Khóa luận Đánh giá hiện trạng môi trường nước khu vực bãi chôn rác thải Nam Sơn tại khu Liên hiệp xử lý rác thải Nam Sơn năm 2018, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
NGUYỄN VĂN KHOA  
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC RỈ RÁC KHU VỰC BÃI  
CHÔN RÁC THẢI NAM SƠN TẠI KHU LIÊN HIỆP XỬ LÝ RÁC THẢI  
NAM SƠN NĂM 2018, HUYỆN SÓC SƠN ,THÀNH PHỐ HÀ NỘI”.  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
: Chính quy  
Chuyên ngành : Khoa học môi rường  
Khoa  
: Môi trường  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Thái Nguyên, 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
NGUYỄN VĂN KHOA  
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC RỈ RÁC KHU VỰC BÃI  
CHÔN RÁC THẢI NAM SƠN TẠI KHU LIÊN HIỆP XỬ LÝ RÁC THẢI  
NAM SƠN NĂM 2018, HUYỆN SÓC SƠN,THÀNH PHỐ HÀ NỘI”  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Khoa học môi trường  
: K47 - KHMT  
: Môi trường  
Khoa  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Giáo Viên Hướng Dẫn : TS. Trần Thị Phả  
Thái Nguyên, 2019  
i
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành đề tài, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận  
được sự quan tâm, giúp đỡ quý báu của quý thầy giáo, cô giáo nhà trường,  
cùng bạn bè xung quanh. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Trần Thị  
Phả, người đã giành nhiều thời gian chỉ dẫn và giúp đỡ tận tình trong quá  
trình tôi thực hiện đề tài.  
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo khoa Môi trường,  
cùng các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, những  
người đã truyền đạt tri thức và phương pháp học tập, tìm hiểu và nghiên cứu  
khoa học trong suốt thời gian tôi học tập tại nơi đây.  
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Viện kỹ thuật và công nghệ  
Môi trường đã tạo mọi điều kiện tốt nhất trong quá trình tôi thực tập và cung  
cấp số liệu cho đề tài.  
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè luôn động viên, tạo điều  
kiện và góp ý để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.  
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đề tài không thể tránh được những  
thiếu sót, vì vậy rất mong nhận được sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo để đề  
tài của tôi được hoàn thiện tốt hơn nữa.  
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày 1 tháng 06 năm 2019  
Sinh viên  
Nguyễn Văn Khoa  
 
ii  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
Atomic Absorbtion Spectrometric - Quang phổ hấp thụ  
nguyên tử  
AAS  
Bãi chôn lấp  
BCL  
Biological Oxygen Demand - Nhu cầu oxy sinh hóa  
Bộ Tài Nguyên và Môi trường  
BOD  
BTNMT  
COD  
Chemical Oxygen Demand - Nhu cầu oxy hóa học  
Nước rỉ rác  
NRR  
NT  
Nước thải của bãi chôn lấp  
Nhà xuất bản  
NXB  
QCVN  
SBR  
SS  
Quy chuẩn Việt Nam  
Sequencing Batch Reactor - Bể phản ứng theo mẻ  
Suspended Solids - Chất rắn lơ lửng  
Standard Methods for the Examination of Water and  
Westewater - Các phương pháp chuẩn phân tích nước và  
nước thải  
SMEW  
W
Tiêu chuẩn Việt Nam  
TCVN  
TT  
Trước thải của bãi chôn lấp  
Total Dissolved Solids - Tổng chất rắn hòa tan  
Upflow Anaerobic Sludge Balanket - Bể xử lý sinh học dòng  
chảy ngược qua tầng bùn kỵ khí  
TDS  
UASB  
 
