Khóa luận Khảo sát tỉ lệ phân bố và tình trạng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus ở một số tỉnh thuộc khu vực phía Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  
KHẢO SÁT TỈ LỆ PHÂN BỐ VÀ TÌNH TRẠNG ĐỀ  
KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN  
STAPHYLOCOCCUS Ở MỘT SỐ TỈNH THUỘC KHU  
VỰC PHÍA NAM  
Ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC-THỰC PHẨM -MÔI TRƢỜNG  
Chuyên ngành:  
VI SINH THỰC PHẨM  
Giảng viên hƣớng dẫn :TH.S DIỆP THẾ TÀI  
Sinh viên thực hiện :NGUYỄN THỊ NGỌC HƢƠNG  
MSSV: 1311100988  
Lớp: 13DSH01  
TP. Hồ Chí Minh, 2017  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  
KHẢO SÁT TỈ LỆ PHÂN BỐ VÀ TÌNH TRẠNG ĐỀ  
KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN  
STAPHYLOCOCCUS Ở MỘT SỐ TỈNH THUỘC KHU  
VỰC PHÍA NAM  
Ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC- THỰC PHẨM -MÔI TRƢỜNG  
Chuyên ngành:  
VI SINH THỰC PHẨM  
Giảng viên hƣớng dẫn :TH.S DIỆP THẾ TÀI  
Sinh viên thực hiện :NGUYỄN THỊ NGỌC HƢƠNG  
MSSV: 1311100988  
Lớp: 13DSH01  
TP. Hồ Chí Minh, 2017  
Đồ án tốt nghiệp  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và đƣợc sự hƣớng  
dẫn khoa học của Ths. Diệp Thế Tài. Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài  
này là trung thực và chƣa công bố dƣới bất kỳ hình thức nào trƣớc đây. Những số liệu  
trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá đƣợc chính tác giả  
thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 08 năm 2017  
I
 
Đồ án tốt nghiệp  
LỜI CẢM ƠN  
Đầu tiên, cho phép tôi đƣợc gửi lời cảm ơn chân thành tới ThS. Diệp Thế Tài  
ngƣời đã nhiệt tình hƣớng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài  
của mình. Tôi cũng gửi lời cảm ơn tới tất cả nhân viên thuộc phòng Vi khuẩn 1 – Vi  
khuẩn Đƣờng ruột, Khoa Vi sinh Miễn dịch, Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh  
đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi thực hiện tốt công việc của mình trong suốt thời  
gian qua.  
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu Trƣờng Đại học Công  
Nghệ TP.HCM cùng toàn thể Thầy, Cô khoa Công Nghệ Sinh Học đã truyền dạy  
kiến thức chuyên ngành để tôi có đủ khả năng hoàn thành đề tài.  
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình tôi vì đã luôn luôn là hậu  
phƣơng vững chắc giúp đỡ và động viên tôi không từ bỏ việc học của mình.  
Xin cảm ơn tới tất cả các bạn học lớp 13DSH01, những ngƣời đã cùng tôi  
vƣợt qua thời gian học tập và sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh.  
Xin chân thành cảm ơn!  
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 08 năm 2017  
Sinh viên thực hiện  
Nguyễn Thị Ngọc Hƣơng  
II  
 
Đồ án tốt nghiệp  
MỤC LỤC  
III  
 
Đồ án tốt nghiệp  
IV  
Đồ án tốt nghiệp  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
BHI  
BP  
Brain Heart Infusion  
Baird Paker Agar  
Mueller Hinton Agar  
Luria-Bertani  
MH  
LB  
TBE  
VRSA  
MRSA  
S.aureus  
PCR  
FOX  
CN  
Tris-borate-EDTA  
Vancomycin-resistant Staphylococcus aureus  
Methicillin-resistant Staphylococcus aureus  
Staphylococcus Aureus  
Polymerase Chain Reaction  
Cefoxitin  
Gentamicin  
CIP  
Cipro  
VA  
Vancomycine  
NA  
Clindamycin  
AZM  
DO  
Azithromycin  
Doxycicline  
VI  
 
