Đồ án Khảo sát điều kiện trồng nấm Hoàng kim (Pleurotus citrinopileatus) trên giá thể vỏ mía

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ  
MINH  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
KHẢO SÁT ĐIỀU KIỆN TRỒNG NẤM HOÀNG KIM  
( Pleurotus citrinopileatus ) TRÊN GIÁ THỂ VỎ MÍA  
Ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC  
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC  
Giảng viên hướng dẫn: ThS. TRẦN THỊ TƯỞNG AN  
Sinh viên thực hiện:  
MSSV: 1311101020  
PHẠM NHƯ NGỌC  
Lớp: 13DSH04  
TP. Hồ Chí Minh, Năm 2017  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự  
hướng dẫn khoa học của ThS. Trần Thị Tưởng An. Các nội dung nghiên cứu, kết  
quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước  
đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh  
giá được tôi thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham  
khảo.  
Ngoài ra, trong khóa luận còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như  
số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích  
nguồn gốc.  
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm  
về nội dung khóa luận của mình.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 05 năm 2017  
Người cam đoan  
Phạm Như Ngọc  
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành tốt đề tài của đồ án này tôi đã nhận được sự giúp đỡ và hỗ  
trợ về mọi mặt từ rất nhiều người nên lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của  
mình tới tất cả mọi người.  
Trước hết tôi xin được gửi lời cám ơn chân thành đến ThS. Trần Thị Tưởng  
An người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện toàn bộ đề tài này.  
Xin cám ơn các thầy cô, các anh chị và các bạn ở phòng thí nghiệm Nhiên  
Liệu Sinh Học và Biomass trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh đã  
hỗ trợ kinh phí và máy móc, trang thiết bị và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian  
thực hiện đề tài này.  
Xin cám ơn Nước mía Nhật Huy đã cung cấp cho tôi nguyên liệu vỏ mía  
trong suốt quá trình thực hiện đề tài.  
Xin gửi lời cám ơn đến Ban Giám Hiệu trường Đại Học Công Nghệ thành  
phố Hồ Chí Minh cùng tất cả các thầy cô của khoa Công Nghệ Sinh Học – Thực  
Phẩm – Môi Trường đã tận tình giảng dạy, cung cấp cho tôi những kiến thức quý  
báu cũng như kỹ năng cần thiết trong suốt 4 năm qua để tôi có thể hoàn thành tốt  
đề tài khóa luận của mình.  
Xin gửi lời cảm ơn đến tập thể lớp 13DSH04 đã luôn sát cánh bên tôi, giúp  
đỡ tôi trong suốt khoảng thời gian học tập tại trường.  
Cuối cùng xin cho tôi gửi lời cám ơn sâu sắc nhất đến gia đình, hậu  
phương vững chắc của tôi đã luôn bên tôi, ủng hộ, động viên và tạo mọi điều kiện  
tốt nhất cho tôi vững bước trên con đường học tập.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 05 năm 2017  
Xin viên thực hiện  
Phạm Như Ngọc  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
MỤC LỤC  
i
 
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
ii  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
DANH MỤC HÌNH ẢNH  
Hình 1. 4. Chu trình sinh trưởng của nấm hoàng kim.................................................8  
Hình 3. 8. Tơ nấm hoàng kim trên môi trường hạt thóc (40X).................................40  
v
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
DANH MỤC SƠ ĐỒ  
Sơ đồ 2. 2. Quy trình trồng nấm hoàng kim tren vỏ mía ..........................................54  
vii  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
MỞ ĐẦU  
Ngành nuôi trồng nấm ngày càng được phát triển mạnh mẽ không chỉ riêng ở  
Việt Nam mà trên toàn Thế Giới. Nấm ăn là một loại thực phẩm sạch và giàu giá  
trị dinh dưỡng , không những vậy nhiều loại nấm ăn còn có dược tính quý giá.  