iii  
MỤC LỤC  
 
iv  
 
vi  
DANH MỤC CÁC HÌNH  
 
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Tính cấp thiết của đề tài  
Ở Việt Nam những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày  
càng trở lên trầm trọng và phổ biến dẫn tới suy thoái môi trường đất, nước,  
không khí, đặc biệt là tại các đô thị lớn lượng chất thải rắn và nước thải ngày  
càng gia tăng. Mặc dù số lượng các nhà máy đã xây dựng trạm xử lý chất thải  
tăng lên trong những năm gần đây nhưng hiện trạng ô nhiễm vẫn chưa được  
cải thiện.  
Nước rỉ rác phát sinh từ bãi chôn lấp chất thải rắn hiện nay là một trong  
những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng xung quanh khu  
vực bãi chôn lấp. Nhìn chung, nước rỉ rác chứa các chất hữu cơ hoà tan và các  
ion vô cơ với hàm lượng cao, khó xử lý. Nếu nước rỉ rác phát thải trực tiếp  
vào môi trường mà không được kiểm soát chắc chắn sꢀ gây ô nhiễm môi  
trường nghiêm trọng. Tính chất nước rỉ rác thay đổi không những do nó được  
tạo thành bởi rất nhiều loại chất thải khác nhau mà còn thay đổi theo tuổi bãi  
rác và theo mùa trong năm.  
Hiện tại chúng ta vẫn xử lý rác thải bằng phương pháp chôn lấp và  
chưa áp dụng phân loại rác thải nguồn nên thành phần của nước rỉ rác rất  
phức tạp. Hàm lượng chất ô nhiễm trong nước rỉ rác có thể biến động rất lớn,  
tùy thuộc vào tuổi bãi chôn lấp, thời gian lấy mẫu - mùa mưa hay mùa khô.  
Vì vậy, việc khảo sát các đặc trưng của nước rỉ rác tại các bãi chôn lấp có thể  
cung cấp những thông tin quan trọng làm cơ sở để chọn lựa công nghệ xử lý  
phù hợp  
Tuy nhiên, kéo theo đó là vấn đề ô nhiễm môi trường do bãi chôn lấp  
không hợp vệ sinh, không đạt tiêu chuẩn gây ra nhiều bất cập làm ảnh hưởng  
tới môi trường xung quanh và cuộc sống con người.  
     
