Khóa luận Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt của Công ty TNHH ChulWoo Vina

LỜI CẢM ƠN  
Lời đầu tiên cho phép em gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu trường  
Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Môi trường, các thầy giáo, cô  
giáo đang giảng dạy trong trường và khoa đã dạy dỗ, truyền đạt nhưng kinh nghiệm  
quý báu cho em suốt những năm học ngồi trên giảng đường đại học.  
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng,  
người đã tận tâm giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận  
tốt nghiệp.  
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến tập thể các anh, các chị đang công tác tại  
Công ty TNHH ChulWoo Vina đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất  
giúp em tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu trong đợt thực tập tốt nghiệp vừa qua.  
Cuối cùng em gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, người thân những người luôn  
theo sát, động viên em trong suốt quá trình theo học và tạo mọi điều kiện để em hoàn  
thành tốt khóa luận tốt nghiệp.  
Do thời gian thực tập ngắn, em còn hạn chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm  
thực tế nên khóa luận không tránh khỏi những sai sót. Kính mong nhận được sự đóng  
góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo để bản báo cáo khóa luận tốt nghiệp của em  
được hoàn thiện hơn.  
Em xin chân thành cảm ơn!  
Thá i Nguyên, ngày……tháng…..năm 2019  
Sinh viên  
Trần Thị Mỹ Linh  
MỤC LỤC  
 
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
Viết đầy đủ  
Bộ tài nguyên và môi trường  
Bộ Y Tế  
BTNMT  
BYT  
CCN  
Cụm công nghiệp  
CBCNV  
CHXHCNVN  
MT  
Cán bộ công nhân viên  
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam  
Môi trường  
NĐ - CP  
PTKT – XH  
QCVN  
QĐ  
Nghị định - Chính phủ  
Phát triển kinh tế - xã hội  
Quy chuẩn Việt Nam  
Quyết định  
QH  
Quốc hội  
QA  
Kiểm tra đầu ra  
UBND  
TCVN  
TT  
Ủy ban nhân dân  
Tiêu chuẩn Việt Nam  
Thông tư  
TCXDVN  
Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam  
 
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Nước là tài nguyên hết sức quan trọng đối với sự sống của con người, tham gia  
thường xuyên vào các quá trình sinh hóa trong cơ thể con người. Phần lớn của các  
phản ứng hóa học liên quan đến sự trao đổi chất trong cơ thể đều có dung môi là nước.  
Nhờ có tính chất này mà nước đã trở thành tác nhân mang sự sống đến Trái Đất. Đối  
với cơ thể sống thì thiếu nước là một hiểm họa, thiếu ăn con người có thể sống được  
vài tuần, còn thiếu nước thì con người không thể sống được vài ngày.  
Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kĩ thuật từ khi bắt đầu thời kì  
công nghiệp cho tới nay là sự gia tăng tất yếu các nhu cầu khai thác, sử dụng tài  
nguyên nước thì lượng nước ô nhiễm sinh ra từ quá trình sản xuất và đời sống vào  
nguồn nước ngày càng nhiều, làm cho nhiều nguồn nước, nhiều dòng sông đang phải  
đối mặt với nguy cơ ô nhiễm, suy thái và cạn kiệt…Trên bề mặt địa cầu nước chiếm  
75% diện tích, với một lượng khổng lồ 1,4 tỉ km3 (1400 triệu tỉ m3) tưởng có thể đủ  
cho con người dùng vô tận nhưng các vấn đề về nước, ô nhiễm, suy thoái, khủng  
hoảng nguồn nước đặt ra cho con người những câu hỏi cấp thiết để giải quyết thực  
trạng này.  
Để trả lời các câu hỏi này các nước trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát  
triển trong đó có Việt Nam cần quan tâm hơn nữa trong việc sử dụng và bảo vệ nguồn  
nước. Nước được sử dụng vào nhều mục đích khác nhau, nước được dung trong các  
họat động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường. Hầu hết các  
hoạt động trên đều cần nước ngọt, 97% nước trên Trái đất là nước muối, chỉ 3% còn  
lại là nước ngọt. Việc sử dụng không hợp lí nguồn nước ngọt ít ỏi này dẫn tới tình  
trạng thiếu nước sạch ngày càng trở nên trầm trọng.  
