Khóa luận Đánh giá nhận thức của sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm

 
i
LỜI CẢM ƠN  
Hoàn thành đề tài này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám  
hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Môi  
Trường, các thầy cô giáo trong trường đã truyền đạt cho tôi những kiến thức  
quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại nhà trường.  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Ths. Hoàng Thị Lan Anh  
đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá thình nghiên cứu và thực  
hiện đề tài.  
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các bạn sinh viên trường Đại học  
Nông lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi để hoàn thành đề tài này.  
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè luôn là nguồn  
động lực và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện  
đề tài.  
Tôi rất mong được các thầy cô giáo và các bạn sinh viên đóng góp ý kiến  
bổ xung để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày.....tháng.....năm 2019  
Sinh viên  
PHOMMAVONGSA THIPKESONE  
ii  
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
Giải thích  
An toàn thực phẩm  
ATTP  
KTX  
Ký túc xá  
NĐTP  
UBND  
VSATTP  
WHO  
Ngộ độc thực phẩm  
Ủy ban nhân dân  
Vệ sinh an toàn thực phẩm  
Tổ chức Y Tế Thế giới  
 
iii  
MỤC LỤC  
 
v
DANH MỤC CÁC BẢNG  
 
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Tính cấp thiết  
Thái nguyên là một thành phố có nhiều trường đại học, cao đẳng với một  
số lượng sinh viên rất lớn. Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên là một  
ngôi trường đã có bề dày kinh nghiệm giảng dạy 50 năm với các ngành liên  
quan tới nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản - tài nguyên - môi trường và một  
số ngành khác. Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên được thành lập năm  
1969, nhà trường là một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học kỹ thuật  
nông lâm nghiệp, phát triển nông thôn, tài nguyên và môi trường lớn nhất  
trung thu và miền núi phía Bắc Việt Nam. Mục tiêu của nhà trường không chỉ  
là nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho những phát triển Nông  
nghiệp nông thôn của cả nước mà còn là nơi nghiên cứu và phát triển các  
khoa học kỹ thuật tiên tiến trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, phát triển nông  
thôn, tài nguyên và môi trường nhằm đảm bảo sử phát triển bền vững kinh tế  
xã hội của Việt Nam. Đặc biệt là đào tạo đội ngũ cán bộ cho 17 tỉnh trung du  
và miền núi phía Bắc. Với sự nỗ lực không ngừng phần đấu trong suốt 50  
năm qua, hiện nay nhà trường đã có 08 khoa chuyên môn, 01 khoa sau đại  
học, với 19 ngành đào tạo bậc đại học, 07 ngành đào tạo thạc sỹ và 07 ngành  
đào tại tiến sỹ. Hằng năm sinh viên có nhu cầu học vào các ngành mà trường  
đào tạo là rất lớn. Tới đây, các bạn sinh viên được giao lưu học hỏi lẫn nhau để  
làm cho mình được hoàn thiện hơn, được tiếp thu kiến thức mà các giảng viên  
có trình độ cao, tâm huyết với nghề giảng dạy. Sẽ có rất nhiều vấn đề mà các  
bạn sinh viên cần quan tâm trong thời gian học tại trường, đặc biết là vấn đề  
làm thế nào để mình có được cách học sao cho thật khoa học mà mang lại hiệu  
quả cao, để có thể phấn đáu và rèn luyện được tốt nhất. Bên cạnh vấn đề học  
tập và rèn luyện thì có một số vấn đề khác cần được quan tâm. Đó là vấn đề vệ  
     
2
sinh an toàn thực phẩm đối với người dân và sinh viên của trường đại học - cao  
đẳng trên địa bàn Thái Nguyên nói chung và đặc biệt đối với Trường Đại học  
Nông lâm Thái Nguyên nói riêng. Đây là vấn đề đã và đang được các cơ quan  
chức nằng kết hợp với nhà trường quan tâm rất nhiều.  