Việc nuôi trồng nấm góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động  
và làm giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường. Vì nguồn nguyên liệu để trồng nấm là  
tận dụng những phụ phẩm, phế thải trong nông nghiệp và công nghiệp như rơm rạ,  
mùn cưa, bông vải…  
Được thiên nhiên ưu đãi, nước ta có điều kiện thời tiết thuận lợi cho các loài  
nấm phát triển. Đặc biệt khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm thuận lợi cho việc trồng  
nấm quanh năm. Cùng với nguồn nguyên liệu và lực lượng lao động dồi dào càng  
giúp cho nghề trồng nấm ở nước ta ngày càng phát triển mạnh mẽ.  
Nghề trồng nấm hiện nay rất đa dạng và phong phú về chủng loại, trong số đó  
nấm hoàng kim ( Pleurotus citrinopileatus) là một loại nấm ăn ngon và bổ dưỡng,  
có dược tính cao và là một loại nấm đang có tiềm năng phát triển mạnh và đem lại  
giá trị kinh tế cao.  
1. Lý do chọn đề tài  
Nghề trồng nấm phát triển ở nước ta, đặc biệt là các loại nấm bào ngư, linh chi  
do nhu cầu và sự lựa chọn của người tiêu dùng ngày càng cao. Vì vậy việc trồng  
và phát triển các loại nấm mới có giá trị như nấm hoàng kim (Pleurotus  
citrinopileatus) là vô cùng cần thiết. Hiện nay trên thị trường nước ta nấm hoàng  
kim chưa được trồng phổ biến và còn hiếm chính vì vậy việc nhân rộng mô hình  
nuôi trồng nấm hoàng kim hứa hẹn sẽ đem lại hiệu quả vô cùng lớn cho người  
nông dân.  
Bên cạnh đó, việc tìm ra những nguồn nguyên liệu mới làm giá thể để đáp ứng  
nhu cầu của việc trồng nấm là rất cần thiết. Vỏ mía có hàm lượng lignin, cellulose  
có thể đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của nấm. Tại Tp. Hồ Chí Minh, hàng  
ngày lượng nước mía được bán ra rất lớn do đó lượng vỏ mỉa thải ra cũng rất lớn.  
1
   
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
Tận dụng nguồn phế phẩm vỏ mía này để trồng nấm đem lại hiệu quả kinh tế và  
góp phần giảm lượng rác thải ra môi trường. Đó cũng chính là lý do để thực hiện  
đề tài: “ Khảo sát điều kiện trồng nấm Hoàng Kim ( Pleurotus citrinopileatus)  
trên giá thể vỏ mía”.  
2. Mục đích nghiên cứu  
Chuyển hóa vỏ mía thành cơ chất dinh dưỡng để trồng nấm hoàng kim.  
Xác định các thông số thích hợp, cần thiết để trồng nấm hoàng kim trên vỏ mía.  
3. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Tìm hiểu tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài.  
Phân lập và nhân giống nấm hoàng kim.  
Khảo sát một số đặc điểm của nấm hoàng kim trên các môi trường.  
Khảo sát điều kiện xử lý vỏ mía để làm nguyên liệu trồng nấm hoàng kim.  
Khảo sát một số điều kiện để trồng nấm hoàng kim trên nguyên liệu vỏ mía.  
Bước đầu xây dựng quy trình nuôi trồng nấm hoàng kim trên vỏ mía.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu  
Giống nấm hoàng kim được cung cấp bởi công ty Mộc Mạc Tình Yêu Nấm ( Địa  
chỉ 470B quốc lộ 13, Hiệp Bình Phước, Q.Thủ Đức, Tp.HCM). Sau đó sẽ tiến  
hành phân lập, quan sát và bảo quản giống để tiến hành thực hiện các thí nghiệm  
của đề tài.  
Cơ chất để trồng nấm là vỏ mía.  
Phạm vi nghiên cứu  
Thời gian: tháng 2 / 2017 đến tháng 7 / 2017.  
Địa điểm: Phòng thí nghiệm Nhiên Liệu Sinh Học và Biomass, trường Đại học  
Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh.  
2
     
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
1.1.  