7
   
Công ty TNHH Chulwoo Vina là một công ty có vốn đầu tư 100% Hàn Quốc  
được thành lập ngày 30/06/2015. Công ty chuyên sản xuất các sản phẩm bằng kim  
loại, các dịch vụ xử lý, gia công kim loại: cửa cuốn, cửa thép chống cháy, cầu thang  
và các sản phẩm khác phục vụ cho các công trình xây dựng. Cùng theo ngành công  
nghiệp phát triển mạnh thì nhu cầu sử dụng nước sẽ ngày càng tăng, nhân công đồng  
thời cũng tăng lên để đáp ứng được sản xuất và cung ứng ra thị trường. Dẫn tới sinh  
hoạt của công nhân cao hơn và nguồn nước cũng đồng thời cần đảm bảo để đáp ứng  
được nhu cầu của công nhân và sức khỏe của công nhân.  
Xuất phát từ thực tế trên, Được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu nhà trường,  
Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường, dưới sự hướng dẫn của: PGS.TS. Nguyễn Thế  
Hùng, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nước  
sinh hoạt của Công ty TNHH ChulWoo Vina”.  
1.2. Mục tiêu đề tài  
- Tổng quan về công ty TNHH Chulwoo Vina  
- Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại Công ty TNHH  
Chulwoo Vina.  
- Đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt tại công ty  
TNHH Chulwoo Vina.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học  
- Vận dụng các kiến thức đã học trong nghiên cứu khoa học.  
- Nâng cao hiểu biết thêm về kiến thức thực tế.  
- Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường.  
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn  
- Đánh giá vấn đề thực tế và hiện trạng nước sinh hoạt.  
8
       
- Cảnh báo vấn đề cấp bách và nguy cơ tiềm tàng về ô nhiễm suy thoái môi  
trường nước sinh hoạt.  
- Từ việc đánh giá hiện trạng, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm  
đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch cho công ty.  
9
PHẦN II  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sở lý luận  
Khái niệm môi trường.  
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan  
hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất,  
sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.” (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ  
Môi trường 2005). [8]  
Khái niệm ô nhiễm môi trường.  
“Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi  
phạm tiêu chuẩn môi trường.” (Luật Bảo vệ Môi trường 2005). [8]  
Nước và một số khái niệm có liên quan.  
Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng là thành phần thiết yếu của sự sống  
và môi trường. Không có nước cuộc sống trên Trái đất không thể tồn tại được. Nó  
quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của đất nước, mặt khác nước có thể  
gây ra tai họa cho con người và môi trường. Nước có thể chia thành nhiều loại  
khác nhau, tùy theo đặc tính tự nhiên hay mục đích sử dụng của con người. Căn  
cứ vào đặc tính lý hóa nước có thể chia thành: dạng lỏng (lỏng), dạng khí (hơi  
nước), dạng rắn (băng tuyết). Căn cứ vào nơi tồn tại, nước gồm: nước biển, nước  
hồ, nước ao… Căn cứ vào mục đích sử dụng thì có nước dùng cho sinh hoạt, sản  
xuất và nuôi trồng thủy sản, thủy điện… Dưới góc độ luật môi trường nguồn nước  
được hiểu là “một thành phần cơ bản của môi trường, là yếu tố quan trọng hàng  
đầu của sự sống”.  
- Khái niệm nước mặt.  
10  
     
Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền và hải đảo.  
- Khái niệm nước ngầm.  
Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm  
tích bở rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt  
Trái Đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người.  
Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành nước ngầm tầng mặt và nước  
ngầm tầng sâu. Ðặc điểm chung của nước ngầm là khả năng di chuyển nhanh trong  
các lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm theo địa hình. Nước ngầm tầng mặt thường  
không có lớp ngăn cách với địa hình bề mặt. Do vậy, thành phần và mực nước biến  
đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái của nước mặt. Loại nước ngầm tầng mặt rất dễ bị  
ô nhiễm. Nước ngầm tầng sâu thường nằm trong lớp đất đá xốp được ngăn cách bên  
trên và phía dưới bởi các lớp không thấm nước [9].  