2
Đặc biệt, hầu hết nước rỉ rác tại bãi chôn lấp đều phát thải trực tiếp vào  
môi trường, khuếch tán mầm bệnh gây tác động xấu đến môi trường và sức  
khỏe con người, việc ô nhiễm môi trường từ nước rỉ rác của các bãi chôn lấp  
tập trung trở thành vấn đề nóng hàng chục năm nay.  
Nước rỉ rác được tạo ra trong giai đoạn axit của bãi chôn lấp ổn định.  
Trong giai đoạn này pH của nước rỉ rác tạo ra giảm do đó huy động nhiều kim  
loại nặng. Thành phần của nước rác phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc tính  
của chất thải, thiết kế và vận hành bãi rác, các đặc tính và thành phần cụ thể  
của các chất thải được chôn lấp. Tại nhiều quốc gia đang phát triển việc quản lý  
kém các bãi rác là mối nguy cơ chính đối với ô nhiễm nước ngầm cũng như  
nước mặt. Do lắp đặt không đúng các hệ thống lớp lót và thu gom nước rỉ rác,  
nước rỉ rác lan truyền vào nước ngầm hoặc các nguồn nước mặt gần đó, làm  
suy thoái chất lượng nước. Để kiểm soát nguy cơ ô nhiễm của nước rỉ rác hầu  
như tất cả các nước đã ban hành các quy định, nhưng các biện pháp khắc phục  
được đề xuất theo thời hạn là rất khó thực hiện và không hiệu quả về chi phí.  
Do đó, để ngăn chặn sự lãng phí năng lượng và tiền bạc việc xác định các khu  
vực dễ bị ảnh hưởng bởi bãi chôn lấp là cần thiết và phải được tiến hành ngay.  
Các nhà khoa học và các nhà quản lý môi trường đã quan tâm đến việc  
xử lý nước rỉ rác. Đã có một số công nghệ xử lý nước rỉ rác được áp dụng  
như: hệ thống mương xử lý nước rỉ rác (kết hợp nước rỉ rác với nước thải sinh  
hoạt, quay vòng tuần hoàn nước rỉ rác và hồ xử lý), công nghệ sinh học (xử lý  
hiếu kí, kị khí) và xử lý bằng các quá trình vật lý, hoá học (oxi hoá, kết tủa,  
+
hấp phụ, công nghệ màng và loại bỏ NH4 ). Nhìn chung, nước rỉ rác thường  
được xử lý bằng phương pháp sinh học để loại bỏ các chất hữu cơ. Công nghệ  
sinh học được sử dụng để xử lý nước thải thường có hiệu quả cao. Tuy nhiên,  
một hệ thống xử lý sinh học riêng lẻ thường không có hiệu quả cao trong xử  
lý nước rỉ rác vì nó có thành phần phức tạp và chứa các chất ô nhiễm khó  
3
phân huꢁ sinh học xuất phát từ vấn đề trên và được sự đồng ý của ban chủ  
nhiệm khoa cũng như giáo viên hướng dấn TS. Trần Thị Phả, tôi tiến hành  
nghiên cứu đề tài. “Đánh giá hiện trạng môi trường nước khu vực bãi chôn  
rác thải Nam Sơn tại khu Liên hiệp xử lý rác thải Nam Sơn năm 2018,  
Huyện Sóc Sơn,Thành phố Hà Nội”.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
- Nghiên cứu, phân tích thành phần chất thải rắn và hoạt động chôn lấp  
tại địa điểm nghiên cứu cụ thể: BCL rác thải Nam Sơn.  
- Đánh giá thực tế về tính chất của nước rỉ rác từ hoạt động chôn lấp và  
hiện trạng hoạt động của các trạm xử lý nước rác hiện có trên khu vực bãi  
chôn lấp rác thải tại Nam Sơn- Hà Nội.  
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nước rỉ rác cho  
các trạm xử lý nước rỉ rác.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
Ý nghĩa khoa học:  
- Là nguồn dữ liệu phục vụ cho các nghiên cứu sau này.  
- Vận dụng được những kiến thức về môi trường nước, cải tạo phục hồi  
môi trường đã học và được áp dụng vào trong thực tế.  
Ý nghĩa trong thực tiễn:  
- Tăng cường trách nhiệm của ban lãnh đạo khu liên hiệp trước hoạt  
động sản xuất đến môi trường. Từ đó có hoạt động tích cực trong việc xử lý  
nước thải.  
- Cảnh báo nguy cơ gây ô nhiễm suy thoái môi trường nước do nước  
thải gây ra, ngăn ngừa và giảm thiểu ảnh hưởng của nước thải đến môi  
trường, bảo vệ sức khoẻ của người dân khu vực quanh khu liên hiệp.  
   
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài  
- Khái niệm về môi trường  
"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo  
quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,  
sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên" (Theo Ðiều 1,  
Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam).  
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:  
- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá  
học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu  
tác động của con người. Ðó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí,  
động, thực vật, đất, nước... Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất  
để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại  
tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng  
hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con  
người thêm phong phú.  
- Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Ðó  
là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định... ở các cấp khác nhau  
như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng  
xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,... Môi  
trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất  
định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống  
của con người khác với các sinh vật khác.  
- Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao  
gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong  
     