Vệ sinh an toàn thực phẩm trong nước nói chung và của Thái Nguyên  
nói riêng đang tạo ra nhiều mối lo lắng cho người dân. Thực chất nhiều sự  
kiện đã nói lên điều đáng lo ngại này như việc tiếp tục sử dụng những hóa  
chất cấm đúng trong nuôi trồng, chế biến và bảo quản nông lâm thủy sản thực  
phẩm, việc sản suất một số sản phẩm kém chất lượng hoặc do quy trình chế  
biến hay là do nhiễm độc từ môi trường, đang gây ảnh hưởng xấu đến xuất  
khẩu và tiêu dùng. Các sông ngộ độc thực phẩm do một số bếp ăn tập thể  
cung cấp, có nhiều thông tin liên tục nói đến tình hình vệ sinh an toàn thực  
phẩm ở một vài nước trên thế giới, cộng thêm dịch cúm gia cầm tái phát làm  
bùng lên nỗi lo âu của người dân khi lựa chọn và sử dụng các loại thực phẩm  
tươi sống này. Gần đây một số vấn đề liên quan đến quản lý an toàn vệ sinh  
thực phẩm, sự khác biệt giữ các kết quả phân tích kiểm tra chất lượng sản  
phẩm đã gây ra không ít khó khăn cho người sản xuất và qua đó cũng đá tạo  
nên lo lắng cho người tiêu dùng. Sinh viên là lực lượng tiêu thụ các sản phẩm  
của ngành trồng trọt và chăn nuôi cùng với các loại thức ăn đã được chế biến  
sẵn là rất lớn nên họ rất lo lắng cho sức khỏe của mình. Nếu không có được  
một sức khỏe tốt thì làm ảnh hưởng tới tất cả các vấn đề khác, đặc biệt là vấn  
đề học tập và rèn luyện sẽ bị ảnh hưởng rất lớn. Xuất phát từ lý do đó mà em  
đã tiến hành nghiên cứu đề tài ‘‘Đánh giá nhận thức của sinh viên trường  
Đại học Nông lâm Thái Nguyên với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm’’  
1.2. Mục tiêu của đề tài  
Đánh giá nhận thức của sinh viên đang học tập tại trường Đại học Nông  
lâm Thái Nguyên với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm.  
 
3
1.3. Yêu cầu của đề tài  
Đánh giá, phân tích tổng hợp các hành vi, nhận thức của sinh viên  
trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên về vệ sinh an toàn thực phẩm, và có  
biện pháp tuyên truyền để nâng cao nhận thức.  
1.4. Ý nghĩa của đề tài  
Ý nghĩa khoa học trên cơ sở những thông tin thu thập được của cuộc  
điều tra, góp phần xây dựng cơ sở lý thuyết cho vấn đề này. Từ đó có một cái  
nhìn chân thực và khách quan về nhận thức của sinh viên trường Đại học  
Nông lâm Thái Nguyên với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm  
Ý nghĩa thực tiễn thông qua điều tra sẽ hình thành cơ sở lý luận của vấn  
đề vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhận thức của sinh viên và từ đó đề ra một số  
định hướng, giải pháp và kiến nghị góp phần giải quyết hiện tượng trên.  
   
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
2.1. Những vấn đề chung về vệ sinh an toàn thực phẩm  
2.1.1. Khái niệm về vệ sinh an toàn thực phẩm  
Bảo đảm về vệ sinh an toàn thực phẩm giữ vị trí quan trọng trong sự  
nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần giảm tỷ lệ mặc bệnh, duy trì và  
phát triển nòi giống, tăng cường sức lao động, học tập, thúc đẩy sự tăng  
trưởng kinh tế, văn hóa xã hội và thể hiện nếp sống văn minh. Mặc dù cho  
đến này đã có khá nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong công tác bảo vệ và  
vệ sinh an toàn thực phẩm, cũng như biện pháp và quản lý giáo dục như ban  
hành luật, điều lệ và thành tra giảm sát vệ sinh an toàn thực phẩm như các  
bệnh do kém chất lượng về vệ sinh an toàn thực phẩm và thức ăn vẫn chiếm  
tỷ lệ khá cao. Để biết được rõ hơn về định nghĩa an toàn thực phẩm thì trước  
trên ta đi tìm hiểu xem như thế nào được gọi là thực phẩm từ đó có được định  
nghĩa vệ sinh an toàn thực phẩm sát nghĩa nhất.  