- Khái niệm nước sinh hoạt.  
Nước sinh hoạt là nước có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của con người.  
- Khái niệm về nước sạch.  
Nước sạch là nước đảm bảo các yêu cầu sau:  
+ Nước trong không màu.  
+ Không có mùi vị lạ, không có tạp chất.  
+ Không chứa chất tan có hại.  
+ Không có mầm mống gây bệnh.  
- Khái niệm ô nhiễm nguồn nước.  
Ô nhiễm nước là hiện tượng các vùng nước như sông, hồ, biển, nước  
ngầm…bị các hoạt động của con người làm nhiễm các chất có thể gây hại cho  
con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên.  
11  
Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp  
ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có  
ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật.  
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến  
đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bần nước và  
gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, cho động vật  
nuôi và các loài hoang dã” (Trần Yêm và cs, 1998). [12]  
Như vậy ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất  
hóa học và thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy  
chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.  
- Khái niệm suy thoái và cạn kiệt nguồn nước.  
Suy thoái nguồn nước là sự suy giảm về số lượng, chất lượng nguồn nước  
so với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nước đã được quan  
trắc trong các thời kỳ trước đó.  
Các xu hướng chính thay đổi chất lượng nguồn nước ô nhiễm là:  
- Giảm độ pH của nước ngọt do ô nhiễm bởi H2SO4, HNO3 từ khí quyển,  
-
-
tăng hàm lượng SO2 và NO3 trong nước.  
2
- Tăng hàm lượng các ion Ca2+, Mg2+, SiO3 trong nước ngầm và nước  
sông do nước mưa hòa tan, phong hóa các quặng cacbonat.  
- Tăng hàm lượng các muối trong nước bề mặt và nước ngầm do chúng  
đi vào môi trường nước cùng nước thải, từ khí quyển và các chất thải rắn.  
- Tăng hàm lượng các chất hữu cơ, trước hết là các chất khó bị phân hủy  
bằng con đường sinh học (các chất hoạt động bề mặt và thuốc trừ sâu).  
- Tăng hàm lượng ion kim loại có trong nước tự nhiên, trước hết là: Pb3+,  
Cd+, Hg2+, Zn2+, As2+, Fe2+, Fe3+,…  
- Giảm nồng độ oxy tự nhiên hòa tan trong nước tự nhiên do quá trình  
12  
oxy hóa các hợp chất hữu trong điều kiện yếm khí.  
- Giảm độ trong của nước.  
2.2. Cơ sở pháp lý  
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23/06/2014 và có hiệu lực  
thi hành từ ngày 01/01/2015.  
- Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 đã được Quốc hội nước CHXHCNVN  
khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012.  
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định một số  
điều Luật bảo vệ môi trường.  
- Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/06/2003 của Chính phủ về việc thu phí  
bảo vệ môi trường đối với nước thải.  
- Nghị định số 124/2011/NĐ - CP ngày 28/12/2011 của Chính Phủ về sản xuất,  
cung cấp và tiêu thụ nước sạch.  
- Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của chính phủ quy định một  
số điều của Luật tài nguyên nước.  
- Quyết định số 09/2005/QĐ - BYT ngày 11/03/2005 của Bộ trưởng Y tế về việc  
ban hành tiêu chuẩn ngành: Tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch.  
- Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT về việc ban hành 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao  
động, 05 nguyên tắc và 07 thông số vệ sinh lao động.  
- QCVN 09:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước  
ngầm.  
- QCVN 03-MT:2005/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho  
phép kim loại nặng trong đất.  
- QCVN 01:2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ăn uống.  
- QCVN 02:2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh  
13  
 
hoạt.  
- TCXDVN 33 - 2016: Cấp nước - Mạng lưới đường ống và công trình.  
- Bộ tiêu chuẩn TCVN 6663 (ISO 6667) Chất lượng nước - Lấy mẫu gồm các tiêu  
chuẩn sau:  
Phần 3: Hướng dẫn bảo quản và lưu giữ mẫu nước.  