5
cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên  
nhân tạo...  
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần  
thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên,  
không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội...  
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ  
bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc  
sống con người. Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy  
giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn  
trường, tổ chức xã hội như Ðoàn, Ðội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc,  
làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn  
được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp,  
nghị định, thông tư, quy định.  
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở  
để sống và phát triển.  
Môi trường có các chức năng cơ bản sau:  
- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.  
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt  
động sản xuất của con người.  
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra  
trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình.  
- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới  
con người và sinh vật trên trái đất.  
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.  
Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất  
lương thực và tái tạo môi trường. Con người có thể gia tăng không gian sống  
cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của  
6
các loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và  
nước mới. Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên  
nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi.  
2.2. Tổng quan về nước rỉ rác  
2.2.1. Đặc trưng của nước rỉ rác  
* Nguồn gốc phát sinh nước rỉ rác  
Nước rò rỉ từ bãi rác là nước bẩn thấm qua lớp rác, kéo theo các chất ô  
nhiễm từ rác chảy vào tầng đất dưới bãi chôn lấp (BCL). Nước rác được hình  
thành khi độ ẩm của rác vượt quá độ giữ nước. Độ giữ nước của chất thải rắn  
là lượng nước lớn nhất được giữ lại trong các lỗ rỗng mà không phát sinh ra  
dòng thấm hướng xuống, dưới tác dụng của trọng lực. Trong giai đoạn hoạt  
động của BCL, nước rỉ rác hình thành chủ yếu do nước mưa và nước “ép” ra  
từ các lỗ rỗng của chất thải do các thiết bị dầm nén. Sự phân hủy chất hữu cơ  
trong rác cũng phát sinh nước rò rỉ nhưng với lượng rất nhỏ. (Nguyễn Thị  
Thục Quyên, 2007).  
Điều kiện khí hậu thuꢁ văn, địa hình, địa chất của bãi rác, nhất là khí  
hậu, lượng mưa ảnh hưởng đáng kể đến lượng nước rò rỉ sinh ra. Tốc độ phát  
sinh nước rỉ rác dao động lớn theo các giai đoạn hoạt động khác nhau của bãi  
rác. Trong suốt những năm đầu tiên, phần lớn lượng nước mưa thâm nhập vào  
được hấp thụ và tích trữ trong các khe hở và lỗ rỗng của chất thải chôn lấp  
* Thành phần và của nước rỉ rác tính chất  
Thành phần nước rỉ rác thay đổi rất nhiều, phụ thuộc vào tuổi BCL, loại  
rác, khí hậu. Mặc khác, độ dày, độ nén và nguyên liệu phủ trên cùng cũng tác  
động lên thành phần nước rác.  
Thành phần nước rỉ rác được phân loại theo tính chất bãi chôn lấp đang  
hoạt động và bãi chôn lấp đã ngưng hoạt động. Bảng 1.1 biểu diễn sự biến  
thiên nồng độ chất ô nhiễm trong nước rác theo thời gian, từ ngày bãi ngưng  
hoạt động.  
   
7
Bảng 2.1. Sự biến thiên nồng độ chất ô nhiễm trong nước rỉ rác theo tuổi  
Giá trị  
Thành phần  
Đơn vị  
1 năm  
5.2-6.4  
5 năm  
6.3  
16 năm  
-
Ph  
COD  
mg/l  
mg/l  
10000-40000  
7500-28000  
10000-14000  
100-700  
800-4000  
3500-5000  
25-35  
3000  
4000  
6790  
-
400  
80  
BOD5  
TDS  
mgNaCl/l  
mg/l  
1200  
-
TSS  
Độ kiềm  
Độ cứng  
P-tổng  
N-NH3  
N-NO3  
Cl-  
mgCaCO3/l  
mg/l  
5810  
2200  
12  
2250  
540  
8
mg/l  
mg/l  
56-482  
-
-
mg/l  
0.2-0.8  
0.5  
1.6  
70  
mg/l  
600-800  
400-650  
900-1700  
450-500  
295-310  
210-325  
160-250  
75-125  
5330  
2
2-  
SO4  
mg/l  
2
Ca2+  
mg/l  
308  
810  
610  
6.3  
109  
34  
Na+  
mg/l  
K+  
mg/l  
39  
Fe-tổng  
Mg2+  
Mn-tổng  
Cu2+  
mg/l  
0.6  
90  
mg/l  
450  
0.06  
<0.5  
0.4  
mg/l  
0.06  
<0.5  
0.1  
mg/l  
-
Zn2+  
mg/l  
10-30  
(Nguồn : Chian DeWalle, 1996-1997)  
Sự thay đổi về thành phần và tính chất nước rò rỉ theo thời gian sꢀ dẫn  
đến sự khác nhau trong việc lựa chọn công nghệ và thông số thiết kế. Kết quả  
khảo sát các trạm xử lý nước rò rỉ cho thấy hầu hết các trạm có hiệu quả xử lý  
 