Định nghĩa về thực phẩm như sau:  
Thực phẩm: là những thức ăn, đồ uống của con người dưới dạng tươi  
sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm, và các  
chất đã được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm.  
Định nghĩa về vệ sinh an toàn thực phẩm như sau:  
Vệ sinh an toàn thực phẩm: là tất cả các điều kiện, biện pháp từ khâu  
sản xuất, chế biến, bảo quản, phấn phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm  
bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn không gây hại cho sức khỏe, tính  
mạng người tiêu dùng.  
Hiện nay đang có 2 khái niệm được sử dụng phổ biến và rộng rãi:  
Vệ sinh thực phẩm (food hygiene) và an toàn thực phẩm (food safety).  
       
5
Vệ sinh thực phẩm(food hygiene): là một khái niệm khoa học để nói  
thực phẩm không chứa vi sinh vật gây bệnh và không chứa độc tố. Khái niệm  
vệ sinh thực phẩm còn bao gồm khâu tổ chức vệ sinh trong chế biến bảo quản  
thực phẩm.  
An toàn thực phẩm (food safety): là khá năng không gây ngộ độc của  
thực phẩm đổi với con người. Như vậy có thể nói, an toàn thực phẩm là khái  
niệm có nội dung rộng hơn do nguyên nhân gây ra ngộ độc thực phẩm không  
còn hạn chế ở vi sinh vật.  
Vì vậy, vệ sinh an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sự tham gia của  
nhiều nhành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, thú y,  
cơ sở chế biến thực phẩm, y tế, người tiêu dùng cùng nhau phối hợp thực hiện  
nghiên túc luật và các văn bản của Nhà nước và của bộ Y tế.  
2.2. Ảnh hưởng của thực phẩm không an toàn đến sức khỏe con người  
Vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề đang được cả xã hội quan tâm, đặc  
biệt là ở đô thị và các khu công nghiệp, khí ngày càng có nhiều tác nhân độc  
hại bị phát hiện trong thực phẩm khiến dư lo ngại (như: melaminetrong sữa,  
bột đá trong kẹo, aldehyde trong rượu...v.v). Về lâu dài, thực phẩm không  
những có tác dụng thường xuyên đối với sức khỏe con người mà còn ảnh  
hưởng lâu dài đến nòi giống. Sự dụng các thực phẩm không đảm bảo vệ sinh  
trước mặt có thể bị ngộ độc cấp tính với các triệu chứng dễ nhận thấy, nhưng  
vấn đề nguy hiểm là sự tích lũy dần dần các chất độc hại ở một số cơ quan cơ  
thể. Sau một thời gian bệnh mới biểu hiện hoặc có thể gây các dị tật, di dạng  
cho thể hiện mai sau. Những ảnh hưởng tới sức khỏe đó phụ thuộc vào các tác  
nhận gây bệnh.  
Đối với Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác, lương  
thực, thực phẩm là loại sản phẩm chiến lược, ngoài ý nghĩa kinh tế còn ý  
 
6
nghĩa chính trị, xã hội rất quan trọng. Để cạnh tranh trên thị trường quốc tế,  
thực phẩm không những cần được sản xuất, chế biến, bảo quan phòng tránh ô  
nhiễm các loại vi sinh vật mà còn không được chứa các chất hóa học tổng hợp  
hay tự nhiên vượt quá mức quy định cho phép của tiêu chuẩn quốc tế hoặc  
quốc gia, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.  
Những ảnh hưởng của thực phẩm khi không đảm bảo vệ sinh an toàn  
thực phẩm:  
Thiệt hại chính do các bệnh gây ra từ thực phẩm đối với cá nhân là chi  
phí khám bệnh, phục hồi sức khoẻ, chi phí do phải chăm sóc người bệnh, sự  
mất thu nhập do phải nghỉ làm… Có rất nhiều ăn bệnh nguy hiểm cũng chỉ vì  
sử dụng các loại thực phẩm không an toàn và gây ra bị kích thảm thương một  
số căn bệnh như: Bệnh tiêu chảy, bệnh tim mạch, các bệnh liên quan tới da,  
ngộ độc thực phẩm… Và còn rất nhiều những căn bệnh khác được ủ bệnh bên  
trong cơ thể tới khi phát bệnh thì đã không còn thuốc chữa.  