Phần 7: Hướng dẫn lấy mẫu nước và hơi trong các nhà máy hơi nước.  
Phần 11: Hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm  
2.3. Cơ sở thực tiễn  
2.3.1.Tài nguyên nước trên thế giới  
Hiện nay, tài nguyên nước trên thế giới là 1,39 tỉ km3, bao phủ 71% diện  
tích của trái đất tập trung trong thủy quyển 97,2% (1,35 tỉ km3) còn lại trong  
khí quyển và thạch quyển; 94% lượng nước là nước mặn, 2% là nước ngọt tập  
trung trong băng ở hai cực; 0,6% là nước ngầm, còn lại là nước sông, hồ. Lượng  
nước trong khí quyển khoảng 0,001% trong sinh quyển 0,002%, trong sông suối  
0,00007% tổng lượng nước trên Trái Đất. Ngoài ra lượng nước mưa trên trái  
đất là 105.000 km3/năm (Bùi Thị Hằng, 2012). [18]  
Theo sự tính toán thì khối lượng nước ở trạng thái tự do phủ lên trên bề  
mặt trái đất khoảng 1,4 tỉ km3, nhưng so với trữ lượng nước ở lớp vỏ giữa của  
quả đất (khoảng 200 tỉ km3) thì chẳng đáng kể vì nó chỉ chiếm không đến 1%.  
Tổng lượng nước tự nhiên trên thế giới theo ước tính có khác nhau theo tác giả  
dao động từ 1.358.985.000 km3 (Lvovits, Xokolov - 1974) đến 1.457.802.450  
km3 (F.Sargent - 1974). [13]  
14  
   
Bảng 2.1: Trữ lượng nước trên thế giới  
Trữ lượng (km3)  
Loại nước  
Biển và đại dương  
1.370.322.000  
60.000.000  
26.660.000  
125.000  
105.000  
75.000  
Nước ngầm  
Băng và băng hà  
Hồ nước ngọt  
Hồ nước mặn  
Khí ẩm trong đất  
Hơi nước trong khí ẩm  
Nước sông  
14.000  
1.000  
Tuyết trên lục địa  
250  
(Nguồn F.Sargent, 1974) [13]  
2.3.2. Tình hình sử dụng nước trên thế giới  
Trong thế kỷ XX, nhu cầu về nước ngọt của nhân loại tăng lên gấp sáu  
lần so với thế kỷ XIX. Trung bình mỗi ngày, một người dân ở Bắc Mỹ, chủ yếu  
là Canada và Hoa Kỳ dùng từ 600 đến 800 lít nước. Để so sánh, nhu cầu này tại  
các quốc gia đang phát triển dao động từ 60 đến 150 lít/ ngày.  
Nhu cầu nước ngày càng tăng theo đà phát triển của nền công nghiệp,  
nông nghiệp và sự nâng cao mức sống của con người. Theo sự ước tính, bình  
quân trên toàn thế giới có chừng khoảng 40% lượng nước cung cấp được sử  
dụng cho công nghiệp, 50% cho nông nghiệp và 10% cho sinh hoạt. Tuy nhiên,  
nhu cầu nước sử dụng lại thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của mỗi quốc gia.  