8
thấp hoặc ban đầu cao, sau đó thấp dần là do công tác khảo sát sự thay đổi  
thành phần nước rỉ rác không được thực hiện một cách kỹ càng.  
Hàm lượng chất hữu cơ nước rỉ rác của bãi rác mới chưa phủ đầy  
(khoảng 08 tháng tuổi) có thể lên đến 716000 mg/l. Hàm lượng chất hữu cơ  
và vô cơ giảm dần theo tuổi bãi rác. Tương tự, tꢁ số BOD:COD cũng giảm  
dần theo thời gian. Mức độ giảm này cho thấy chất hữu cơ dễ oxy hoá sinh  
hoá giảm nhanh, trong khi đó hàm lượng chất không phân huꢁ sinh học gia  
tăng theo tuổi bãi rác.  
Đặc tính chung của tất cả các loại nước rác:  
+ Thành phần các chất ô nhiễm hữu cơ: đặc trưng ở tải lượng ô  
nhiễm theo COD và BOD5 rất cao. Trong thành phần chất ô nhiễm hữu cơ,  
bao giờ cũng chứa thành phần hữu cơ dễ phân hủy sinh học và phần chất ô  
nhiễm hữu cơ khó phân hủy sinh học. Ở những bãi rác thời gian chôn lấp  
không lâu dưới 2 năm, nước rỉ rác có trị số COD rất cao (3000- 40.000mg/l),  
đồng thời tꢁ số BOD5/COD lớn hơn 0,6 tức là trong nước rác chứa nhiều chất  
hữu cơ dễ phân hủy sinh học. Ngược lại ở các bãi chôn lấp có thời gian lâu (>  
10 năm) nước rác có trị số COD tương đối thấp (100 -500mg/l), đồng thời tꢁ  
số BOD/COD cũng thấp (< 0,3), tức là trong nước rác chứa nhiều chất hữu cơ  
khó phân hủy sinh học. (Lê Trang Mỹ Dung, 2007).  
+ Thành phần các chất ô nhiễm vô cơ: chủ yếu là amoniac (NH3) nằm  
+
dưới dạng ion amoni (NH4 ) trong nước rỉ rác, thành phần này được tạo ra do  
sự phân hủy (thủy phân và lên men) thành phần protein xác động thực vật  
trong rác thải. Đặc tính quan trọng của thành phần amoniac trong nước thải là  
chúng có hàm lượng rất cao, đến trên 2000mg/l và lại rất bền vững, không bị  
biến đổi theo thời gian, thành phần vô cơ khó xử lý nhất trong nước rỉ rác. (Lê  
Trang Mỹ Dung, 2007).  
+ Thành phần các chất độc hại: vi trùng, vi khuẩn, mầm bệnh, virus  
các loại và một số kim loại nặng.  
9
Trong một bãi chôn lấp rác trẻ hay già, quá trình phân hủy sinh học đều  
xảy ra trong điều kiện yếm khí qua 3 giai đoạn kế tiếp nhau trong toàn bộ  
khối rác bị chôn lấp: giai đoạn tạo axit (pha axit), giai đoạn metan (pha  
metan) và giai đoạn trung gian (pha chuyển tiếp từ pha axit sang pha metan).  
Tùy theo thời gian chôn lấp rác mà ưu thế của từng giai đoạn sꢀ thay đổi.  
Thời gian chôn lấp càng lâu, tuổi bãi rác càng già, pha metan sꢀ chiếm ưu thế.  
Ngược lại, tuổi bãi rác chôn lấp càng trẻ, pha axit chiếm phần chủ yếu. (Lê  
Trang Mỹ Dung, 2007).  
Có thể căn cứ vào tꢁ số BOD/COD trong các giới hạn để phân biệt các  
giai đoạn xảy ra trong bãi chôn lấp rác:  
- Pha axit: BOD/COD ≥ 0,4  
- Pha chuyển tiếp: 0,4 > BOD/COD >0,2  
- Pha metan: BOD/COD ≤0,2  
2.2.2. Ảnh hưởng của nước rỉ rác  
Nước rỉ rác chứa rất nhiều chất độc hại như khí nitơ, nồng độ mmoniac,  
kim loại nặng, vi khuẩn gây bệnh đường ruột, BOD . . .  
Các chất hữu cơ dễ phân hủy bởi vi sinh vật thường được xác định qua  
nhu cầu oxy sinh hóa BOD. Nồng độ BOD tꢁ lệ với hàm lượng ô nhiễm hữu  
cơ, đồng thời cũng được sử dụng để đánh giá tải lượng và hiệu quả sinh học  
của một hệ thống nước thải.  
Ô nhiễm hữu cơ sꢀ dẫn đến sự suy giảm nồng độ oxy hòa tan trong  
nước do vi sinh vật sử dụng oxy hòa tan để phân hủy các chất hữu cơ. Sự cạn  
kiệt oxy hòa tan sꢀ gây tác hại nghiêm trọng đến tài nguyên thủy sinh.  
Chất lơ lửng cũng là tác nhân gây ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên  
thủy sinh đồng thời gây tác hại về mặt cảm quan do làm tăng độ đục nguồn  
nước và gây bồi lắng nguồn nước tiếp nhận.  
Đối với tầng nước ngầm, quá trình ngấm của nước rò rỉ từ các bãi rác  
 
