Khóa luận Đánh giá hiện trạng môi trường khu tái định cư thủy điện Lai Châu, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
VŨ ĐÌNH LONG  
Tên đề tài:  
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG KHU TÁI ĐỊNH CƯ  
THỦY ĐIỆN LAI CHÂU, HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU”  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Khoa học Môi trường  
: Môi Trường  
Khóa  
: 2015 – 2019  
Thái Nguyên, năm 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
VŨ ĐÌNH LONG  
Tên đề tài:  
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG KHU TÁI ĐỊNH CƯ  
THỦY ĐIỆN LAI CHÂU, HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU”  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Khoa học Môi trường  
: K47 - KHMT - N01  
: Môi Trường  
Khoa  
Khóa  
: 2015 – 2019  
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Thanh Hải  
Thái Nguyên, năm 2019  
i
LỜI CẢM ƠN  
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối trong chương trình học tập và  
thực hành của sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng và trung học  
chuyên nghiệp. Trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Đánh giá hiện  
trạng môi trường khu tái định cư thủy điện Lai Châu, huyện Mường Tè,  
tỉnh Lai Châu”, em đã được vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, đi điều tra,  
phỏng vấn.  
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám Hiệu nhà trường  
và Ban chủ nhiệm Khoa Môi Trường trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên  
đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực hiện đề tài.  
Em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các quý thầy cô, các bạn ở trường  
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc  
tới thầy giáo: TS. Nguyễn Thanh Hải đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình  
thực hiện đề tài này.  
Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ, công nhân viên của Viện Kỹ Thuật Và  
Công Nghệ Môi Trường đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực  
tập.  
Nhân dịp cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình,  
bạn bè đã quan tâm, động viên em trong suốt vừa qua.  
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù rất cố gắng nhưng do trình độ còn  
hạn chế nên đề tài em không thể tránh khỏi những thiếu xót. Rất mong được  
sự góp ý của thầy cô, bạn bè để đề tài em được hoàn thiện hơn.  
Em xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019  
Sinh viên  
Vũ Đình Long  
   
ii  
MỤC LỤC  
iii  
vi  
DANH MỤC CÁC HÌNH  
 
vii  
v
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt Viết đầy đủ  
BOD  
COD  
Nhu cầu oxy sinh hóa  
Nhu cầu oxy hóa học  
Food and Agriculture Organization of the United  
Nations – Tổ chức nông lương thế giới  
Nghị định – Chính phủ  
Quyết định  
FAO  
NĐ-CP  
QĐ  
TĐC  
Tái định cư  
TSS  
Tổng chất rắn lơ lửng  
Thông tư  
TT  
TTLT  
TVPB  
QCVN  
UBND  
Thông tư liên tịch  
Tư vấn phản biện  
Quy chuẩn Việt Nam  
Ủy ban nhân dân  
 
1
PHẦN I  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Việt Nam là một nước đang trên đà phát triển trong quá trình hội nhập  
đã đạt được những thành tựu to lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.  
Trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa và sự mở cửa hòa nhập với  
các nước trên Thế giới đã làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt của đất nước.  
song song với thành tựu này, chúng ta phải đối mặt với những thách thức liên  
quan tới vấn đề môi trường.  
Hiện nay vấn đề môi trường đã và đang được Nhà nước, xã hội và cộng  
đồng quan tâm. Ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và  
sinh hoạt của con người gây ra đang là một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc  
trong dư luận xã hội cả nước hiện nay. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe  
doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của  
các thế hệ hiện tại và tương lai. Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là  
hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng  
nghề và hoạt động sinh hoạt tại các đô thị lớn. Đặc biệt ô nhiễm môi trường  
nước, môi trường không khí và môi trường đất là vấn đề bức xúc nhất hiện  
nay cần được ưu tiên giải quyết hàng đầu.  
Nước, không khí và đất là ba nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối  
với con người và sinh vật sống. Nếu không có ba nguồn tài nguyên này thì trên  
Trái đất không thể tồn tại được sự sống. Trung bình mỗi ngày con người cần từ  
3 đến 10 lít nước để đáp ứng cho nhu cầu ăn uống, sinh hoạt. Lượng không khí  
cần thiết cho nhu cầu con người được ghi nhận như sau: Nghỉ ngơi: 10600  
lít/ngày hay 26, 0 lbs/ngày; lao động nhẹ: 40400 lít/ngày hay 98,5 lb /ngày; lao  
động nặng: 6200 lít/ngày hay 152,0 lbs/ngày. Như vậy, nếu hiện nay dân số  
toàn cầu là 4 tỷ người thì mỗi ngày sẽ phải cần 360 tỷ lbs không khí.  
