Đồ án Thử nghiệm chế phẩm diệt sâu tơ Plutella xylostella từ dịch nuôi cấy vi khuẩn Serratia marcescens SH4

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
THỬ NGHIỆM CHẾ PHẨM DIỆT SÂU TƠ PLUTELLA  
XYLOSTELLA TỪ DỊCH NUÔI CẤY VI KHUẨN  
SERRATIA MARCESCENS SH4  
Ngành:  
CÔNG NGHỆ SINH HỌC  
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC  
Ngành học: Công Nghệ Sinh Học  
Giảng viên hướng dẫn : TS. NGUYỄN HOÀI HƯƠNG  
Sinh viên thực hiện : TRƯƠNG HOÀI NGUYÊN  
MSSV: 1311100520 Lớp: 13DSH03  
TP. Hồ Chí Minh, 2017  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
THỬ NGHIỆM CHẾ PHẨM DIỆT SÂU TƠ PLUTELLA  
XYLOSTELLA TỪ DỊCH NUÔI CẤY VI KHUẨN  
SERRATIA MARCESCENS SH4  
Ngành:  
CÔNG NGHỆ SINH HỌC  
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC  
Ngành học: Công Nghệ Sinh Học  
Giảng viên hướng dẫn : TS. NGUYỄN HOÀI HƯƠNG  
Sinh viên thực hiện : TRƯƠNG HOÀI NGUYÊN  
MSSV: 1311100520 Lớp: 13DSH03  
TP. Hồ Chí Minh, 2017  
Đồ án tốt nghiệp  
LỜI CAM ĐOAN  
Đồ án tốt nghiệp là công trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn  
khoa học của TS. Nguyễn Hoài Hương ( Giảng viên Khoa Công nghệ sinh học – Thực  
phẩm – Môi trường, trường Đại học Công nghệ TP.HCM).  
Các số liệu, kết quả nêu trong đồ án là trung thực và chưa từng được ai công bố  
trong bất kỳ công trình nào khác. Tôi xin chịu trách nhiệm về khóa luận tốt nghiệp của  
mình.  
TP.HCM, ngày 27 tháng 07 năm 2017  
Sinh viên thực hiện  
TRƯƠNG HOÀI NGUYÊN  
Đồ án tốt nghiệp  
LỜI CẢM ƠN  
Đầu tiên, con xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ba mẹ, người đã nuôi nấng dạy dỗ  
con trong 23 năm qua, người đã cùng con trải qua biết bao nhiêu khó khăn trong cuộc  
sống và luôn qua tâm con, chăm sóc cho con. Người luôn bên con những lúc khó khăn  
nhất. Em cũng xin cảm ơn anh chị trong gia đình đã định hướng và ủng hộ em trên con  
đường học tập.  
Em xin cảm ơn quý thầy cô khoa Công nghệ sinh học – Thực phẩm – Môi trường  
đã tận tâm dạy bảo và truyền đạt kiến thức cho em trong suốt 4 năm đại học.  
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô Nguyễn Hoài  
Hương, người luôn nhiệt tình với học trò, luôn định hướng và cung cấp những kiến thức  
bổ ích cho chúng em, người trực tiếp hướng dẫn em xuyên suốt quá trình thực hiện tốt  
khóa luận tốt nghiệp này.  
Em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Hai người đã cho em lời khuyên trong  
quá trình nuôi sâu tơ thí nghiệm và cung cấp cho em giống nấm thí nghiệm.  
Em cũng xin cảm ơn thầy Nguyễn Trung Dũng, cô Nguyễn Trần Thái Khanh,  
anh Trần Thiện Đức đã tạo điều kiện thuận lợi cho em thực hiện đồ án tại phòng thí  
nghiệm.  
Đồng thời, xin cảm ơn đến bạn Đỗ Thị Cẩm Lụa, Cao Thị Thanh Thúy đã hổ trợ  
mình thực hiện tốt khóa luận tốt nghiệp, cảm ơn tất cả các bạn cùng thực hiện đồ án  
trong thời gian mình thực hiện đồ án ở phòng thí nghiệm đã giúp đỡ mình trong suốt  
quá trình làm thí nghiệm. Cảm ơn em Hồ Trung Lộc lớp 14DSH, em Trần Nguyễn Tuấn  
Minh 14DSH, em Bùi Nhật Minh 14DSH đã phụ giúp anh trong quá trình thực hiện đồ  
án tốt nghiệp.  
Em xin chân thành cảm ơn !  
TP.HCM, ngày 27 tháng 07 năm 2017  
TRƯƠNG HOÀI NGUYÊN  
Đồ án tốt nghiệp  
MỤC LỤC  
1
 
