Khóa luận Đánh giá hiện trạng nước thải chăn nuôi sau xử lý biogas tại xã Cát Nê, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
-------------------------  
NGUYỄN VĂN CHIẾN  
Tên đề tài:  
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NƯỚC THẢI CHĂN NUÔI  
SAU XỬ LÝ BIOGAS TẠI XÃ CÁT NÊ, HUYỆN ĐẠI TỪ,  
TỈNH THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
:Khoa học môi trường  
: Môi Trường  
Khóa học  
: 2013 – 2018  
Thái Nguyên- năm 2018  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
-------------------------  
NGUYỄN VĂN CHIẾN  
Tên đề tài:  
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NƯỚC THẢI CHĂN NUÔI  
SAU XỬ LÝ BIOGAS TẠI XÃ CÁT NÊ, HUYỆN ĐẠI TỪ,  
TỈNH THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
:Khoa học môi trường  
: Môi Trường  
Khóa học  
: 2013 – 2018  
Giảng viên hướng dẫn: Ths. Nguyễn Minh Cảnh  
Thái Nguyên- năm 2018  
MỤC LỤC  
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT  
STT  
Viết tắt  
Nghĩa cụm từ  
Bảo vệ môi trường  
1 BVMT  
2 BTNMT  
3 BOD5  
Bộ Tài nguyên và Môi trường  
Lượng oxy cần thiết để oxy hóa hết các  
chất hữu cơ và sinh hóa do vi khuẩn gây  
ra, với thời gian xử lý nước là 5 ngày ở  
điều kiện nhiệt độ là 20°C.  
4 BNNPTNT Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn  
5 COD  
Nhu cầu ôxi hóa học  
Nghị định Chính phủ  
Nông nghiệp và phát triển nông thôn  
Quy chuẩn Việt Nam  
Thông tư  
6 NĐ – CP  
7 NN&PTNT  
8 QCVN  
9 TT  
10 UNESCO  
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa  
của Liên hiệp quốc  
11 TT  
Thông tư  
12 TSS  
Tổng chất rắn lơ lửng  
LỜI CẢM ƠN  
Thực tập tốt nghiệp là một quá trình hoàn thiện kiến thức, kết hợp giữa lý thuyết và  
thực tiễn công việc, năng lực công tác thực tế của mỗi sinh viên sau khi ra trường nhằm  
đáp ứng yêu cầu thực tiễn và nghiên cứu khoa học. Được sự đồng ý của Ban giám hiệu,  
Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên em đã thực  
tập tốt nghiệp tại xã Cát Nê - huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên để hoàn thiện và nâng cao  
kiến thức của bản thân.  
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban chủ nhiệm Khoa, cùng các thầy  
cô giáo khoa Môi Trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt  
cho em những kiến thức, cũng như tạo mọi điều kiện học tập và giúp đỡ em trong  
suốt quá trình học tập tại Trường. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến  
thầy giáo ThS. Nguyễn Minh Cảnh người đã định hướng, hướng dẫn, giúp đỡ và  
tạo mọi điều kiện tốt nhất để em hoàn thành bản khóa luận này.  
Em xin chân thành cảm ơn các bác, các cô, chú, anh, chị cán bộ của UBND xã  
Cát Nê và toàn thể nhân dân trong địa bàn xã Cát Nê - huyện Đại Từ - tỉnh Thái  
Nguyên đã hết lòng tận tình, chỉ bảo hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình  
thực tập.  
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè những người  
thân đã động viên và khuyến khích em trong suốt quá trình học tập để em có thể  
hoàn thành tốt chương trình học tập cũng như báo cáo tốt nghiệp của mình.  
Với điều kiện, thời gian, kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế nên khóa luận  
của em còn những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và bổ sung  
của các thầy, cô giáo để bản khóa luận này được hoàn thiện hơn.  
Em xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05năm 2018  
Sinh viên  
Nguyễn Văn Chiến  
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1.Đặt vấn đề  
Chăn nuôi là hình thức phổ biến ở các địa phương trong cả nước đặc biệt là  
khu vực nông thôn, trong đó có tỉnh Thái Nguyên. Chăn nuôi là một trong hai  
lĩnh vực quan trọng trong nền nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt), nó không  
những đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày của mọi người  
dân trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập quan trọng của hàng triệu người  
dân hiện nay. Cát Nê là xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên có dân số  
nông thôn chiếm tỉ lệ cao (chiếm tới hơn 90%). Chăn nuôi ngày càng chiếm  
vai trò chủ đạo trong cơ cấu nông nghiệp của tỉnh nói chung và của huyện nói  
riêng.  
Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn xã hình thức chăn nuôi phổ biến vẫn theo  
quy mô hộ gia đình. Việc chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ nhất là trong khu  
vực dân cư đã gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng.  
Bên cạnh những thành quả kinh tế đem lại không thể phủ nhận của chăn nuôi,  
vấn đề vệ sinh môi trường chăn nuôi và hệ luỵ của chúng tới môi trường,  
nguy cơ lây lan dịch bệnh và ảnh hưởng tới sức khoẻ của dân cư sống gần  
nguồn thải, làm giảm sức đề kháng vật nuôi, tăng tỷ lệ mắc bệnh, giảm năng  
suất và hiệu quả kinh tế... Sức đề kháng của gia súc giảm sút sẽ là nguy cơ  
gây nên bùng phát dịch bệnh. Chất thải chăn nuôi khi thải ra bị tích tụ bốc  
mùi hôi thối, lắng đọng gây ách tắc dòng chảy, chất thải theo nguồn nước  
ngấm xuống nguồn nước ngầm làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt của người  
dân.Vì vậy, phải có các giải pháp tăng cường việc làm trong sạch môi trường  
chăn nuôi, kiểm soát, xử lý chất thải, giữ vững được an toàn sinh học, tăng  
cường sức khỏe các đàn giống.  
     
Xuất phát từ yêu cầu đó, một số dự án, chương trình được triển khai tại  
xã nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi được tiến  
hành trong đó có các dự án hỗ trợ xây dựng hầm biogas xử lý chất thải chăn  
nuôi được triển khai. Tuy nhiên, việc quản lý, vận hành và xử dụng hầm  
biogas như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất, vừa đem lại lợi ích về kinh tế  
vừa xử lý được chất thải, không gây ô nhiễm môi trường thứ cấp đang là vấn  
đề khó khăn đối với của người dân. Ở xã Cát Nê, vấn đề môi trường nói  
chung và trong chăn nuôi nói riêng thì môi trường mới chỉ được quan tâm  
trong vài năm trở lại đây khi mà sự phát triển chăn nuôi hàng hoá ngày càng  
gia tăng và dân số phát triển mạnh thu nhỏ khoảng cách giữa chuồng trại và  
khu dân cư. Môi trường và phát triển hiện nay là hai vấn đề không thể tách rời  
nhau. Sự phát triển nhanh chóng của ngành chăn nuôi gia súc đang đe doạ  
môi trường sống của chúng ta. Việc thải ra các loại chất thải đa dạng, độc hại  
đã và đang là mối đe doạ lớn cho hệ sinh thái và con người đồng thời làm cho  
nó trở nên bức bách và cần thiết phải có biện pháp khắc phục. Bất kỳ hộ chăn  
nuôi nào đều phải có trách nhiệm xử lý nguồn chất thải trước khi xả ra môi  
trường. Xuất phát từ những vấn đề thực tế trên, được sự phân công của ban  
chủ nhiệm Khoa Môi Trường tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng nước  
thải chăn nuôi sau xử lý biogas tại xã Cát Nê, huyện Đại Từ, tỉnh Thái  
Nguyên. Đề tài được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ths. Nguyễn Minh  
Cảnh.  
1.2. Mục tiêu của đề tài  
1.2.1. Mục tiêu tổng quát  
Đánh giá hiện trạng nước thải chăn nuôi sau xử lý biogas tại xã Cát Nê,  
huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.  
   
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Đánh giá tổng quan tình hình ô nhiễm môi trường do nước thải chăn nuôi  
gia súc trên địa bàn xã hiện nay. Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác  
quản lý môi trường.  
- Đánh giá hiện trạng nước thải chăn nuôi sau xử lý biogas tại xã Cát Nê,  
huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.  
- Đề xuất các giải pháp cải thiện chất lượng môi trường chăn nuôi, xử dụng  
tiết kiệm năng lượng, phát triển hệ thống hầm biogas trong thời gian tới, nâng  
cao nhận thức cho người dân trong quản lý, vận hành và xử dụng hầm biogas.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học  
- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho  
quá trình làm việc sau này.  