Giới thiệu nguyên liệu vỏ mía  
1.1.1. Vỏ mía  
Mía từ lâu đã được chú ý nhờ những đặc tính vật lý tốt gần giống với gỗ và  
được sử dụng trong nghiên cứu sản xuất vật liệu composite .Vỏ mía quan sát qua  
kính hiển vi điện tử quét cho thấy bên ngoài là một lớp sáp, tiếp theo là lớp xơ sợi,  
trong cùng là phần lõi. Vỏ mía chứa lượng lignin và lượng hemicellulose cao .  
Hàm lượng cellulose gần bằng gỗ.  
Vỏ mía được tách ra khỏi thân cây mía nhờ máy bào vỏ mía thành các sợi  
mảnh, bề rộng khoảng 5 mm và dài từ 7 – 10 cm uốn cong giống như gỗ bào.  
Ngoài ra còn có các sợi mảnh hơn, ngắn hơn và cả mảnh vụn như mạt cưa. Chính  
vì vậy vỏ mía rất thuận tiện trong quá trình chế biến và bổ sung dinh dưỡng, có thể  
sử dụng luôn để làm giá thể mà không cần phải xay nhỏ đến kích cỡ như mạt cưa.  
Hình 1. 1. Máy bào vỏ mía  
1.1.2. Thành phần của vỏ mía  
Thành phần chủ yếu của vách tế bào thực vật và chiếm 50% tổng lượng  
hydrocarbon trên Trái Đất. Ngoài thực vật là nguồn chủ yếu, còn có ở trong giới  
động vật nhưng số lượng rất ít.  
Cellulose là polysaccharide liên kết với nhau bằng liên kết 1,4-glucoside, mức  
độ polymer hóa của cellulose rất cao tới 10.000 – 14.000 đơn vị glucose/phân tử.  
3
         
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
Số lượng lớn liên kết hydro nội và ngoại phân tử làm cho cellulose có độ cứng và  
vững chắc.  
Liên kết glucoside không bền với acid. Cellulose dễ bị phân hủy với acid và tạo  
thành sản phẩm phân hủy không hoàn toàn là hydro-cellulose có độ bền cơ học  
kém hơn cellulose nguyên thủy, còn khi thủy phân hoàn toàn thì sản phẩm tạo  
thành là D-glucose.  
Về bản chất hóa học cellulose là rượu đa chức có phản ứng với kiềm hay kim  
loại kiềm tạo thành cellulose-ancolat. Nguyên tử hydro ở các nhóm –OH bậc một  
và hai trong phân tử cellulose cũng có thể bị thay thế bới các gốc –metyl, -etyl,…,  
tạo ra những chất có độ kết tinh cà độ hòa tan trong nước khác nhau.  
1.1.1.1.  
Cellulose  
Cellulose cũng bị oxy hóa bởi một số tác nhân tạo thành sản phẩm oxy hóa một  
phần là oxy – cellulose. Tác nhân oxy hóa chọn lọc nhất là acid iodic (HIO4) và  
muối của nó. Cellulose không tan trong nước , dung dịch kiềm làm trương phồng  
mạch cellulose và hòa tan một phần cellulose phân tử nhỏ. Đặc biệt cellulose dễ  
hòa tan trong dung dịch cupri amin hydrat [Cu(NH3)4(OH)2]và hàng loạt các dung  
dịch là các phức chất của đồng, niken, cadimi, kẽm,…(J.F.Kennedy, 1989).  
1.1.1.2.  
Lignin  
Lignin là một polymer gốc rượu , có cấu trúc 3 chiều rất phức tạp và có nhiệm  
vụ nân đỡ cấu trúc tế bào gỗ. Sau cellulose, lignin là một polymer phong phú trong  
tự nhiên được thực vật tổng hợp và là phần lớn nguồn chất thơm đa dạng trên Trái  
Đất. Sự có mặt của lignin giúp cho tế bào thực vật cứng rắn hơn và đồng thời giúp  
cho thực vật tránh được sự xâm nhiễm của vi sinh vật. Lignin được tìm thấy trong  
vách tế bào ở dạng phức hợp với những polysaccharide như cellulose và  
hemicelluloses, nó cũng giúp bảo vệ những polysaccharide này khỏi sự phân hủy  
sinh học.  