Đồ án tốt nghiệp  
2
Đồ án tốt nghiệp  
3
Đồ án tốt nghiệp  
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Artemia nauplii : A.nauplii  
Brassica integrifolia : B. integrifolia  
Serratia mascescens : S.mascescens  
Plutella xylostella : P.xylostella  
Pepton glycerol : PG  
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam.  
BNNVPTNT : Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.  
4
 
Đồ án tốt nghiệp  
DANH MỤC HÌNH ẢNH  
5
 
Đồ án tốt nghiệp  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Theo thống kê của tổ chức Lương – Nông thế giới cho thấy: các loài cây trồng  
hiện nay phải chống đỡ với 100.000 loài sâu hại khác nhau, 10.000 loài nấm, 200 loài  
vi khuẩn, 600 loài tuyến trùng và 600 loài virus gây bệnh. Đây quả là một lực lượng  
hùng hậu tấn công cây trồng, gây tổn thất lớn cho mùa màng. Để giải quyết vấn đề  
trên, con người đã tích cực tìm kiếm các biện pháp phòng chống các tác nhân gây hại.  
Từ đó đã ra đời nền công nghiệp thuốc trừ sâu hóa học, diệt các mầm bệnh cho cây  
trồng. Tuy nhiên, người nông dân đã dùng thuốc hóa học với liều lượng quá mức cho  
phép, vô tình tạo cho côn trùng khả năng kháng thuốc, làm cho tình hình sâu hại trở  
nên nghiêm trọng hơn, diễn biến phức tạp hơn. Trong đó, sâu tơ Plutella xylostella là  
loài sâu đa thực và gây hại nặng đến màu màng, chúng gây hại trên hầu hết các loại  
rau cải, đặc biệt có nhiều trên cây cải ngọt . Chúng có khả năng kháng thuốc hóa học  
nếu người dùng lạm dụng quá nhiều thuốc trừ sâu hóa học không đúng cách. Vì vậy,  
xu hướng sử dụng các biện pháp phòng trừ sinh học đã và đang trở nên rất hữu ích vì  
tiết kiệm chi phí, có tác dụng phòng trừ lâu dài, an toàn cho sức khỏe con người, đồng  
thời không gây ô nhiễm môi trường.  
Những năm gần đây, việc trích ly được hợp chất prodigiosin từ vi khuẩn  
Serratia marcescens có khả năng diệt sâu đã mở ra một triển vọng mới trong việc tạo  
chế phẩm trừ sâu sinh học là hợp chất thứ cấp của vi sinh vật. Tuy nhiên, tại Việt  
Nam hiện nay chỉ có một vài đề tài nghiên cứu về hợp chất thứ cấp này mà chưa có  
nghiên cứu nào về ứng dụng tạo phẩm diệt sâu từ hợp chất prodigiosin hoặc đã nghiên  
cứu nhưng vẫn chưa hoàn thiện được sản phẩm thuốc trừ sâu sinh học. Dựa trên cơ  
sở đó mà người thực hiện đề tài đã chọn hướng cho Đồ ÁN tốt nghiệp là: “Thử  
nghiệm chế phẩm diệt sâu tơ Plutella xylostella từ dịch nuôi cấy vi khuẩn Serratia  
marcescens SH4”  
2. Mục đích nghiên cứu  
7
Đồ án tốt nghiệp  
Sản xuất chế phẩm sinh học diệt sâu chứa prodigiosin từ dịch nuôi cấy vi khuẩn  
Serratia marcescens SH4.  
3. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Sản xuất chế phẩm diệt sâu từ dịch nuôi cấy Serratia marcescens SH4  
Thử nghiệm tính an toàn sinh học của chế phẩm lên cây cải ngọt để đánh giá an toàn  
sinh học của chế phẩm.  
Thử nghiệm độc tính của chế phẩm lên ấu trùng Artemia nauplii và thủy sinh đại diện  
là cá bảy màu  
4. Kết quả cần đạt được  
Khảo sát được ảnh hưởng của việc xử lý acid lên enzyme ngoại bào của vi  
khuẩn S.marcesscens trong dịch nuôi cấy.  
Khảo sát được hoạt tính của dịch nuôi cấy sau xử lý: kháng nấm, kháng sâu  
tơ.  
Khảo sát được độc học của vi khuẩn tác động lên ấu trùng A.nauplii.  
Khẳng định tính an toàn của chế phẩm trong việc ứng dụng chế phẩm ngoài  
thực tế.  
8
Đồ án tốt nghiệp  
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
1.1 Giới thiệu về thuốc trừ sâu sinh học  
1.1.1 Khái niệm thuốc trừ sâu sinh học  
Thuốc trừ sâu sinh học bao gồm các loại chế phẩm có nguồn gốc sinh học.  
Thành phần giết sâu có trong thuốc sinh học có thể là các vi sinh vật (nấm, vi khuẩn,  
virus) và các hợp chất thứ cấp do vi sinh vật tiết ra ( thường là các chất kháng sinh),  
các chất có trong cây cỏ (chất độc hoặc dầu thực vật).  
1.1.2 Những sản phẩm thuốc trừ sâu sinh học trên thị trường hiện nay  
1. NPV là chế phẩm trừ sâu hoạt lực cao, gồm 2 loại V- Ha và V- S1. Thuốc  
chuyên dùng để diệt trừ sâu xanh, sâu khoang, sâu xanh đốm trắng, sâu tơ trên  
các loại cây rau màu, cây công nghiệp, cây ăn quả với hiệu quả rất cao. NPV  
có nồng độ đặc hơn so với các loại thuốc khác, sử dụng tương đối dễ dàng: chỉ  
cần hoà thuốc vào bình và phun bình thường với liều lượng 1,0- 1,2 kg/ha.  
2. Chế phẩm Bt: Gồm 2 loại: dạng sữa 4.000 IU/ml và dạng bột Biotox 16.000  
IU/mg chuyên dùng trừ sâu tơ, sâu xanh hại rau, sâu kéo ra lá, các loại sâu  
thuộc họ Leptidopera.  
3. Chế phẩm M&B có 2 loại: Metarhizium và Beauveria. Metarhizium  
anisopliae 1,6- 2,5 x 109Bt/gr bọ hại dừa. Thử nghiệm tại Đà Nẵng, Phú Yên  
đạt hiệu quả tới 86,5%. Dạng nấm xanh được dùng để trừ rầy, bọ xít trên lúa  
và cây ăn quả đạt 70- 90%, dạng nấm trắng đạt 50- 85%. Chế phẩm Beauveria  
chuyên dùng để trị sâu róm thông và sâu đo nâu hại bồ đề với hiệu quả tiêu  
diệt sâu tới gần 87%. TS. Nguyễn Văn Vấn cho biết: “Loại thuốc này có thể  
sử dụng để tiêu diệt sâu róm hại thông đang xảy ra tại Nghệ An hiện nay”.  
4. Chế phẩm tuyến trùng EPN Biostar 15- 20 x 106 IJs trừ sâu xám hại thuốc lá,  
đặc biệt là mía đạt hiệu quả khá cao. Hiện những sản phẩm đầu tiên đã được  
đưa vào ứng dụng để diệt trừ sâu xám hại thuốc lá tại Ba Vì (Hà Tây), bọ hung  
hại mía tại Thạch Thành (Thanh Hoá).  
9
       