Ví dụ: Ở Hoa Kỳ, khoảng 44% nước được sử dụng cho công nghiệp, 47% sử  
dụng cho nông nghiệp và 9% cho sinh hoạt và giải trí (Chiras, 1991). Ở Trung  
Quốc thì 7% nước được dùng cho công nghiệp, 87% cho nông nghiệp, 6% sử  
dụng cho sinh hoạt và giải trí (Chiras, 1991). [13]  
15  
 
Phần nước tiêu hao không hoàn lại do sản xuất công nghiệp chiếm  
khoảng từ 1 - 2% tổng lượng nước không hoàn lại và lượng nước còn lại sau  
khi đã sử dụng được quay về sông, hồ dưới dạng nước thải chứa đầy những chất  
gây ô nhiễm (Cao Liêm và cs, 1990). [5]  
Nhu cầu về nước trong nông nghiệp: Sự phát triển trong sản xuất nông  
nghiệp như sự thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích đất canh tác cũng đòi  
hỏi một lượng nước ngày càng cao. Phần lớn nhu cầu về nước được thỏa mãn  
nhờ mưa ở vùng có khí hậu ẩm, nhưng cũng thường được bổ sung bởi nước  
sông hoặc nước ngầm bằng biện pháp thủy lợi nhất là vào mùa khô. Người ta  
ước tính được mối quan hệ giữa lượng nước sử dụng với lượng sản phẩm thu  
được trong quá trình canh tác như sau: để sản xuất 1 tấn lúa mì cần đến 1.500  
tấn nước, 1 tấn gạo cần đến 4.000 tấn nước và 1 tấn bông vải cần đến 10.000  
tấn nước. Sở dĩ cần số lượng nước lớn như vậy chủ yếu là do sự đòi hỏi của quá  
trình thoát hơi nước của cây, sự bốc hơi của lớp nước mặt trên đồng rưộng, sự  
trực di của nước xuống các lớp đất bên dưới và phần nhỏ tích tụ lại trong các  
sản phẩm nông nghiệp. [13]  
Nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí: Theo sự ước tính thì các cư dân  
sinh sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5 - 10 lít nước/người/ngày. Ngày nay, do  
sự phát triển của xã hội loài người ngày càng cao nên nhu cầu về nước sinh hoạt  
và giải trí cũng dần tăng theo nhất là ở các thị trấn và các đô thị lớn, nước sinh  
hoạt tăng gấp hàng chục đến hàng trăm lần và còn nhiều hơn. Theo sự ước tính  
đó thì đến năm 2000, nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí sẽ tăng lên gần 20  
lần so với năm 1990, tức là chiếm 7% tổng nhu cầu nước trên thế giới (Cao  
Liêm và cs,1990). [5]  
Một nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Diễn đàn  
Nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương (APWF) công bố mới đây cũng cho  
16  
thấy có trên 75% quốc gia trong khu vực đang trải qua mối đe dọa thiếu nước  
nghiêm trọng, nhiều nước trong số đó phải đối mặt với cuộc khủng hoảng nước  
sắp xảy ra.  
2.3.3. Tài nguyên nước ở Việt Nam  
Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên nước xếp vào loại trung bình  
khá trên thế giới nhưng có nhiều yếu tố không bền vững. Tổng lượng nước mặt  
trên và đến lãnh thổ nước ta trên một năm là: 850 tỷ m3, trong đó: Nội sinh (  
được tạo ra do mưa rơi trong lãnh thổ) là 310 - 320 tỷ m3 chiếm 37% còn 63%  
do ngoại sinh (lượng mưa ngoài lãnh thổ chảy vào). Tổng trữ lượng  
tiềm tàng nước dưới đất có khả năng khai thác, chưa kể phần hải đảo tính 60 tỷ  
m3/năm. Nếu kể cả nước mặt và nước dưới đất trên phạm vi lãnh thổ thì bình  
quân đầu người đạt 4.400 m3/người/năm, so với thế giới là 7.400 m3/năm. [18]  
Ở Việt Nam, tài nguyên nước mặt (dòng chảy sông ngòi) tương đối phong  
phú, có mạng lưới sông suối khá dày đặc với 2378 con sông với dòng chảy  
quanh năm (với độ dài mỗi con sông hơn 10km). Tổng diện tích lưu vực sông  
là: 1.167.000 km2, trong đó phần lưu vực nằm ngoài lãnh thổ là: 835,422 km2,  
chiếm đến 72%. Có 13 sông chính và sông nhánh có diện tích lưu vực từ  
10.000 km2 trở lên; 166 con sông có diện tích lưu vực dưới 10.000 km2. Tuy  
nhiên tài nguyên nước mặt biến đổi mạnh mẽ theo thời gian (dao động giữa các  
năm và phân bố không đều trong năm) và còn phân bố không đều giữa các hệ  
thống sông và các vùng (Đào Trọng Tứ, 2012). [11]  
Việt Nam là một quốc gia có lượng mưa trung bình năm khá lớn trên  
2000 mm. Ba phần tư lãnh thổ là đồi núi với độ che phủ rừng hiện khoảng 29%  
mạng lưới sông, suối, đầm, ao hồ, kênh mương khá dày và có nước quanh năm.  