- Vận dụng và phát huy kiến thức đã học tập và nghiên cứu.  
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn  
- Đánh giá được tình hình hình ô nhiễm môi trường do nước thải chăn nuôi  
gia súc và hiệu quả của mô hình hầm biogas quy mô hộ gia đình từ đó biết  
được những thuận lợi và khó khăn của người dân khi xử dụng hầm biogas và  
đưa ra một số giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chất thải thải  
chăn nuôi.  
       
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở khoa học  
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản  
* Môi trường là gì?  
Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao  
quanh, có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật.  
Theo UNESCO, môi trường được hiểu là “Toàn bộ các hệ thống tự  
nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con  
người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên  
nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của con người”.  
Trong “Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam 2014”, chương 1, điều 3  
xác định: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có  
tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”.  
* Chất thải: là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,  
sinh hoạt hoặc hoạt động khác.  
* Ô nhiễm môi trường: Là sự biến đổi của các thành phần môi trường  
không phù hợp với quy chuẩn kĩ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường  
gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Theo khoản 8 điều 3 của luật  
BVMT Việt Nam năm 2014) [2].  
* Ô nhiễm môi trường chăn nuôi: Là khái niệm để chỉ môi trường chăn  
nuôi và môi trường xung quanh bởi những sản phẩm thải của quá trình chăn  
nuôi.  
* Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi về chất lượng và làm nhiễm  
bẩn nguồn nước gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông  
nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí và ảnh hưởng mạnh đến các sinh vật [1].  
       
* Nước bị ô nhiễm vi sinh vật  
Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là phân rác,  
nước thải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nước thải bệnh viện… Để đánh giá chất  
lượng nước dưới góc độ ô nhiễm sinh học thì người ta xử dụng chỉ số  
Coliform. Đây là chỉ số phản ánh số lượng vi khuẩn Coliform có trong nước,  
thường không gây bệnh cho người và sinh vật, nhưng để biểu hiện sự ô nhiễm  
nước bởi tác nhân sinh học. Ô nhiễm nước được xác định theo các giá trị tiêu  
chuẩn môi trường [4].  
* Tiêu chuẩn môi trường: là mức giới hạn của các thông số về chất  
lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong  
chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước và các tổ  
chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường.  
* Nước thải sinh hoạt là nước được thải bỏ sau khi xử dụng cho các  
mục đích sinh hoạt của cộng đồng: tắm, giặt giũ, tẩy rửa, vệ sinh cá  
nhân,…chúng thường được thải ra từ các căn hộ, cơ quan, trường học, bệnh  
viện, chợ, và các cộng đồng khác [3].  
* Chất thải chăn nuôi là gì ?  
Chất thải trong chăn nuôi được phân ra làm 3 loại: chất thải rắn; chất  
thải khí bao gồm CO2, NH3, CH4, H2S… đây đều là những loại khí chính gây  
hiệu ứng nhà kính; chất thải lỏng bao gồm nước tiểu, nước tắm, nước rửa  
chuồng... [6].  
2.1.2. Tổng quan về chất thải chăn nuôi  
Khái niệm chất thải chăn nuôi  
+ Chất thải chăn nuôi là những sản phẩm thải bỏ từ quá trình chăn nuôi  
và các hoạt động phục vụ quá trình chăn nuôi của con người.  
+ Chất thải chăn nuôi bao gồm: Phân, nước tiểu, khí độc, chất độn  
chuồng…  
 
2.1.3. Nguồn gốc phát sinh chất thải chăn nuôi  
Chăn nuôi được xác định là một trong các ngành sản xuất tạo ra một  
lượng chất thải nhiều nhất ra môi trường bao gồm tất cả các loại chất thải rắn,  
lỏng, khí.  
- Chất thải của bản thân gia súc, gia cầm như: phân, nước tiểu, lông,  
vảy, da, …  
- Nước thải từ quá trình tắm cho gia súc, rửa chuồng hay rửa thiết bị và  
dụng cụ chăn nuôi, nước làm mát cho gia súc, …  
- Thức ăn thừa, nước thải sau quá trình xử lý của một số công trình như  
biogas, bùn lắng từ các mương dẫn, hồ chứa lưu trữ và xử lý chất thải.  