Đồ án tốt nghiệp  
5. Chế phẩm hoá sinh Momosertatin (MM) 2IU/lít trừ các loại sâu hại rau màu  
đạt 45- 50%.  
6. Chế phẩm Ditacin 8% và Ketomium 1,5 x 106 Cfu/g, trừ bệnh hại trên cây ăn  
quả, cây lâu năm. (Nguyễn Văn Tấn, 2004)  
1.1.3 Những ưu điểm và hạn chế của thuốc trừ sâu sinh học  
Ưu điểm  
Không độc với người và các sinh vật có ích nên có thể bảo vệ được sự cân  
bằng sinh học trong tự nhiên (cân bằng giữa thiên địch và sâu hại), ít gây tình  
trạng bùng phát dịch côn trùng.  
Thời gian phân hủy trong tự nhiên nhanh chóng, ít để lại dư lượng độc trên  
nông sản và có thời gian cách ly ngắn nên rất thích hợp sử dụng cho các nông  
sản yêu cầu có độ sạch cao như các loại rau, chè…  
Ngoài ra, các nguyên liệu để làm thuốc trừ sâu sinh học thường có sẵn và rất  
phổ biến ở mọi nơi, mọi lúc như ớt, tỏi, hành, rừng... Chi phí sản xuất khi tự  
làm thuốc trừ sâu sinh học thấp hơn so với thuốc trừ sâu hóa học, do vậy sẽ  
tiết kiệm hơn cho người dân mà vẫn mang lại hiệu quả cao.  
Hạn chế  
Các thuốc vi sinh thường thể hiện hiệu quả diệt sâu tương đối chậm hơn so với  
thuốc hóa học.  
Sự bảo quản và khả năng hỗn hợp của các thuốc sinh học thường yêu cầu điều  
kiện cũng chặt chẽ hơn.  
1.1.4 Giới thiệu về thuốc trừ sâu sinh học Abamectin  
Abamectin là thuốc trừ sâu sinh học thế hệ mới, là hỗn hợp của Avermectin  
B1a (80%) và Avermectin B1b (20%) được phân lập từ quá trình lên men của vi  
khuẩn Streptomycin avermitilis được sử dụng phổ biến để phòng trừ sâu hại trên nhiều  
loại cây trồng đặc biệt là rau, hoa, chè, lúa.  
Hoạt chất Abamectin được 97 công ty đăng ký với 534 loại thuốc thương  
phẩm, gồm 294 thuốc thương phẩm đơn chất Abamectin (Abatin 1.8 EC; Alfatin 1.8  
EC; Binhtox 1.8 EC; Reasgant 1.8EC; Tervigo 020SC…) và 240 thuốc thương phẩm  
10  
   
