở Việt Nam. Mặc dù nước ngầm được khai thác để sử dụng  
cho sinh hoạt đã có từ lâu đời nay; tuy nhiên việc điều tra nghiên cứu nguồn  
tài nguyên này một cách toàn diện và có hệ thống chỉ mới được tiến hành  
trong chừng chục năm gần đây. Hiện nay phong trào đào giếng để khai thác  
nước ngầm được thực hiện ở nhiều nơi nhất là ở vùng nông thôn bằng các  
phương tiện thủ công, còn sự khai thác bằng các phương tiện hiện đại cũng đã  
được tiến hành nhưng còn rất hạn chế chỉ nhằm phục vụ cho sản xuất và sinh  
hoạt ở các trung tâm công nghiệp và khu dân cư lớn mà thôi [10].  
12  
2.2.2.2. Nước khoáng và nước nóng.  
Theo thống kê chưa đầy đủ thì ở Việt Nam có khoảng 350 nguồn nước  
khoáng và nước nóng, trong đó nhóm chứa Carbonic tập trung ở nam Trung  
bộ, đông Nam bộ và nam Tây nguyên; nhóm chứa Sulfur Hydro ở Tây Bắc và  
miền núi Trung bộ; nhóm chứa Silic ở trung và nam Trung bộ; nhóm chứa Sắt  
ở đồng bằng Bắc bộ; nhóm chứa Brom, Iod và Bor có trong các trầm tích  
miền võng Hà Nội và ven biển vùng Quảng Ninh; nhóm chứa Fluor ở nam  
Trung bộ....Phần lớn nước khoáng cũng là nguồn nước nóng, gồm 63 điểm  
ấm với nhiệt độ từ 300oC – 400oC; 70 điểm nóng vừa với nhiệt độ từ 41oC –  
60oC và 36 điểm rất nóng với nhiệt độ từ 600oC – 1000oC; hầu hết là mạch  
ngầm chỉ có 2 mạch lộ thiên thuộc loại ấm gặp ở trung Trung bộ và ở đông  
Nam bộ. Từ những số liệu trên cho thấy rằng tài nguyên nước khoáng và  
nước nóng của Việt Nam rất đa dạng về kiểu loại và phong phú có tác dụng  
chửa bệnh, đồng thời có tác dụng giải khát và nhiều công dụng khác. Trong  
những năm gần đây nhu cầu nước sử dụng cho công nghiệp và sinh hoạt  
không ngừng tăng lên theo đà phát triển của công nghiệp, sự gia tăng dân số,  
mức sống của người dân không ngừng được nâng cao và sự phát triển của các  
đô thị [10].  
Nước sử dụng cho nông nghiệp cũng tăng lên do việc mở rộng diện tích  
đất canh tác và sự thâm canh tăng vụ. Theo sự ước tính của các nhà chuyên  
môn thì từ nay đến năm 2000 để đưa diện tích tưới cho nông nghiệp lên 6,5  
triệu ha thì tổng lượng nước cần khoảng 60km3 , cho chăn nuôi khoảng 10 -15  
km3 , nhu cầu về nước cho 80 triệu dân khoảng 8 km3 ; tính chung nhu cầu về  
nước sẽ tăng lên khoảng từ 90 - 100 km3 . Như vậy đến năm 2000 lượng  
nước cần cho sự phát triển đạt xấp xỉ khoảng 30% lượng nước được cung cấp  
trên toàn lãnh thổ. Ðiều đặc biệt là nhu cầu này phần lớn tập trung vào mùa  
khô trong khi mực nước trong các sông ngòi xuống thấp nên có nơi nước sẽ  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 54 trang yennguyen 25140 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu xây dựng mô hình lưới thu sương (hơi) thành nước từ các sợi tự nhiên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_xay_dung_mo_hinh_luoi_thu_suong_hoi_tha.pdf