Lignin được sinh tổng hợp bởi sự polymer hóa các tiền chất phenylpropanoid.  
Có 3 loại tiền chất được phân loại tùy thuộc theo số lượng nhóm methocyl trên  
vòng thơm.  
4
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
Lignin gỗ mềm chứa hầu hết những đơn vị guaiacyl (1 nhóm methocyl), lignin  
gỗ cứng cũng chứa số lượng cân bằng guaiacyl và suringyl (2 nhóm methocyl),  
các lignin khác chứa cả p-hydroxylphenyl ( không có nhóm methocyl), và cả 2 loại  
kia (Nguyễn Thị Thanh Kiều, 2004; J.F.Kennedy, 1989).  
1.1.1.3.  
Hemicellulose  
Cũng là một phần polysaccharide thường gặp trong vách tế bào thực vật với  
hàm lượng lớn sau cellulose. Tuy nhiên cellulose, hemicellulose được không chỉ  
một đường mà nhiều đường khác nhau, thậm chí cả từ acid urnoic của chúng.  
Người ta gọi tên cụ thể 1 loại hemicelluloses là dựa theo tên loại đường chủ yếu  
tạo nên nó. Ví dụ: xylan là một hemicelluloses mà thành phần chủ yếu của nó là  
xyloza, manan – manoza,… Trong gỗ cây lá kim, chủ yếu lá hemicellulose được  
tạo nên từ loại đường 6 cacbon: galactam, manan… Khác với cellulose, phân tử  
hemicelluloses nhỏ hơn nhiều. Thông thường không quá 150 gốc đường được nối  
với nhau không chỉ bằng liên kết -1,4 mà còn bằng liên kết -1,3 và -1,6 glucoside  
tạo ra mạch ngắn và phân nhánh.  
Vì độ polymer thấp, phân nhánh và hỗn hợp nhiều đường nên hemicellulose  
không có cấu trúc chặt chẽ như ở cellulose và độ bền hóa lý cũng thấp hơn.  
Hemicellulose để tan trong dung dịch kiềm, trong mước nóng và dễ bị phân hủy  
bởi acid lỏng.  
Xylan là một hemicellulose phổ biến nhất trong tự nhiên chiếm 30% khối lượng  
rơm, 20 – 25% cây gỗ lá rộng, 7 – 17% cây gỗ lá kim (Nguyễn Thị Thanh Kiều,  
2004; J.F.Kennedy, 1989).  
1.1.1.4.  
Thành phần khác  
Mỗi thành phần cấu tạo nên lignin – cellulose do bản chất các liên kết hóa học,  
do mức độ polymer hóa và tính không tan trong nước là đối tượng khó phân hủy.  
Tính khó phân hủy là gia tăng lên nhiều lần khi chúng liên kết với nhau và tới các  
thành phần khác nữa thành một thể cấu trúc chặc chẽ và phức tạp.  
Các mặt phân tử cellulose không bao giở tồn tại riêng lẻ mà nhờ liên kết hydro  
giữa các phân tử tạo thành các cấu trúc lớn hơn gọi là vi sợi, dọc theo sợi có những  
5
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
vùng tại đó các phân tử sắp xếp song song và chặt khít gọi là vùng kết tinh, xen kẽ  
những vùng mà có sự sắp xếp kém trật tự và chặt chẽ là vùng vô định hình. Các vi  
sợi liên kết với nhau bằng cách đan xen ở những vùng vô định hình này.  
Các vi sợi cellulose, lignin đan xen theo những quy tắc nhất định đễ định thành  
nên cấu trúc. Với cấu trúc nhiều lớp gồm nhiều thành phần có bản chất hóa học  
khác nhau như vậy, lignin – cellulose dó độ bền vật lý cao rất khó xâm nhập đối  
với các vi sinh vật và enzyme. Hơn nữa đễ phân hủy bất cứ thành phần nào của  
phức hợp một cách hiệu quả và triệt để cần phải tác động đến thành phần khác  
(Nguyễn Thị Thanh Kiều, 2004; J.F.Kennedy, 1989).  
1.2.  