   
2
Trong những năm qua, thủy điện được xác định là một trong những  
nguồn năng lượng được ưu tiên đầu tư trong kế hoạch phát triển điện năng, là  
một cấu phần quan trọng của ngành điện đảm bảo cung ứng điện cho quá  
trình hội nhập kinh tế quốc tế... Bên cạnh đó, các hồ chứa của công trình thủy  
điện với tổng dung tích khoảng 56 tỷ m3, chiếm 86% tổng dung tích hồ chứa  
trên cả nước đã mang lại hiệu ích kinh tế tổng hợp, chống lũ, chống hạn, cung  
cấp nước tưới cho nông nghiệp cũng như sinh hoạt của nhân dân, đóng góp  
nguồn ngân sách to lớn cho Nhà nước và địa phương, giúp làm thay đổi bộ  
mặt hạ tầng kỹ thuật, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương  
Khu TĐC thủy điện Lai Châu, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đòi hỏi  
phải xây dựng các hồ chứa nước, hình thành đập thủy điện, có tác động nhiều  
đến sản xuất và ảnh hưởng đến đời sống của người dân khu vực. Nhiều vùng  
trong khu vực lòng hồ, người dân phải di dời, thay đổi nơi cư trú và tái định  
cư (TĐC) trên nhiều địa bàn mới, thiếu đất canh tác, thiếu nguồn nước để sản  
xuất và sinh hoạt dẫn đến những thay đổi lớn về tập quán canh tác, nguồn sinh  
kế và lối sống. Theo thống kê chưa đầy đủ thì riêng các công trình thủy điện  
trong nước đã có hơn 150 ngàn người dân bị ảnh hưởng trước đây và gần 400  
ngàn người bị ảnh hưởng trực tiếp hiện nay.  
Nhằm góp phần cải thiện đời sống, nâng cao nhận thức cộng đồng về  
bảo vệ môi trường cho người dân khu TĐC thì việc đề xuất các giải pháp cải  
thiện điều kiện vệ sinh môi trường phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của  
người dân là điều cần thiết phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội và môi  
trường bền vững.  
Xuất phát từ vấn đề đó, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường,  
ban chủ nhiệm khoa Môi trường - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên,  
dưới sự hưỡng dẫn trực tiếp của thầy giáo : TS. Nguyễn Thanh Hải, em tiến  
hành thực hiện đề đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường khu tái định cư  
3
thủy điện Lai Châu, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu” được đưa ra nghiên  
cứu là hoàn toàn phù hợp, cấp thiết, phục vụ công tác quản lý của Nhà nước.  
1.2. Mục tiêu của đề tài  
- Đánh giá hiện trạng môi trường khu tái định cư thủy điện Lai Châu,  
huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.  
- Đề xuất một số biện pháp nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường trên địa bàn.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học  
- Vận dụng và phát huy những kiến thức đã học trong thực tiễn.  
- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm phục vụ cho công  
tác sau này.  
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn  
+ Kết quả của chuyên đề sẽ góp phần nâng cao sự quan tâm của người  
dân về việc bảo vệ môi trường.  
+ Làm căn cứ để cơ quan chức năng tăng cường công tác tuyên truyền  
giáo dục nhận thức của người dân về vấn đề môi trường.  
+ Đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường khu tái định cư thủy điện Lai  
Châu, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu nói chung.  
       
4
PHẦN II  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở lý luận  
2.1.1. Khái quát chung về nước ngầm  
Nước ngầm tiếp xúc trực tiếp và hoàn toàn với đất và nham thạch: nước  
ngầm có thể là các màng mỏng bao phủ các phần tử nhỏ bé của đất, nham  
thạch, là chất lỏng được chứa đầy trong các ống mao dẫn nhỏ bé giữa các hạt  
đất, đá, nước ngầm có thể tạo ra các tia nước nhỏ trong các tầng ngấm nước,  
thậm chí nó có thể tạo ra khối nước ngầm dày trong các tầng đất, nham thạch.  
Nước còn đưa vào cơ thể con người nhiều nguyên tố cần thiết cho sự  
sống như iốt (I), sắt (Fe), Flo(F), kẽm (Zn), đồng (Cu)…Tuy nhiên nước bẩn  
cũng có thể đưa vào cơ thể nhiều loại vi khuẩn gây bệnh. Nước bẩn chứa  
nhiều các chất độc hại như chì (Pb), thủy ngân (Hg), thạch tín (Asen), thuốc  
trừ sâu, các hóa chất gây ung thư khác. Do đó, nước dùng cho cuộc sống phải  
đủ về số lượng và đảm bảo an toàn chất lượng. Con người cần phải biết xử lý  
các nguồn cung cấp nước để đảm bảo an toàn về chất lượng cho mọi nhu cầu  
sinh hoạt và sản xuất công, nông nghiệp cho chính mình, đồng thời giải quyết  
hậu quả của chính mình (Nguyễn Phú Duyên)[7].  