- Xác động vật chết. Các loại khí, mùi hôi thối của phân cũng như phân  
hủy các loại chất dư thừa thải ra trong quá trình chăn nuôi. Tất cả chất thải  
chăn nuôi ảnh hưởng ít nhiều đến sức khỏe vật nuôi và con người. Vì vậy cần  
hiểu rõ thành phần, tính chất của chất thải để có phương hướng giải quyết,  
quản lý phù hợp.  
2.1.4. Thành phần chất thải chăn nuôi  
Nước thải chăn nuôi là một hỗn hợp bao gồm nước tiểu, phân, nước  
tắm cho gia súc, nước rửa chuồng. Nước thải có thể chứa một phần hoặc toàn  
bộ lượng phân của gia súc. Theo khảo sát trên 1000 trại chăn nuôi lợn quy mô  
vừa và nhỏ ở các tỉnh phía nam cho thấy cứ 1kg chất thải do lợn thải ra thì  
pha thêm với 20kg–49kg nước. Thành phần của nước thải cũng rất phong  
phú chúng bao gồm các chất rắn ở dạng lơ lửng, các chất hòa tan hữu cơ hay  
vô cơ và nhiều chất là các hợp chất của nito và photpho, nguy hiểm hơn  
chúng còn chứa các loại nấm, kí sinh trùng, vi khuẩn có khả năng gây bệnh.  
- Các chất hữu cơ và vô cơ: Trong nước thải chăn nuôi, hợp chất hữu  
cơ chiếm 70%- 80% gồm cellulose, protit, acid amin, chất béo, hidratcacbon  
và các dẫn xuất của chúng có trong phân, trong thức ăn thừa. Hầu hết các chất  
   
hữu cơ dễ phân hủy. Các chất vô cơ chiếm 20%- 30% gồm cát, đất, muối, ure,  
2-  
ammonium, muối clorua, SO4  
…
- N và P: Khả năng hấp thụ N và P của các loại gia súc, gia cầm rất  
kém nên khi ăn thức ăn có chứa N và P thì chúng sẽ bài tiết ra ngoài theo  
phân và nước tiểu. Trong nước thải chăn nuôi lợn thường chứa lượng N và P  
rất cao. Hàm lượng N-tổng trong nước thải chăn nuôi là 571mg/l- 1026mg/l,  
photpho từ 39mg/l – 94mg/l.  
- Vi sinh vật gây bệnh: Nước thải chăn nuôi chứa nhiều loại vi khuẩn  
như Salmonella, Shigella, Proteys, Arizona. Trứng giun sán trong nước thải  
với những loại điển hình là Fasiola hepatica, Fasiolagigantiac, Fasiolosis  
buski, có thể gây bệnh cho người và gia súc.  
Bảng 2.1: Tính chất nước thải chăn nuôi heo  
Chỉ tiêu  
Độ màu  
Độ đục  
BOD5  
Đơn vị  
Pt- Co  
Mg/l  
Mg/l  
Mg/l  
Mg/l  
Mg/l  
Mg/l  
Mg/l  
Nồng độ  
350-870  
420-550  
3500-8900  
COD  
5000- 12000  
TSS  
680-1200  
Tổng P  
Tổng N  
Dầu mỡ  
36-72  
220-460  
5- 58  
( Nguồn: Trương Thanh Cảnh, 2010)  
2.1.5. Đặc tính của chất thải chăn nuôi  
Chất thải chăn nuôi tác động đến môi trường và sức khỏe con người  
trên nhiều khía cạnh: Gây ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm, môi trường  
khí, môi trường đất và các sản phẩm nông nghiệp. Đây chính là nguyên nhân  
   
gây ra nhiều căn bệnh về hô hấp, tiêu hóa, do trong chất thải chứa nhiều vi  
sinh vật gây bệnh. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã cảnh báo, nếu không có  
biện pháp thu gom và xử lý chất thải chăn nuôi một cách thỏa đáng sẽ ảnh  
hưởng rất lớn đến sức khỏe con người, vật nuôi và gây ô nhiễm môi trường  
nghiêm trọng. Đặc biệt là các virus biến thể từ các dịch bệnh như: lở mồm  
long móng, dịch bệnh tai xanh ở lợn có thể lây lan nhanh chóng và có thể  
cướp đi sinh mạng của rất nhiều người. Theo Báo cáo tổng kết của Viện Chăn  
nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), nồng độ khí H2S và NH3  
trong chất thải chăn nuôi cao hơn mức cho phép khoảng 30-40 lần. Tổng số vi  
sinh vật và bào tử nấm cũng cao hơn mức cho phép rất nhiều lần. Ngoài ra,  
nước thải chăn nuôi còn chứa Coliform, E.coli, COD... và trứng giun sán cao  
hơn rất nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép.  