Đối với nhà sản xuất, đó là những chi phí do phải thu hồi, lưu giữ sản  
phẩm, hủy hoặc loại bỏ sản phẩm, những thiệt hại do mất lợi nhuận do thông  
tin quảng cáo... Và thiệt hại lớn nhất là mất lòng của người tiêu dùng.  
Ngoài ra còn có các thiệt hại khác như phải điều tra, khảo sát, phân tích  
kiểm tra độc hại, giải quyết hậu quả.  
Do vậy, hậu quả mà các bệnh do sử dụng thực phẩm không an toàn là rất  
lớn. Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm để phòng các bệnh gây ra từ thực  
phẩm có ý nghĩa thực tế rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã hội,  
bảo vệ sống của các nước đã và đang phát triển, cũng như nước ta. Mục tiêu  
đầu tiên của vệ sinh an toàn thực phẩm là đảm bảo cho người ăn tránh bị ngộ  
độc do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm hoặc có chất độc, thực phẩm phải đảm bảo  
lành và sạch.  
7
Bảng 2.1 Nguyên nhân gây nên mất vệ sinh an toàn thực phẩm  
Nguyên nhân  
Tỷ lệ (%)  
Quá trình chăn nuôi, gieo trồng, sản xuất lương thực, thực phẩm  
Quá trình chế biến không hợp vệ sinh  
Qua trình sử dụng và bải quan không phù hợp  
Do vi khuẩn, vi sinh vật xâm nhập  
Nhận xét:  
50,45  
50,65  
42,55  
51,01  
Bảng 2.1 đã nêu ra các nguyên nhân chủ yếu và cơ bản nhất của việc gây  
nên mất vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong các nguyên nhân gây nên ngộ độc  
thực phẩm thì nguyên nhân do quá trình chăn nuôi, gieo trồng, sản xuất lương  
thực, thực phẩm chiếm lệ (50,45%), quá trình chế biến không hợp vệ sinh tỷ  
lệ (50,65%), quá trình sử dụng và bảo quản không phù hợp chiếm tỷ lệ  
(42,55%), và do vệ sinh vật xâm nhập chiếm tỷ lệ (51,01%). Như vậy trong 4  
nguyên nhân trên nguyên nhân chiếm tỷ lệ cáo nhất gây nên mất vệ sinh an  
toàn thực phẩm là do vi khuẩn, vi sinh vật xâm nhập với tỷ lệ (51,01%). Đây  
là một con số đang cảnh báo cho việc gây ra ngộ độc thực phẩm.  
Một số loại vi khuẩn thường xâm nhập vào trong thực phẩm và quá đó  
gây nên ngộ độc là: Nhiễm khuẩn, nhiễm độc thức ăn do Salmonella, vi khuẩn  
Clostidium perfringens, vi khuẩn E.coli...  
Vi khuẩn Salmonella, là vi khuẩn gram (-), di động, không sinh nhà bào,  
kém đề kháng với điều kiện bên ngoài, bị phá hủy bằng phương pháp tiệt  
trùng Pasteur và đun nấu kỹ thức ăn. Những vi khuẩn salmonella có thể sống  
sót một thời gian dài ở thực phẩm khô và ướp lạnh. Do đó khi làm tan thực  
phẩm khô, động lạnh vi khuẩn này vẫn có thể dễ đang phát triển lại. Vi khuẩn  
phát triển thích hợp nhất là 35oC- 37oC.  