* Khái niệm nước ngầm  
Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá  
trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới  
bề mặt Trái Đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người.  
Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành nước ngầm tầng  
mặt và nước ngầm tầng sâu. Ðặc điểm chung của nước ngầm là khả năng di  
chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm theo địa hình.  
Nước ngầm tầng mặt thường không có lớp ngăn cách với địa hình bề mặt. Do  
vậy, thành phần và mực nước biến đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái của  
     
5
nước mặt. Loại nước ngầm tầng mặt rất dễ bị ô nhiễm. Nước ngầm tầng sâu  
thường nằm trong lớp đất đá xốp được ngăn cách bên trên và phía dưới bởi  
các lớp không thấm nước (Nguyễn Thanh Hải)[7].  
* Ý nghĩa của nước ngầm  
Nước ngầm phục vụ cho sinh hoạt như: ăn, uống, tắm giặt, sưởi ấm….  
Nước ngầm phục vụ cho nông nghiệp: tưới hoa màu, cây ăn quả, các  
cây có giá trị kinh tế cao.  
Con người có thể sử dụng nguồn nước ngầm để mở rộng các hoạt động  
sản xuất công nghiệp.  
Nước ngầm phục vụ cho sinh hoạt sẽ giảm hẳn các bệnh do nguồn nước  
mặt bị ô nhiễm như: đường ruột, bệnh phụ khoa, bệnh ngoài da…  
Sử dụng nước ngầm giúp con người được giải phóng sức lao động do  
phải lấy nước xa nhà, tiết kiệm chi phí “đổi nước”, tiết kiệm thời gian nâng  
cao hiệu quả sản xuất.  
Nước ngầm có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống tự nhiên và xã  
hội con người. Nước ngầm thực chất là một loại khoáng sản lỏng, cung cấp cho  
các ngành công nghiệp, cho sinh hoạt dân dụng, phục vụ cho nông nghiệp.  
Nước ngầm có thể chứa một lượng muối có lợi cho sức khoẻ. Khi nước  
ngầm có chứa các nguyên tố hoá học với hàm lượng thích hợp thì nó trở thành  
một loại nước khoáng chữa bệnh hoặc giải khát có lợi cho sức khoẻ con người  
(Hà Đình Nghiêm)[9].  
* Khái niệm ô nhiễm môi trường nước ngầm  
Ô nhiễm nước ngầm là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật  
lý, hoá học, sinh học của nước trên giới hạn cho phép, với sự xuất hiện các  
chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại cho hoạt động  
sống bình thường của con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật  
6
trong nước. Ô nhiễm nước ngầm có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng môi  
trường sống của con người (Lương Văn Hinh)[8].  
* Nguồn gốc gây ô nhiễm nước ngầm  
Nguồn gốc gây ô nhiễm nước có thể là do tự nhiên hay nhân tạo.  
- Các tác nhân tự nhiên  
+ Do nhiễm mặn, nhiễm phèn, hàm lượng Fe, Mn và một số kim loại khác.  
+ Do đặc điểm các thành tạo địa chất vùng ven biển thường chứa nhiều  
sắt, mangan nên ở những điều kiện xác định mangan và sắt được ngâm chiết  
đáng kể từ đất và nước ngầm.  
+ Do nhiều vùng nước ngầm thường bị nhiễm vôi, gây ảnh hưởng đến  
việc sử dụng nước, thậm chí ảnh hưởng đến sức khỏe.  
+ Bất cứ một hiện tượng nào làm giảm chất lượng nước đều bị coi là  
nguyên nhân gây ô nhiễm nước. Ô nhiễm nước do mưa, tuyết tan, lũ lụt, gió  
bão… hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của  
chúng. Cây cối, sinh vật chết đi, chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu  
cơ. Một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau đó ăn sâu vào nước ngầm, gây ô  
nhiễm, hoặc theo dòng nước ngầm hòa vào dòng lớn, do các yếu tố tự nhiên  
(núi lửa, xói mòn, bão, lụt,...) có thể rất nghiêm trọng (Lê Thị Hồng Vân)[15].  
- Các tác nhân nhân tạo  
+ Do nồng độ kim loại cao, hàm lượng NO3-, NH4+, PO43-, tiêu chuẩn  
cho phép, ô nhiễm bởi vi sinh vật.  