Đồ án tốt nghiệp  
dạng hỗn hợp với các hoạt chất khác như Emamectin benzoate (Sieufatoc 36EC),  
Azadirachtin (Goldmectin 36EC), Alpha – cypermethrin (Shepatin 18EC),  
Acetamiprid  
(Acelant  
4EC)  
dầu  
khoáng  
(Đầu  
trâu  
Bihopper  
24.5EC), Bacillus thuringiensis var.kurstaki (Kuraba WP …)  
1.1.4.1 Ưu điểm  
- Hoạt chất Abamectin có hiệu lực diệt sâu nhanh, mạnh, kéo dài và ít chịu tác  
động của điều kiện thời tiết.  
- Thuốc ít hình thành tính kháng của dịch hại, ít gây độc cho người sử dụng.  
- Phổ tác động rộng, trừ được nhiều loài sâu miệng nhai, miệng chích hút thuộc  
bộ cánh vảy, bộ hai cánh, bộ cánh đều như ruồi đục lá, sâu tơ, sâu xanh, bọ trĩ,  
nhện ở liều lượng 5,4 -25gai/ha trên nhiều loại cây trồng như rau họ thập tự,  
họ cà, cây ăn quả (cam, quýt, chè…), lúa.  
1.1.4.2 Nhược điểm  
- Các loại thuốc hoạt chất Abamectin thuộc nhóm độc II, LD50 qua miệng 300  
mg/kg, LD50 qua da > 1800 mg/kg, dễ kích thích da và mắt. Thời gian cách  
ly ngắn nhất là 3 ngày, phổ biến là 7 ngày.  
- Hoạt chất Abamectin có chỉ số tác động môi trường (EIQ 36,68) cao hơn so  
với nhiều hoạt chất khác, kể cả một số thuốc thuộc nhóm lân hữu cơ như  
Acephate (EIQ 24,88), Chlopyriphos( EIQ 26,85).  
- Thuốc thuộc nhóm độc II, thời gian cách ly tương đối dài (7 ngày), mức độ  
ảnh hưởng của thuốc đối với người phun thuốc, người tiêu dùng không lớn  
nhưng độc đối với cá và ong.  
Vì vậy, mặc dù đã được đăng ký phòng trừ sâu hại trên cây rau nhưng Abamectin  
không có trong Danh mục các hoạt chất thuốc BVTV khuyến cáo lựa chọn để sử  
dụng trên rau an toàn khi cần thiết (Ban hành kèm theo văn bản số 580/BVTV-  
QLT ngày 17/4/2014 của Cục Bảo vệ thực vật).  
11  
   