10  
có khả năng làm tăng hàm lượng các chất dinh dưỡng trong nước ngầm như:  
NH4, NO3, PO4,...đặc biệt là NO2, có độc tính cao đối với con người và động  
vật sử dụng nguồn nước đó. (Huỳnh Thị Mỹ Phi, 2005).  
Ảnh hưởng của nước rò rỉ từ bãi rác đến môi trường đất đặc biệt  
nghiêm trọng, mang tính chất lâu dài và rất khó khắc phục nếu nó được thấm  
theo mạch ngang. Nếu ngâm nước rỉ rác lâu và các tầng chứa nước của bãi rác  
thi công không tốt, chắc chắn sꢀ ngấm vào đất, lan rộng ra các khu vực, ảnh  
hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái và con người.  
Đa số tại các khu xử lý rác hiện nay, rác vẫn chủ yếu chôn lấp theo  
dạng truyền thống, chỉ một lượng nhỏ nước rỉ rác được xử lý, còn nhiều hạng  
mục quan trọng chưa hoàn thiện, làm mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường  
không khí, môi trường nước.  
Hiện nay tꢁ lệ người dân, nhất là trẻ em dưới 10 tuổi mắc bệnh đường  
hô hấp có xu hướng tăng. Các chuyên gia về môi trường cảnh báo, nếu bãi rác  
này hoạt động hết công suất và nhà đầu tư không khẩn trương có biện pháp  
xử lý triệt để thì khó tránh khỏi ô nhiễm mùi hôi, ô nhiễm nguồn nước từ các  
bãi rác này.  
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do nước rỉ rác tồn đọng nay  
chưa được xử lý là tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước ở các khu vực lân cận  
bãi chôn lấp.  
2.3. Tổng quan về các phương pháp xử lý nước rỉ rác  
2.3.1. Phương pháp cơ học (phương pháp vật lý)  
Quá trình xử lý cơ học thường được áp dụng ở giai đoạn đầu của quá  
trình xử lý nước rỉ hay còn gọi là quá trình xử lý sơ bộ hay là quá trình  
tiền xử lý, quá trình này dùng để loại bỏ các tạp chất không tan có trong  
nước bao gồm các tạp chất vô cơ và hữu cơ có trong nước. Để tách các  
chất này ra khỏi nước thải thường sử dụng các phương pháp cơ học như  
   