+ Các hoạt động khai thác nước ngầm với cường độ lớn, mực nước  
ngày càng hạ thấp, từ đó dẫn đến biến đổi chất lượng nước theo hai xu hướng:  
xâm nhập mặn và bổ cập nước nhạt vào tầng chứa nước.  
+ Do khai thác khoáng sản ảnh hưởng đến mực nước ngầm và khi đó  
chảy tràn vào các khu khai thác có chứa hàm lượng chất rắn lơ lửng và các  
kim loại ảnh hưởng gây ra ô nhiễm nguồn nước ngầm.  
7
+ Do hoạt động các chất thải và đưa chất thải vào môi trường, nước bị  
ô nhiễm bởi thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học. Chúng sẽ lan truyền  
và tích lũy trong đất, nước và các sản phẩm nông nghiệp dưới dạng dư lượng  
phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.  
+ Nước bị ô nhiễm do kim loại nặng. Nguyên nhân chủ yếu gây ô  
nhiễm kim loại nặng là quá trình đổ vào môi trường nước chất thải công  
nghiệp và nước thải độc hại không xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu. Ô  
nhiễm nước bởi kim loại nặng có tác động tiêu cực tới môi trường sống của  
sinh vật và con người bởi kim loại nặng có Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn,  
Mn, v.v... Nước mặt bị ô nhiễm sẽ lan truyền các chất ô nhiễm vào nước  
ngầm, vào đất và các thành phần môi trường liên quan khác (Đỗ Thị Lan)[8].  
2.1.2. Khái quát chung về nước mặt  
* Khái niệm nước mặt  
Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập  
nước. Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất  
đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất. Nước mặt có thể được  
chứa vào các bể chứa tự nhiên ( sông, ao, hồ..) hoặc nhân tạo ( các đập nước)  
được đặc trưng bằng bề mặt trao đổi nước – khí quyển, hầu như bất động có  
chiều sâu đáng kể và thời gian dừng lại khá lớn. Việc dự trữ nước mặt tại các  
bể chứa, đập để phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau trong đó có xử lý  
nước sinh hoạt (Lương Văn Hinh)[8].  
* Ý nghĩa của nước mặt  
Nước cung cấp vào hoạt động sản xuất đảm bảo an ninh lương thục cho  
xã hội: Nước tưới tiêu, nước làm ruộng…  
Nước tạo ra năng lượng điện để cung cấp cho hoạt động nền kinh tế  
thông qua việc sử dụng động lực hay năng lượng dòng chảy của các con sông  
qàm quay các tuốc bin nước và máy phát điện, đây là nguồn năng lượng sạch  
 
8
và chiếm 20% lượng điện của Thế giới, đồng thời hạn chế được giá thành  
nhiên liệu vầ chi phí nhận công (Vệ sinh môi trường Việt Nam, 2006)[18].  
* Nguồn gốc gây ô nhiễm nước mặt  
Nguồn gốc gây ô nhiễm nước có thể là do tự nhiên hay nhân tạo.  
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Là do mưa, tuyết tan, lũ lụt, gió bão…  
hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng.  
Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Từ sinh hoạt, từ các hoạt động  
công nghiệp (Nguyễn Huy Dương)[5].  
Các xu hướng chính thay đổi chất lượng nước khi bị ô nhiễm là:  
Giảm độ pH của nước ngọt do bị ô nhiễm bởi: H2SO4, HNO3 từ khí  
quyển, tăng hàm Lượng SO42- và NO3- trong nước (Đặng Kim Chi)[3].  
Tăng hàm lượng các muối trong nước bề mặt và nước ngầm do chúng đi  
vào môi trường nước cùng với chất thải, từ khí quyển và từ các chất thải rắn.  
Tăng hàm lượng các chất hữu cơ, trước hết là các chất khó bị phân hủy  
bằng con đường sinh học (các chất hoạt động bề mặt, thuốc trừ sâu…)  
Giảm nồng độ oxi hòa tan trong nước tự nhiên do các quá trình oxy hóa  
có liên quan với quá trình Eutrophication các nguồn chứa nước và khoáng các  
hợp chất hữu cơ..  
3-  
Tăng hàm lượng các ion trong nước trước hết là NO3-, PO4 ,…  
Giảm độ trong của nước: tăng khả năng nguy hiểm của ô nhiễm nước  
tự nhiên do các nguyên tố đồng vị phóng xạ.  