Vi khuẩn Clostidium perfringens, là trực khuẩn gram (+), sống kị khí, có  
nhà bào, tồn tại trong đất, nước, đường tiêu hóa của người, động vật. Nha bào  
 
8
của Clostidium perfringens dễ để kháng với nhiệt độ. Clostidium perfringens  
sinh ra 6 típ độc tố: A, B, C, D, E, F; Trong đó độc tố típ A là độc tố chủ yếu  
gây ra ngộ độc thực phẩm, sau đó đến tipsF. Chúng là những trực khuẩn tạo  
thành bào tử, không chuyển động. Nhiệt độ thích hợp cho sinh tưởng của  
chúng là 37oC- 45oC, độc tố nhiều nhất là ở điều kiện 37oC.  
Vi khuẩn E.coli là loại trực khuẩn gram (-), thuộc nhóm Escherichia,  
không sinh nhà bào, có thể di động hoặc không di động. Sự có mặt của E.Coli  
được coi chỉ điểm của sự nhiễm phân người hoặc động vật trong thực phẩm.  
E.coli ký sinh bình thường ở ruột người, đặc biệt là ở ruột già. E.coli phát  
triển ở nhiệt độ 5oC- 40oC, tốt nhất ở 37oC pH thích hợp là 7 - 7,2. Như các  
loại không sinh nha bào khác, E.coli kém chịu nhiệt (55oC trong vòng 1 giờ  
hoặc 60oC trong vòng 30 phút là bị tiêu diệt). Ngộ độc thực phẩm do E.coli  
thường gặp ở trẻ em và người già, hay xuất hiện vào mùa hè. Thực phẩm dễ  
bị nhiễm E.coli nhất là sữa, phomát...  
Vì thế khi sử dụng thực phẩm chúng ta cần lưu ý tới nhiệt độ và những  
loại thực phẩm thường có những loại vi khuẩn trên thì nên hạn chế sử dụng để  
đảm bảo cho sức khỏe của chính bản thân mình. Bên cạnh đó chúng ta cần  
phải quan tâm tới nguồn gốc của các loại thực phẩm mà hàng ngày thường sử  
dụng bằng nhiều cách như: tham khảo thông tin từ người bán hàng, người sản  
xuất mà những người tiêu dùng như chúng ta... Khi sử dụng các loại thực  
phẩm cần phấn biết riêng rẽ các loại thực phẩm đã tươi sống và thực phẩm đã  
nấu chính để chế biến và bảo quan được tốt hơn, quan trọng hơn là đảm bảo  
được vệ sinh an toàn thực phẩm.  
2.3. Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm trên thế giới và ở Việt Nam  
2.3.1. Thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm trên thế giới  
Thực phẩm là nguồn cung cấp năng lượng, các chất dinh dưỡng cần thiết  
đề còn người sống và phát triển. Thế nhưng thực phẩm cũng là nguồn truyền  
bệnh nguy hiểm, nếu như đảm bảo được vệ sinh và an toàn. Vệ sinh an toàn  
   
9
thực phẩm (VSATTP) đang là vấn đề bức xúc của mọi người, bởi lẽ  
VSATTP tác động trực tiếp đến sức khỏe cũng chất lượng cuộc sống còn  
người và do đó ảnh hưởng đến phát triển của xã hội và nòi giống. Công tác  
quản lý chất lượng VSATTP vừa là yêu cầu cấp bách, vừa có tính chiến lược  
lâu dài, đồng thời đây cũng là mảng công tác rất rộng lớn và phức tạp, đan  
xen với nhau bởi rất nhiều hoạt động. VSATTP là tập hợp các điều kiện và  
biện pháp cần thiết để thực phẩm không gây hại cho sức khỏe và tính mạng  
con người. Để đảm bảo chất lượng VSATTP thì tất cả các khâu trong chuỗi  
đảm bảo chất lượng thực phẩm (từ khâu nuôi trồng, đánh bắt, đến sản xuất  
chế biến, bảo quan, vân chuyển, kinh doanh và sử dụng) đều phải đặt vệ sinh  
an toàn. Nếu bất kỳ khâu nào không đạt yêu cầu thì nguy cơ ngộ độc thực  
phẩm đều có thể xảy ra. Trách nhiệm bảo đảm chất lượng VSATTP là của tất  
cả mọi người trong xã hội từ các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể đến nhà  
khoa học, cá cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh và đến người tiêu dùng.  