Nhờ đó tài nguyên nước nhìn chung tương đối phong phú: hàng năm lượng  
nước mặt sản sinh nội địa đạt 32,5 tỷ m3/năm, nếu kể cả lượng nước từ bên  
17  
 
ngoài vào lãnh thổ chảy vào khoảng 889 tỷ m3/ năm, nước dưới đất có trữ lượng  
tiềm năng khoảng 48 tỷ m3/năm (trầm tích bở rời: 12,6; đá lục nguyên: 7,31; đá  
phun trào: 2,11; đá xâm nhập: 8,05; đá cacbonat: 2,4; đá biến chất: 7,79 và đá  
hỗn hợp: 7,75). [11]  
Theo tính toán, tổng nhu cầu sử dụng nước của nước ta vào năm 2010 là  
122 tỷ m3, trong đó có ngành nông nghiệp dùng 92 tỷ m3, công nghiệp dùng 17  
tỷ m3, dịch vụ dùng 11 tỷ m3. Đến năm 2040, tổng lượng nước cần dùng tăng  
lên 260 tỷ m3. Tỷ trọng của các ngành cũng có thay đổi đáng kể: nông nghiệp  
và dịch vụ dùng 134 tỷ m3, công nghiệp 40 tỷ m3.  
Tuy nhiên lượng nước mặt có thể khai thác không thật khả quan, một mặt  
khả năng sử dụng lượng nước chảy từ bên ngoài lãnh thổ vào rất bấp bênh, thiếu  
chủ động và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mặt khác nếu xét lượng nước cho phép  
sử dụng không được vượt quá 30% lượng nước đến ta thấy nhiều nơi không đủ  
nước dùng. Ví dụ lượng nước cần trong các tháng II - IV của đồng bằng Bắc  
Bộ chiếm tới 43 - 53,8%, cá biệt tại Phả Lại chiếm 69 - 112% lượng nước đến.  
Trong vài thập niên đầu tiên của thế kỷ mới nguy cơ thiếu nước sẽ đến với Đông  
Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và cả Châu thổ sông Hồng. [18]  
2.3.4. Hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt tại Viêt Nam  
Chất lượng nước sinh hoạt đang là vấn đề quan trọng tại Việt Nam. Tình  
trạng ô nhiếm nước do nước thải sinh hoạt kể cả ở đô thị vào nhiều vùng nông  
thôn đã lên mức báo động. Hầu hết lượng nước thải hiện nay thải trực tiếp xuống  
cống rãnh, ao hồ, đầm lầy mà không qua xử lý. Đặc biệt là nước thải của các  
bệnh viện, cơ sở y tế, các khu chăn nuôi là những nguồn gây ô nhiễm rất nghiêm  
trọng. Chất lượng nước ở mức báo động do bị ảnh hưởng của nước thải từ các  
nhà máy công nghiệp, làng nghề, khai thác khoáng sản, nông nghiệp và nuôi  
trồng thủy sản. Việc lạm dụng phân bón và thuốc trừ sâu làm cho nước các ao  
hồ, sông suối bị tạo thành muối và ô nhiễm. Nước ô nhiễm có thể ảnh hưởng  
18  
 
trực tiếp đến chất lượng sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp, từ đó ảnh hưởng  
trực tiếp đến sức khỏe con người và khả năng cạnh tranh thương mại.  
Qua kết quả kiệm nghiệm 185 nguồn nước trên địa bàn 16 xã trong cả  
nước đã thực hiện năm 2006 cho thấy: tỉ lệ nguồn nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh  
chỉ đạt 1,1%; tỉ lệ đạt các chỉ tiêu về hóa lý là 58,47% (các tiêu chuẩn thông  
thường thường gặp: pH: 27%; Fe: 8,19%; Cl: 4,91%). Chỉ tiêu vi sinh vật chỉ  
đạt 1,1% (trong đó 25,95% ô nhiễm vi sinh vật ở mức độ nhẹ và trung bình.  