Đồ án tốt nghiệp  
1.1.4.3 Cơ chế tác động  
Thuốc ngăn chặn chất truyền luồng thần kinh gamma aminobutyric acid (GABA)  
tại chỗ nối cơ thần kinh của côn trùng. Thuốc làm côn trùng ngừng ăn hoặc ngừng đẻ  
trứng ngay, chúng có thể chết sau vài ngày.  
1.2 Giới thiệu vi khuẩn Serratia marcescens  
1.2.1 Lịch sử phát hiện  
Lịch sử của sắc tố màu đỏ trên thực phẩm được nhìn thấy đầu tiên ở thế kỷ thứ  
6 trước công nguyên, khi Pythagoras báo cáo về “máu” đôi khi xuất hiện trên bánh  
mì. Sau đó, vào năm 332 trước công nguyên, những người lính trong quân đội  
Macedonian của Alexander nhận thấy rằng bánh mì của họ đôi khi dường như có  
“máu” trên đó. Và họ cho rằng hiện tượng kỳ lạ này chính là bằng chứng cho thấy  
máu sẽ sớm chảy trong thành phố Tyre và Alexander sẽ giành chiến thắng.  
Năm 1800, Christian phát hiện gần 100 tài liệu trong lịch sử nói đến sự xuất hiện kỳ  
diệu của “máu” trên thực phẩm. Nhà sử học và vi sinh vật học Gaughran (1969), đã  
phát hiện hơn 35 báo cáo lịch sử về “máu” từ bánh Thánh, trong đó, sự cố như vậy  
được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1169 tại Đan Mạch.  
Trong bóng tối và sự ẩm ướt của nhà thờ thời Trung Cổ, miếng bánh Thánh được sử  
dụng trong Thánh lễ thường xuyên bị nhiễm Serratia marcescens. Tuy nhiên, điều  
này lại khiến nhiều người nghĩ rằng đó là máu của Chúa Christ và cho đó là một phép  
lạ (Gillen và Gibbs, 2011).  
Bizio, một dược sĩ ở Padua (Italya), là người đầu tiên phát hiện và đặt tên  
Serratia marcescens cho nguyên nhân gây nên sự đổi màu kỳ lạ của bột ngô sang  
màu đỏ máu. Năm 1817, Bizio đã làm ẩm một miếng bánh mì và polenta sau đó để ở  
nơi khô ráo. Sau 24 giờ, cả bánh mì và polenta đều được bao phủ bởi một lớp vi sinh  
vật màu đỏ. Năm 1819, Bizio đã đặt tên cho vi sinh vật màu đỏ này là Serratia, theo  
tên nhà vật lý nổi tiếng người Italya đã phát minh ra tàu hơi nước là Serrati, tên loài  
marcescens có nguồn gốc từ tiếng Latin, có nghĩa là phân hủy vì vi sinh vật này phân  
hủy rất nhanh bánh mì và polenta.  
12  
     
Đồ án tốt nghiệp  
Ban đầu Bizio mô tả Serratia marcescens như một loại nấm, do ông nhìn thấy những  
đốm đỏ dưới kính hiển vi. Thời gian sau đó, vào những năm 1850, các nhà khoa học  
đã phân loại lại Serratia marcescens là vi khuẩn.  
1.2.2 Phân loại  
Chi Serratia thuộc họ Enterobacteriaceae, là một nhóm vi khuẩn có liên quan  
với nhau về hình thái và trình tự DNA. Trong đó, loài điển hình của chi Serratia là  
Serratia marcescens.  
Theo Bizio (1823), Serriatia marcescens được phân loại như sau:  
Giới: Bacteria  
Ngành: Proteobacteria  
Lớp: Gramma proteobacteria  
Bộ: Enterobacteriales  
Họ: Enterobacteriaceae  
Chi: Serratia  
Loài: Serratia marcescens  
1.2.3 Đặc điểm của Serratia marcescens  
Serratia marcescens là trực khuẩn Gram âm, kỵ khí tùy nghi. Serratia  
marcescens có hình que, đường kính khoảng 0,5 – 0,8 μm và chiều dài khoảng 0,9 –  
2,0 μm. Serratia marcescens phát triển ở nhiều nhiệt độ khác nhau, từ 5 – 40oC và có  
thể phát triển ở pH trong khoảng 5 – 9 (David, 2012).  
13  
   