2.1.3. Khái quát chung về môi trường không khí  
Không khí là một thứ vật chất tồn tại xung quanh chúng ta và tồn tại ở  
thể khí. Không khí là một thành phần trong môi trường hệ sinh thái. Môi  
trường sinh thái đang là vấn đề mà cả toàn nhân loại quan tâm bởi vì: môi  
trường bao gồm toàn bộ các yếu tố tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người  
 
9
có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sức khỏe, đời sống con người  
(Lương Đức Phẩm)[11].  
Vấn đề ô nhiễm môi trường không khí, đặc biệt tại các đô thị không chỉ  
còn là vấn đề riêng lẻ của một Quốc gia hay một khu vực mà nó đã trở thành  
vấn đề toàn cầu, thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế  
giới trong thời gian qua đã có những tác động lớn đến môi trường, đã làm cho  
môi trường sống của con người bị thay đổi và ngày càng trở nên tồi tệ hơn  
Nước ta trong những năm gần đây mặc dù vấn đề môi trường đã được quan  
tâm chú trọng nhưng môi trường không khí là một vấn đề khó quản lý nhất  
trong lĩnh vực môi trường (Dư Ngọc Thành)[8].  
* Môi trường không khí: Môi trường không khí là lớp không khí bao  
quanh trái đất.  
* Ô nhiễm môi trường không khí: Ô nhiễm không khí là sự có mặt  
một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí,  
làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi, có mùi khó chịu, giảm  
tầm nhìn xa (do bụi) (Lưu Đức Hải)[6].  
* Tác hại của ô nhiễm không khí  
Chất ô nhiễm sau khi thải vào môi trường sẽ bị phát tán trong không  
khí trở thành nguồn gây hại cho môi trường và sức khỏe con người. Bên cạnh  
đó chúng còn ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của động thực vật, làm  
hư hỏng vật liệu và mĩ quan của các công trình kiến trúc.  
- Tác hại đối với con người và động vật  
Sức khỏe và tuổi thọ của con người phụ thuộc rất nhiều vào độ trong  
sạch của môi trường không khí xung quanh. Lượng không khí mà cơ thể cần  
cho sự hô hấp hàng ngày khoảng 10m3, nếu trong không khí có lẫn nhiều chất  
độc hại thì qua hệ thống hô hấp những chất độc hại sẽ xâm nhập sâu vào cơ  
thể gây ra một số bệnh nhự lao, suyễn, ho, ung thư phổi, dị ứng.v.v. Mặt khác  
10  
chúng có thể gây ra các bệnh về da, mắt, nguy hiểm nhất là gây ung thư, tác  
động đến hệ thần kinh. Động vật cũng bị tác động bởi ô nhiễm không khí  
nhưng bằng cách gián tiếp như ăn lá cây bị nhiễm độc hoặc trực tiếp qua  
đường hô hấp (Hồ Sĩ Giao)[14].  
- Tác hại đối với môi trường  
Các chất ô nhiễm không khí có thể di chuyển theo gió, mây từ vùng này  
đến vùng khác do đó phạm vi gây hại rất rộng. Ngoài việc gây ra hiện tượng ô  
nhiễm cục bộ ở từng địa phương thì ô nhiễm không khí còn gây nên một số  
hiện tượng ô nhiễm môi trường có tính toàn cầu như hiệu ứng nhà kính, lỗ  
thủng tầng ozon…  
Tác hại của ô nhiễm không khí đối với môi trường rất to lớn, vì vậy xác  
định vùng ô nhiễm từ đó khoanh vùng ảnh hưởng để có những biện pháp  
giảm thiểu ô nhiễm, ngăn chặn tác hại đối với môi trường là điều cần thiết  
(Đặng Xuân Thường)[13].  
2.1.4. Khái quát chung về môi trường đất  
Đất là tài nguyên vô giá mà trên đó con người, các động vật, các vi sinh  
vật và thảm thực vật tồn tại, phát sinh và phát triển. Nước ta là nước ở vào  
vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều, nắng lắm quanh năm xanh tốt từ  
Bắc đến Nam. Vì vậy đất đai và sinh vật nước ta rất phong phú đa dạng. Điều  
kiện đó cho phép chúng ta trồng được nhiều vụ trong năm và nhiều loại cây  
trong vụ. Tuy nhiên đất đai nước ta dễ xói mòn, mùn dễ biến thành khoáng,  
chất dinh dưỡng trong đất dễ hòa tan, dễ biến hóa và bị rửa trôi nhanh nên đất  
chóng thoái hóa.  
* Khái niệm môi trường đất  
Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật  
cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn  
hóa của con người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 69 trang yennguyen 10280 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiện trạng môi trường khu tái định cư thủy điện Lai Châu, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hien_trang_moi_truong_khu_tai_dinh_cu_thu.pdf