Tổng quan về nấm hoàng kim  
1.2.1. Giới thiệu về nấm hoàng kim  
Nấm bào ngư là tên gọi dùng chung cho các loài thuộc giống Pleurotus. Theo  
Singer (1975) có tất cả 39 Nấm bào ngư là tên dùng chung cho các loài thuộc  
giống Pleurotus. Theo Singer ( 1975) có tất cả 39 loài và chia thành hai nhóm lớn:  
- Nhóm ưa nhiệt trung bình( ôn hòa) kết quả thể ở nhiệt độ từ 10oC – 20oC.  
- Nhóm ưa nhiệt kết quả thể ở nhiệt độ từ 20oC – 30oC.  
Nấm hoàng kim ( Pleurotus citrinopileatus) là một trong những loài nấm bào  
ngư thuộc giống Pleurotus ưa nhiệt được phát hiện bởi nhà khoa học Singer vào  
năm 1942.  
Nấm hoàng kim có tên khoa học là Pleurotus citrinopileatus, tên tiếng Anh là  
Golden Oyster ( hàu vàng) ,tên tiếng Nhật là tamogitake. Ở Việt Nam có tên gọi là  
hoàng kim hay tên gọi khác là sò vàng.  
Nấm hoàng him có nguồn gốc ở miền đông nước Nga, là loại nấm ăn phổ biến  
ở Trung Quốc (Zhang et all, 1994), Ấn Độ (Ghosh & Chakravarty, 1986) và Nhật  
Bản.  
6
     
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
1.2.2. Vị trí và phân loại  
Nguồn: 1001 freedownloads.com  
Hình 1. 2. Nấm hoàng kim (P. citrinopileatus)  
Nấm hoàng kim được phân loại:  
Giới :  
Ngành:  
Lớp :  
Fungi  
Basidiomycota  
Agaricomycetes  
Agaricales  
Bộ  
Họ  
Chi  
:
:
Pleurotaceae  
Pleurotus  
:
Loài :  
P. citrinopileatus  
1.2.3. Đặc điểm sinh học của nấm hoàng kim  
Nấm hoàng kim là một loài thuộc chi nấm bào ngư cho nên nấm hoàng kim  
cũng có những đặc điểm sinh học chung của nấm bào ngư.  
Cây nấm có hình dạng phễu lệch gồm 3 bộ phận: mũ, phiến, và cuống nấm(  
hình 1.2). Chúng thường mọc tập trung thành từng cụm hoặc một số cây nấm  
nhóm lại với nhau…  
7
   
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
1. Mũ nấm 2. Thân nấm  
3. Cuống nấm 4. Sợi nấm  
Hình 1. 3. Nấm hoàng kim  
Chu trình sống của nấm hoàng kim bắt đầu từ đảm bào tử hữu tính nảy mầm  
cho hệ sợi tơ dinh dưỡng sơ cấp và thứ cấp và kết thúc bằng việc hình thành cơ  
quan sinh trưởng là tai nấm. Tai nấm lại sinh đảm bào tử và chu trình sống tiếp tục  
(hình 1.3) .  
Hình 1. 4. Chu trình sinh trưởng của nấm hoàng kim  
Quả thể của nấm hoàng kim (P. citrinopileatus) phát triển thành các cụm màu  
vàng nhạt với mũ nấm màu nâu vàng với bề mặt khô. Mũ rộng từ 20 – 65 mm  
đường kính. Thịt mỏng và trắng, có vị nhẹ và không có mùi mạnh.  
8
 
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
Cuốn nấm có hình trụ, màu trắng, thường cong hoặc uốn cong, dài khoảng 20 –  
50 mm và đường kính từ 2 – 8 mm. Phiến có màu trắng mang bào tử, khoảng  
cách chặt chẽ, và kéo dài xuống đến chân. Các bào tử của nấm hoàng kim có hình  
trụ hoặc hình elip.  
Quả thể nấm phát triển qua các giai đoạn (hình 1.4)  
a. Dạng san hô  
b. Dạng dùi trống  
c. Dạng phễu  
d. Dạng bán cầu lệch  
e. Dạng lá lục bình  
Hình 1. 5. Hình dạng quả thể nấm hoàng kim qua các giai đoạn phát triển  
- Dạng san hô: quả thể mới tạo thành, dạng sợi mãnh thành chum (hình  
1.4.a).  