Đồ án tốt nghiệp  
Hình 1.1 Vi khuẩn Serratia marcescens quan sát được  
dưới kính hiển vi (Gillen và Gibbs, 2011)  
Hình 1.2 Hình dáng và màu sắc khuẩn lạc của vi khuẩn  
Serratia marcescens  
1.2.4 Đặc điểm sinh lí  
Khuẩn lạc của Serratia marcescens trên môi trường nutrient agar được mô tả  
là khuẩn lạc tròn, lồi và các khuẩn lạc này có màu trắng, hồng hay đỏ, đó cũng chính  
là sắc tố thường thấy trong các khuẩn lạc. Các sắc tố của Serratia marcescens thường  
bị mất đi trên các khuẩn lạc cũ (David, 2012).  
Vi khuẩn Serratia marcescens có thể bám dính với nhau trên môi trường thạch,  
tạo thành nhóm ở nồng độ thấp (0,5 – 0,8 %); các cụm tế bào này có chiều dài từ 5 –  
30 μl. Serratia marcescens cũng có thể tạo thành một màng sinh học.  
14  
 
Đồ án tốt nghiệp  
1.1.3.1 Đặc điểm sinh hóa  
Serratia marcescens có thể phát triển trong môi trường hiếu khí và kỵ khí. Chủ  
yếu Serratia marcescens sử dụng quá trình lên men để lấy năng lượng và nhờ có các  
enzyme như superoxide dismutase, calatas, peroxides,…bảo vệ chúng khỏi các phản  
ứng oxy hóa. Serratia marcescens có thể phân biệt với các vi khuẩn khác trong họ  
Enterobacteriaceae bởi ba điểm đặc biệt là enzyme DNAase, lipase và gelatinase (Giri  
và cộng sự, 2004).  
Ngoài ra, các đặc điểm khác để xác định Serratia marcescens là khả năng di  
động và sinh một số enzyme ngoại bào như nuclease, protease và haemolysin (Hejazi  
và Falkiner, 1997). Trong đó, thủy phân casein là một đặc điểm chung của Serratia  
marcescens. Casein là một protein kết tủa trong sữa và là cơ sở cho sản xuất phomat  
và một số chất dẻo. Serratia marcescens sử dụng enzyme protease ngoại bào để phá  
vỡ liên kết peptide (CO-NH) trong casein.  
Bảng 1.1 Một số đặc điểm sinh hóa của Serratia marcescens  
STT  
1
Đặc điểm sinh hóa  
Di động  
Kết quả  
+
-
2
Indole  
3
Methyl Red  
Voges Proskauer  
Citrate  
-
4
+
+
+
+
-
5
6
Dnase  
7
Catalase  
8
Oxidase  
9
Urease  
-
10  
11  
Gelatinase  
Chitinase  
+
+
15  
   
Đồ án tốt nghiệp  
12  
Triple sugar iron  
Môi trường chuyển sang  
không sinh khí và không  
sinh H2S  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
19  
20  
21  
22  
23  
Hydrogen sulphide  
Lysine decarboxylase  
Ornithine decarboxylase  
Lên men glucose  
-
+
+
+
+
+
-
Lên men sucrose  
Lên men sorbitol  
Lên men fructose  
Lên men xylose  
-
Lên men rhaminose  
Lên men lactose  
-
-
Lên men arabinose  
-
1.1.3.2 Đặc điểm phân bố  
Trong nước và đất: đã có 150 chủng Serratia được phân lập trong nước sông  
và Serratia marcescens chiếm 75%.  
Trong côn trùng: sự phân bố của các chủng Serratia phân lập từ các loài côn  
trùng (Grimont và cộng sự, 1979) cho thấy Serratia marcescens chiếm ưu thế.  
Serratia marcescens được coi là một trong những tác nhân gây bênh tiềm năng đối  
với côn trùng, chúng làm côn trùng chết bằng cách gây ra sự nhiễm trùng huyết sau  
khi xâm nhập (Francine và Patrick, 2006).  
Hơn nữa, Serratia marcescens cũng được tìm thấy nhiều trong thực phẩm,  
nhất là trong tinh bột biến tính, vì đây là môi trường rất thuận lợi cho sự tăng trưởng  
của chúng (Singlton và Sainsbury, 2001).  
Gần đây, người ta còn phát hiện sự có mặt của Serratia marcescens trong các  
loài Steinernema và Heterorhabditis (Gouge và Snyder, 2006). Và trong báo cáo mới  
16  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 111 trang yennguyen 18080 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đồ án Thử nghiệm chế phẩm diệt sâu tơ Plutella xylostella từ dịch nuôi cấy vi khuẩn Serratia marcescens SH4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_an_thu_nghiem_che_pham_diet_sau_to_plutella_xylostella_tu.pdf