11  
lọc qua song chắn rác hoặc lưới chắn rác, lắng dưới tác dụng của trọng lực  
hoặc lực ly tâm, và lọc. Tùy theo kích thước, tính chất hóa lý và nồng độ  
chất lơ lửng, lưu lượng nước thải và mức độ cần làm sạch mà lựa chọn  
công nghệ xử lý thích hợp. Nó là một bước đệm nhằm đảm bảo tính an  
toàn cho các công trình và thiết bị của các quá trình xử lý tiếp theo của hệ  
thống xử lý nước rỉ. (Lâm Minh Triết, 2004).  
2.3.2. Phương pháp hóa lý  
Cơ sở của phương pháp hóa lý là các phản ứng hóa học diễn ra giữa  
chất ô nhiễm và các hóa chất thêm vào. Các phương pháp hóa lý thường được  
sử dụng là ôxy hóa và trung hoà. Đi đôi với các phương pháp này còn kèm  
theo các quá trình kết tủa và nhiều hiện tượng khác.  
Nói chung bản chất của quá trình xử lý nước rỉ bằng phương pháp hóa  
lý là áp dụng các quá trình vật lý và hóa học để loại bỏ các chất ô nhiễm mà  
không thể dùng quá trình lắng ra khỏi nước rỉ. Các công trình tiêu biểu của  
việc áp dụng phương pháp hóa học bao gồm:  
* Bể keo tụ, tạo bông  
Quá trình keo tụ tạo bông được ứng dụng để loại bỏ các chất rắn lơ  
lững và các hạt keo có kích thước rất nhỏ (0,1- 10µm). Theo nguyên tắc, các  
hạt nhỏ trong nước có khung hướng keo tụ do lực hút VanderWaals giữa các  
hạt. Lực này có thể dẫn đến sự kết dính giữa các hạt ngay khi khoảng cách  
giữa chúng đủ nhỏ nhờ va chạm. Sự va chạm xảy ra do chuyển động Brown  
và do tác động của sự xáo trộn.  
* Bể tuyển nổi  
Tuyển nổi là phương pháp được áp dụng tương đối rộng rãi nhằm loại  
bỏ các tạp chất không tan, khó lắng. Trong nhiều trường hợp, tuyển nổi còn  
được sử dụng để tách các chất tan như chất hoạt động bề mặt.  
Bản chất của quá trình tuyển nổi ngược lại với quá trình lắng và cũng  
 
12  
được áp dụng trong quá trình lắng xảy ra rất chậm và rất khó thực hiện. Các  
chất lơ lững như dầu, mỡ sꢀ nổi lên trên bề mặt của nước dưới tác dụng của  
các bọt khí tạo thành lớp bọt có nồng độ tạp chất cao hơn trong nước ban đầu.  
Hiệu quả phân riêng bằng tuyển nổi phụ thuộc kích thước và số lượng bong  
bóng khí. Kích thước tối ưu của bong bóng khí là 15 - 30.10-3mm. (Lâm  
Minh Triết, 2004)  
* Trích ly  
Trích ly là phương pháp tách các chất bẩn hòa tan ra khỏi nước thải  
bằng dung môi nào đó nhưng với điều kiện dung môi đó không tan trong  
nước và độ hòa tan chất bẩn trong dung môi cao hơn trong nước.  
Ngoài ra còn có các phương pháp khác như:  
Chưng bay hơi là chưng nước thải để các chất hòa tan trong đó cùng  
bay lên theo hơi nước.  
Trao đổi ion là phương pháp thu hồi các cation và anion bằng các  
chất trao đổi ion (ionit) các chất trao đổi ion là các chất rắn trong thiên  
nhiên hoặc vật liệu nhựa nhân tạo. Chúng không hòa tan trong nước và trong  
dung môi hữu cơ, có khả năng trao đổi ion. Phương pháp trao đổi ion cho  
phép thu được những chất quí trong nước thải và cho hiệu suất xử lý khácao.  
Tinh thể hóa là phương pháp loại bỏ các chất bẩn khỏi nước ở  
trạng thái tinh thể.  
Ngoài các phương pháp hóa lý kể trên, để xử lý - khử các chất bẩn  
trong nước rỉ rác người ta còn dùng các phương pháp như: khử phóng xạ, khử  
khí, khử mùi, khử muối trong nước.  
2.3.3. Phương pháp hóa học  
Phương pháp này thường được dùng để thu hồi các chất quí hoặc để  
khử các chất độc hoặc các chất ảnh hưởng xấu đối với giai đoạn xử lý  
sinh hóa sau này .  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 63 trang yennguyen 12980 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiện trạng môi trường nước khu vực bãi chôn rác thải Nam Sơn tại khu Liên hiệp xử lý rác thải Nam Sơn năm 2018, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hien_trang_moi_truong_nuoc_khu_vuc_bai_ch.pdf