Theo thống kê của Tổ chức Y Tế thế giới (WHO) cho biết vào năm 2015  
có hơn 200 các bệnh lây truyền qua thực phẩm không an toàn. VSATTP đã  
được đặt lên hàng đầu nghị trình tại nhiều hội nghị y tế và sức khỏe cộng đồng  
toàn cầu, nhưng tình hình gần như không được cải thiện bao nhiêu, nhất là khi  
thế giới liên tiếp xảy ra thiên tai và nguồn nước sạch ngày càng khan hiếm. Khi  
người dân không có đủ miếng ăn thì việc kiểm tra chất lượng những gì mà họ  
ăn đã trợ thành điều quá xa với. Tiến sĩ Margaret Chan, Tổng giám đốc tổ chức  
Y Tế Thế giới (WHO), cho biết mỗi tháng Liên Hợp Quốc nhân được khoảng  
200 báo cáo từ 194 quốc gia về các trường hợp thực phẩm bị nhiễm độc. Bà  
nhấn mạnh ″Một lần nữa, tôi xin khẳng định, về vệ sinh an toàn thực phẩm là  
vấn đề chung của cả nhân loại chứ không riêng một nước nào".  
Theo WHO đã thông kê và cho biết mỗi năm những ca bị ngộ độc ở một  
số nước trên thế giới như sau:  
10  
Tại Mỹ có 76.000.000 người bị ngộ độc thực phẩm trong đó có 325.000  
người phải nhập viện, tử vong 5.000 người.  
Tại Anh mỗi năm có 190 ca ngộ độc/1.000 dân.  
Tại Nhật Bản cứ 100.000 người có 40 ca ngộ độc thực phẩm mỗi năm.  
Tại Úc mỗi năm có 4.2 triệu người bị ngộ độc thực phẩm.  
Tại Việt Nam từ năm 2005 đến 2008 cả nước có 761 vụ ngộ độc, với  
26.596 người mắc, tử vong 226 người và tính đến tháng 9 năm 2009 trên toàn  
quốc có 111 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.128 người mắc, 31 người tử vong.  
Chất lượng VSATTP hiện nay rất đáng lo ngại, đã được rất nhiều các  
phương tiện thông tin đại chúng phản ánh. Việc sử dụng không an toàn về  
phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc tăng trọng, kháng sinh, hóa chất trong  
chăn nuôi trông trọt nông nghiệp, thủy hải sản hiện nay còn khá phổ biến.  
Chúng ta cũng có những vùng rau sạch, trái cây sạch, những nông trại chăn  
nuôi thực hiên đúng quy định, nhưng số lượng và tỷ lệ vô cùng nhỏ bé, mới  
chỉ đạt 8,5% tổng diện tích rau cả nước, cây ăn quả an toàn đạt khoảng 20%.  
Thực phẩm có chữa chất độc hoặc được sử dụng chất bảo quản, phụ gia, phẩm  
màu công nghiệp có hại cho sức khỏe cũng còn lưu hành rất nhiều trên thị  
trường như nước tương có chất 3 - MCPD, nước mắm có U - rê, hải sản tươi  
được ướp với U - rê để bảo quản, trứng gà và sữa có chứa melamine, da lợn  
được tẩy trắng bằng thuốc tẩy, hạt dưa, bột ớt và nhiều loại bột điều nhuộm  
phẩm màu công nghiệp có chứa Rhodamin B, trái cây khô từ Trung Quốc bị  
nhiễm chì, xúc xích có chữa chất Polychlorobifeny gây ung thư, bánh phở có  
tẩm formol, chả giò chứa hàn the, rau củ quả có dư lượng chất bảo vệ thực  
vật, rượu pha cồn hay làm giả…  
Một số cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm cạnh cống rãnh hoặc gần ao  
tù, nước đọng rất mất vệ sinh hoặc sử dụng dụng cụ lưu trữ, chế biến vô cùng  
dơ, bẩn. Các cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra đã phát hiện trong mứt có  
dòi, hàng ngàn tấn thịt đông lạnh hôi thối (từ thịt trâu, bò, lợn, gà cừu, dê…)  
11  
hết hạn sử dụng vẫn được tái chế đưa ra thị trường, rồi chân gà bị phát hiện có  
mủ xanh. VSATTP tại các bếp ăn tập thể cũng đáng báo động.  