- Dạng dùi trống: mũ xuất hiện dưới dạng khối tròn, còn cuống phát triển  
theo cả chiều ngang và chiều dài nên đường kính cuống và mũ không khác  
nhau bao nhiêu (hình 1.4.b).  
- Dạng phễu: mũ mở rộng, trong khi cuống còn ở giữa nhìn giống cái phễu(  
hình 1.4.c).  
- Dạng bán cầu lệch: cuống lớn nhanh một bên và bắt đầu lệch so với vị trí  
trung tâm của mũ (hình 1.4.d).  
- Dạng lá lục bình: cuống ngừng tăng trưởng, trong khi mũ vẫn tiếp tục tăng  
trưởng, bìa mép thẳng đến dợn sóng (hình 1.4.e).  
Nấm bào ngư nói chung và nấm hoàng kim nói riêng đều là loài có khả năng sử  
dụng lignin mạnh , nhất là thời gian khởi đầu của việc tạo quả thể nấm.  
9
 
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
1.2.4  
Đặc điểm sinh trưởng của nấm hoàng kim  
Đặc điểm sinh trưởng của nấm hoàng kim cũng giống như những loài nấm bào  
ngư thuộc chi Pleurotus khác.  
Ngoài yếu tố dinh dưỡng từ các chất có trong nguyên liệu trồng nấm hoàng kim  
thì sự tăng trưởng và phát triển của nấm có liên quan đến nhiều yếu tố khác như:  
nhiệt độ, ẩm độ, pH, ánh sáng, oxy ...  
- Nhiệt độ: Nấm hoàng kim là một loại nấm sò chịu nhiệt, sinh trưởng trong  
o
khoảng nhiệt độ tương đối rộng 21 – 29 C. Ở giai đoạn ủ tơ, một số loài  
cần nhiệt độ từ 24 – 29oC. Nhiệt độ thích hợp để nấm ra quả thể ở một  
số loài cần từ 21 – 29oC.  
- Độ ẩm: độ ẩm rất quan trọng đối với sự phát triển tơ và quả thể của  
nấm. Trong giai đoạn tăng trưởng tơ, độ ẩm nguyên liệu yêu cầu từ 50 -  
60%, còn độ ẩm không khí không được nhỏ hơn 70%. Ở giai đoạn tưới  
đón nấm ra quả thể, độ ẩm không khí tốt nhất là 70 – 95%. Ở độ ẩm  
không khí 50%, nấm ngừng phát triển và chết, nếu nấm ở dạng phễu  
lệch và dạng lá thì sẽ bị khô mặt. Nhưng nếu độ ẩm cao trên 95%, tai  
nấm dễ bị nhũn và rũ xuống.  
- pH: Nấm Hoàng kim có khả năng chịu đựng sự giao động pH tương đối  
tốt. Tuy nhiên pH thích hợp đối với hầu hết các loài nấm hoàng kim  
trong khoảng 5 – 7.  
- Ánh sáng: Yếu tố này chỉ cần thiết trong giai đoạn ra quả thể nhằm kích  
thích nụ nấm phát triển. Nhà nuôi trồng nấm cần có ánh sáng khoảng  
200 – 300 lux (ánh sáng khuếch tán – ánh sáng phòng).  
- Thông thoáng: Nấm cần có oxy để phát triển vì vậy nhà trồng cần có độ  
thông thoáng vừa phải, nhưng phải tránh gió lùa trực tiếp.  
1.2.5. Một số điểm lưu ý trong quá trình trồng nấm hoàng kim  
1.2.5.1 Nhạy cảm với môi trường  
10  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 73 trang yennguyen 19560 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đồ án Khảo sát điều kiện trồng nấm Hoàng kim (Pleurotus citrinopileatus) trên giá thể vỏ mía", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_an_khao_sat_dieu_kien_trong_nam_hoang_kim_pleurotus_citri.pdf