Ở nước ta hiện nay, mỗi năm ngành chăn nuôi thải ra trên 73 triệu tấn  
chất thải rắn bao gồm phân khô, thức ăn thừa và 20 - 30 triệu khối chất thải  
lỏng (phân lỏng, nước tiểu, chất rửa chuồng trại). Trong đó, khoảng 50%  
lượng chất thải rắn (36,5 triệu tấn), 80% chất thải lỏng (20 - 24 triệu tấn) xả  
thẳng ra tự nhiên hoặc xử dụng không qua xử lý.  
Chất thải chăn nuôi đặc trưng nhất là phân. Phân gồm các thành phần là  
những dưỡng chất không tiêu hóa được hoặc những dưỡng chất thoát khỏi sự  
tiêu hóa vi sinh hay men tiêu hóa (chất xơ, protein không tiêu hóa được, axit  
amin thoát khỏi sự hấp thu…). Các khoáng chất dư thừa mà cơ thể không xử  
dụng được như P2O5, K2O, CaO, MgO… phần lớn xuất hiện trong phân.  
Ngoài ra, còn có các chất cặn bã của dịch tiêu hóa (trypsin, pepsin…) các mô  
tróc ra từ niêm mạc của ống tiêu hóa và chất nhờn theo phân ra ngoài, các  
chất dính vào thức ăn (tro, bụi…) các vi sinh vật bị nhiễm trong thức ăn hay  
trong ruột bị tống ra ngoài… Lượng phân mà vật nuôi thải ra thay đổi theo  
lượng thức ăn và thể trọng, dựa vào thức ăn và thể trọng mà ta tính được  
lượng phân.  
Bảng 2.2. Lượng phân thải ra ngoài của các loại vật nuôi  
STT  
Loại vật nuôi  
Lợn  
Lượng phân thải mỗi ngày (% thể trọng)  
1
2
3
4
6,00 - 7,00  
7,00 - 8,00  
Bò sữa  
Bò thịt  
Gà  
5,00 - 8,00  
5,00  
(Nguồn: Nguyễn Quế Côi, 2006)  
Bảng 2.2 cho thấy lượng phân thải ra mỗi ngày chiếm tỷ lệ cao nhất là ở bò  
sữa 7,00-8,00% thể trọng; tiếp đến là bò thịt, lợn, gà theo thứ tự lần lượt là:  
5,00-8,00%; 6,00-7,00%; 5,00% thể trọng. Qua đây, ta thấy số lượng vật nuôi  
càng lớn thì lượng chất thải thải ra ngoài môi trường càng nhiều. Đây cũng  
chính là vấn đề đáng lo ngại cho môi trường hiện nay.  
2.2. Cơ sở pháp lý  
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 số 55/2014/QH13 đã được Quốc  
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7, thông  
qua ngày 23/6/2014.  
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ về việc  
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường.  
- Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy  
định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.  
- Nghị định 154/2016/NĐ-CP phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.  
- Thông tư số 04/2016/TT-BTNMT về ban hành quy chuẩn kỹ thuật  
quốc gia về nước thải chăn nuôi  
QCVN 62 – MT:2016/BTNMT nước thải chăn nuôi.  
   
QCVN 40:2011/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải  
công nghiệp.  
QCVN 05:2013/BTNMT – Quy chuẩn về chất lượng không khí xung  
quanh.  
QCVN 06:2009/BTNMT – Quy chuẩn về một số chất độc hại trong  
không khí xung quanh.  
QCVN 01-15:2010/BNNPTNT - Quy chuẩn Quốc gia điều kiện trại  
chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học.  
QCVN 08:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng  
môi trường nước mặt.  