(Trần Yêm và cs, 1998). [12]  
2.3.5. Vai trò của nước đối với con người  
Nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con người có thể nhịn  
ăn được vài ngày, nhưng không thể nhịn uống nước.  
Nước chiếm khoảng 65 - 75% trọng lượng cơ thể, 50% trọng lượng mỡ, 50 % nước  
còn tồn tại ở 2 dạng: nước trong tế bào và nước ngoài tế bào. Nước ngoài tế bào  
có trong huyết tương máu, dịch limpho, nước bọt…Huyết tương chiếm khoảng  
20% lượng dịch ngoài tế bào của cơ thể (3 – 4 lít). Nước tham gia vào việc hình  
thành các dịch tiêu hóa, giúp con người hấp thụ chất dinh dưỡng, cũng như tạo  
thành các chất lỏng trong cơ thể, thúc đẩy quá trình trao đổi chất. Nước là chất  
quan trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra không ngừng trong  
cơ thể. Nước là một dung môi, nhờ đó tất cả các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ  
thể, sau đó được chuyển vào máu dưới dạng dung dịch nước. Nước còn giúp cho  
các phế nang luôn ẩm ướt, có lợi cho việc hô hấp. Nước còn được gọi là dầu bôi  
trơn của toàn bộ khớp xương trong cơ thể, là một chất hoãn xung của hệ thống thần  
kinh. Vì vậy, uống nước không chỉ đơn thuần là giải khát. Thế nhưng không phải  
ai cũng biết cách uống nước, có người uống nhiều nước ( 3lít - 4 lít/ngày), có người  
lại uống quá ít (0,5 lít/ngày). Người uống quá nhiều nước gây áp lực cho thận,  
người uống quá ít nước thì da khô, tóc dễ gãy, bị táo bón, bị sỏi thận...[20]  
19  
 
Nước góp phần vào việc nâng cao sức khỏe, giảm thiểu bệnh tật, tăng  
sức lao động và sản xuất cho con người.  
2.3.6. Vai trò của nước đối với đời sống sản xuất  
- Đối với đời sống sinh hoạt.  
Nước sạch là một nhu cầu cơ bản đối với cuộc sống hàng ngày, là vấn đề  
đang ngày càng trở nên cấp thiết và cũng là trọng tâm của các mục tiêu phát  
triển thiên niên kỷ.  
Nước cũng được coi là một nhân tố thiết yếu góp phần vào công cuộc  
xóa đói, giảm nghèo, cải thiện điều kiện sống và mang lại một cuộc sống văn  
minh, tiến bộ cho con người.  
- Đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp.  
Với nền nông nghiệp lâu đời là sản xuất lúa nước như nước ta cho thấy  
nước giữ vai trò quan trọng nhất trong sản xuất.  
Để đảm bảo an ninh lương thực phải có đủ nước phục vụ sản xuất nông  
nghiệp. Do vậy mỗi người dân cần nâng cao ý thức trong việc sử dụng nguồn  
nước ngọt. Cần phải hiểu nước là nguồn tài nguyên có hạn, vì vậy phải tiết  
kiệm.  
- Đối với hoạt động công nghiệp.  
Nước đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất công nghiệp,  
là chất cần thiết cho việc tẩy rửa các thành phần đầu vào. [18]  
2.3.7. Các giải pháp xử lý nước sinh hoạt  
* Làm mềm nước (khử độ cứng của nước)  
Độ cứng của nước là số đo hàm lượng các ion kim loại Ca+ và Mg+ có  
trong nước. Độ cứng toàn phần là tổng hàm lượng các ion Ca+ và Mg+ tính cho  
một lít nước, bao gồm:  
2-  
-
+ Độ cứng cacbonat (CO3 , HCO3 ) bằng hàm lượng ion canxi và magiê  
20  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 46 trang yennguyen 10920 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt của Công ty TNHH ChulWoo Vina", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hien_trang_moi_truong_nuoc_sinh_hoat_cua.pdf