Nguyên nhân làm cho thực phẩm không an toàn gồm thực phẩm nhiễm  
vi sinh độc hại (vi khuẩn, virus, ký sinh, nấm…) là nguyên nhân chính gây  
nên nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm tập thể và sử dụng những loại hóa  
chất, phụ gia dùng trong nông thủy sản, thực phẩm không đúng quy định gây  
ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng (như dùng hóa chất không cho  
phép, hoặc hóa chất được phép sử dụng trong chế biến thực phẩm, nhưng lại  
được dùng quá hàm lượng hoặc chất độc sinh ra trong quá trình bảo quản, chế  
biến, chưa kể một số độc tố tự nhiên).  
Về chính sách pháp luật, đã có rất nhiều các văn bản quy định, hướng  
dẫn. Tuy có rất nhiều văn bản, nhưng vừa chồng chéo, không phân định rõ  
ràng trách nhiệm quản lý giữa các bộ, các ngành lại vừa thiếu sót, chưa phủ  
hết các lĩnh vực, có khoảng trống giữa các khâu trong trách nhiệm quản lý  
liên tục một loại sản phẩm. Một số lĩnh vực mới phát sinh (như thực phẩm  
chức năng, một số độc chất và vi chất) chưa được hướng dẫn quản lý cụ thể,  
chi tiết nên địa phương rất khó thực hiện. Bên cạnh đó có những quy định  
không phù hợp với thực tế như hiện tuyến xã không thể nào đủ cán bộ đủ  
chuyên môn để thực hiện việc khám sức khỏe, thẩm định cơ sở, cấp giấy phép  
theo quy định (thực tế cơ sở cũng chưa đủ điều kiện VSATTP để xét cấp).  
Về tổ chức bộ máy, chưa có một hệ thống tổ chức làm công tác VSATTP  
thống nhất từ trung ương đến địa phương, chưa có mạng lưới thanh tra chuyên  
ngành về VSATTP. Tại Mỹ có cơ quan Kiểm soát Thực phẩm và Dược phẩm  
(CDC), ở Trung Quốc cũng có cơ quan tương tự. Còn tại Việt Nam có tới 5  
bộ quản lý về VSATTP gồm: Bộ Y Tế, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và  
Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài Nguyên và Môi  
trường và UBND các cấp, dẫn đến một thực trạng không có cơ quan nào chịu  
trách nhiệm chính khi có vấn đề về VSATTP. Đối với tuyến tỉnh, các tỉnh đã  
12  
thành lập Chi cục Vệ sinh an toàn thực phẩm trực thuộc Sở Y tế, nhưng do  
văn bản hướng dẫn của Trung ương không quy định thống nhất về biên chế  
của Chi cục, nên mỗi tỉnh có mô hình tổ chức và số lượng biên chế khác nhau,  
mặc dù khối lượng công việc giữa các tỉnh không khác nhau bao nhiêu. Cán  
bộ sang Chi cục VSATTP làm nhiệm vụ không được hưởng phí cấp ưu đãi  
ngành. Còn tuyến huyện, xã vẫn chưa có quy định về tổ chức bộ máy và cán  
bộ chuyên trách trong khi nội dung và khối lượng công tác trên lĩnh vực  
VSATTP là rất lớn, lại thực hiện chủ yếu tại cơ sở. Đây là một nghịch lý ai  
cũng thấy rõ, nhưng vẫn chưa có biện pháp nào để giải quyết phù hợp, triệt  
để. Về cơ sở làm việc và trang thiết bị kiểm nghiệm phục vụ mảng công tác  
này được xem là khâu thiết yếu nhất thì hiện vẫn còn nhiều bất cập, thậm chí  
tuyến tỉnh vẫn chưa có phòng xét nghiệm nào đủ chuẩn để công bố kết quả.  