2.3. Tình hình chăn nuôi và xử dụng công nghệ biogas trên thế giới và  
Việt Nam  
2.3.1. Tình hình chăn nuôi trên thế giới và ở Việt Nam  
2.3.1.1 Tình hình chăn nuôi  
Ngày nay, dân số tăng nhanh kéo theo nhu cầu về lương thực, thực  
phẩm ngày càng lớn. Theo số liệu thống kê năm 2010 dân số của toàn cầu  
hiện nay trên 6,7 tỷ người, dự báo mỗi năm dân số thế giới tăng 0,7 – 0,8 triệu  
người. Châu lục có cư dân lớn nhất đó là Châu Á với số lượng 4.166,0 triệu  
người tiếp đến là Châu Phi có 1.033,7 triệu người, Châu Âu 732,7 triệu người,  
Mỹ La Tinh 588,6 triệu người, Bắc Mỹ 351,6 triệu người và Châu Đại Dương  
35,8 triệu người. Tính riêng Châu Á đã chiếm trên 60% dân số thế giới, nếu  
cả Châu Á và Châu Phi chiếm trên 70% dân số toàn cầu. Dự kiến đến năm  
2050 dân số toàn cầu có số lượng trên 9,5 tỷ người .  
Theo Bộ NN&PTNT, tình hình chăn nuôi năm 2017 gặp nhiều biến  
động, đặc biệt là giá thịt lợn giảm sâu từ đầu năm khiến người chăn nuôi chịu  
thua lỗ. Sau nhiều tháng chạm đáy, giá lợn hơi những tháng cuối năm đang có  
dấu hiệu tăng trở lại nhưng vẫn không đủ để người chăn nuôi có lãi. Tình  
     
trạng giá thấp kéo dài, khó khăn trong khâu tiêu thụ khiến người chăn nuôi  
lợn giảm đàn, bỏ đàn, treo chuồng. Tuy nhiên, chăn nuôi gia cầm và bò vẫn  
đang phát triển khá tốt và ổn định. Theo kết quả điều tra chăn nuôi kỳ  
01/10/2017, đàn lợn cả nước có 27,4 triệu con, giảm 5,7%, sản lượng thịt lợn  
hơi xuất chuồng đạt 3,7 triệu tấn, tăng 1,9%. Đàn gia cầm cả nước ước có  
385,5 triệu con, tăng khoảng 6,6%, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt  
1,03 triệu tấn, tăng 7,3%, sản lượng trứng gia cầm đạt 10,6 triệu quả, tăng  
12,6% [7].  
Về số lượng vật nuôi, theo số liệu thống kê của FAO năm 2009 số  
lượng đầu gia súc và gia cầm chính của thế giới như sau: tổng đàn trâu 182,2  
triệu con phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á, tổng đàn bò 1.164,8 triệu con,  
dê 591,7 triệu con, cừu 847,7 triệu con, lợn 887,5 triệu con, gà 14.191,1 triệu  
con và tổng đàn vịt là 1.008,3 triệu con. Tốc độ tăng về số lượng vật nuôi  
hàng năm của thế giới trong thời gian vừa qua thường chỉ đạt trên dưới 1%  
năm.  
Cũng theo đánh giá FAO, Châu Á sẽ trở thành khu vực sản xuất và tiêu  
dùng các sản phẩm chăn nuôi lớn nhất. Chăn nuôi ở Việt Nam, giống như các  
nước trong khu vực phải duy trì mức tăng trưởng cao nhằm đáp ứng đủ nhu  
cầu tiêu dùng trong nước và từng bước hướng tới xuất khẩu. Trong những  
năm gần đây, ngành chăn nuôi Việt Nam đã phát triển đáng kể. Hiện nay,  
ngành chăn nuôi nước ta có sản lượng thịt lợn đứng thứ nhất khu vực Đông  
Nam Á (chiếm 42,2%), thứ 2 châu Á (chiếm 5%), thứ 6 thế giới (chiếm  
2,8%). Sản lượng thịt vịt đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á (chiếm 22,4%).  
Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp của nước ta đạt  
khá, giai đoạn 2006 – 2010 tốc độ chăn nuôi đạt 8,5%/năm, trồng trọt đạt  
4,1%/năm.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 52 trang yennguyen 21100 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiện trạng nước thải chăn nuôi sau xử lý biogas tại xã Cát Nê, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hien_trang_nuoc_thai_chan_nuoi_sau_xu_ly.pdf