Về kinh phí hoạt động, chỉ có từ kinh phí Chương trình mục tiêu  
VSATTP, nhìn chung còn rất thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu hoạt động.  
Theo báo cáo của Chính phủ, kinh phí được cấp cho công tác quản lý  
VSATTP giai đoạn 5 năm (2004-2008) là 329 tỷ đồng, tính bình quân đầu  
người của cả nước đạt 780 đồng/người/năm, chỉ bằng 1/19 mức đầu tư của  
Thái Lan và bằng 1/136 so với Mỹ.  
Nói như thế không có nghĩa là công tác đảm bảo chất lượng VSATTP  
chỉ toàn là khó khăn và hạn chế. Tuy còn rất nhiều khó khăn, hạn chế nhưng  
chúng ta đã thực hiện được rất nhiều các hoạt động, công tác nhằm bảo đảm  
chất lượng VSATTP trong khả năng có được. Nhìn chung, chúng ta đã triển  
khai thực hiện tốt những hoạt động cơ bản của công tác bảo đảm chất lượng  
VSATTP, đã đạt được những kết quả khá tốt.  
2.3.2. Thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm ở Việt Nam  
Việt Nam đang phải đối mặt với những vấn đề lớn về phát triển thị  
trường, hội nhập quốc tế và kiểm soát những hành vi không an toàn trong điều  
kiện kinh tế thị trường. GS Trịnh Quân Huấn, thứ trưởng bộ Y tế cho rằng,  
 
13  
việc hai luật: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và An toàn thực phẩm có hiệu  
lực từ 1/7/2011 đã nâng cao vai trò quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa  
phương đặc biệt là vai trò của UBND các cấp. Vai trò bảo vệ người dùng  
được quy định trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Thanh tra  
sửa đổi, Luật An toàn thực phẩm: Bộ Y tế được phép xây dựng các quy chuẩn  
kĩ thuật, đưa ra giới hạn trên và dưới của tất cả các loại chất có thể và không  
thể đưa vào chế biến thực phẩm.  
Trong những năm gần đây, nền kinh tế của nước ta chuyển sang cơ chế  
thị trường. Các loại thực phẩm sản xuất, chế biến trong nước và nước ngoài  
nhập vào Việt Nam ngày càng nhiều chủng loại. Việc sử dụng các chất phụ  
gia trong sản xuất trở nên phổ biến. Các loại phẩm màu, đường hóa học đang  
bị lạm dụng trong pha chế nước giải khát, sản xuất bánh kẹo, chế biến thức ăn  
sẵn như thịt quay, giò chả, ô mai… Nhiều loại thịt bán trên thị trường không  
qua kiểm duyệt thú y. Tình hình sản xuất thức ăn, đồ uống giả, không đảm  
bảo chất lượng và không theo đúng thành phần nguyên liệu cũng như quy  
trình công nghệ đã đăng ký với cơ quan quản lý. Nhãn hàng và quảng cáo  
không đúng sự thật vẫn xảy ra. Ngoài ra việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực  
vật bao gồm thuốc trừ sâu, diệt cỏ, hóa chất kích thích tăng trưởng và thuốc  
bảo quản không theo đúng quy định gây ô nhiễm nguồn nước cũng như tồn  
dư các hóa chất này trong thực phẩm. Việc bảo quản lương thực thực phẩm  
không đúng quy cách tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm mốc phát triển đã  
dẫn đến các vụ ngộ độc thực phẩm. Các bệnh do thực phẩm gây nên không  
chỉ là các bệnh cấp tính do ngộ độc thức ăn mà còn là các bệnh mãn tính do  
nhiễm và tích lũy các chất độc hại từ môi trường bên ngoài vào thực phẩm,  
gây rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể, trong đó có bệnh tim mạch và  
ung thư.  
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, năm 2017 cả nước xảy ra 139 vụ ngộ  
độc thực phẩm (NĐTP) với 3,869 người mắc, trong đó 24 người tử vong. So  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 56 trang yennguyen 16040 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá nhận thức của sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_nhan_thuc_cua_sinh_vien_truong_dai_hoc_no.pdf