Đồ án tốt nghiệp  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
VII  
 
Đồ án tốt nghiệp  
MỞ ĐẦU  
1. Đặt vấn đề  
Vi khuẩn gây bệnh là một trong những nguyên nhân hàng đầu lấy đi sinh mạng của  
rất nhiều ngƣời trên thế giới. Nhƣng ngày nay, việc con ngƣời sản xuất thành công  
thuốc kháng sinh đƣợc xem là bƣớc tiến vĩ đại của ngành y học. Các bệnh nhiễm khuẩn  
trên ngƣời hiện nay đều có thể điều trị bằng kháng sinh. Ban đầu, dƣới tác dụng của  
một liệu trình kháng sinh, đa số vi khuẩn bị giết chết nhƣng sẽ có một số ít tồn tại và  
phát triển theo nguyên lý chọn lọc tự nhiên của Darwin. Vi khuẩn sẽ kháng thuốc bằng  
cách sản sinh ra enzyme mới phù hợp để phân huỷ kháng thể. Nếu chúng ta lạm dụng  
kháng sinh dùng với mục đích dự phòng hoặc dùng không đủ liều lƣợng, số ngày qui  
định sẽ dẫn đến vi khuẩn không bị tiêu diệt ngày càng nhiều và trở nên kháng thuốc rất  
nguy hiểm.  
Tình hình đề kháng kháng sinh của S.aureus đã trở thành một vấn đề thời sự của y  
tế thế giới. Tại Việt Nam: vấn đề này cũng không ngoại lệ, các bệnh nhiễm khuẩn vẫn  
luôn đƣợc đặt vào mối quan tâm hàng đầu của ngành y tế và hiện nay đã có nhiều  
nghiên cứu khoa học cảnh báo về tình trạng này.  
Sở dĩ S.aureus đƣợc quan tâm nhiều nhƣ vậy bởi vì vi khuẩn này là tác nhân gây  
bệnh nguy hiểm đứng đầu danh sách các tác nhân thƣờng gặp nhất trong các bệnh  
viện. Chúng gây ra nhiều ca nhiễm trùng trầm trọng cho ngƣời nhƣ: viêm da mãn  
tính, viêm xƣơng khớp, áp-xe ở các vị trí sâu, nhiễm trùng vết thƣơng, viêm phổi,  
viêm màng tim, viêm cơ tim, viêm màng não…S.aureus có khả năng kháng kháng  
sinh rất nhanh, kéo dài thời gian nằm viện, tăng chi phí và làm tăng tỉ lệ tử vong.  
Với tình hình kháng kháng sinh ngày càng gia tăng nhanh thì trong tƣơng lai gần có  
thể dẫn đến tình trạng không còn đủ kháng sinh cho việc điều trị các bệnh nhiễm  
khuẩn và loài ngƣời sẽ trở lại thời kỳ không có kháng sinh.  
Các nghiên cứu tại Viện Pasteur Nha Trang và Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí  
Minh (TP.HCM) từ năm 2006 đến năm 2011 cũng cho thấy S.aureus ngày càng đề  
kháng với nhiều loại kháng sinh và tỉ lệ MRSA cũng ngày càng gia tăng.  
1
   
Đồ án tốt nghiệp  
Vì thế việc xác định kháng sinh đặc hiệu cho từng loại vi khuẩn là điều cần thiết  
để hỗ trợ cho bác sĩ trong việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn và việc sử dụng đúng  
kháng sinh trong điều trị sẽ rút ngắn đƣợc thời gian điều trị, làm giảm thiểu đáng kể  
về chi phí, vật chất và tinh thần của ngƣời bệnh, đồng thời cũng hạn chế tỉ lệ  
S.aureus kháng kháng sinh trong cộng đồng. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu  
tỉ lệ phân bố của vi khuẩn Staphylococcus và tình trạng đề kháng kháng sinh của  
chúng ở một số tỉnh thuộc khu vực phía nam.  
Kết quả nghiên cứu nhằm góp phần cung cấp cho các bác sĩ lâm sàng mức độ đề  
kháng kháng sinh của vi khuẩn. Từ đó, đề ra hƣớng chuẩn đoán và điều trị thích hợp,  
rút ngắn thời gian điều trị và sử dụng kháng sinh đạt hiệu quả nhất.  
2. Tình hình nghiên cứu  
Năm 1945, Alexander Fleming ngƣời tìm ra penicillin, đã cảnh báo rằng việc  
lạm dụng kháng sinh có thể dẫn đến tình trạng chọn lọc tự nhiên ở vi khuẩn. Năm  
1946 báo cáo từ một bệnh viện có 14% chủng staphylococcus đề kháng với  
penicillin, đến cuối thập kỷ này tỉ lệ chủng staphylococcus kháng thuốc tăng lên đến  
59% ở bệnh viện này.  
Vài năm sau đó, con ngƣời chống lại S. aureus đề kháng bằng cách tìm ra kháng  
sinh mới là nhóm methicillin. Nhƣng đến năm 1961, S.aureus lại đề kháng  
methicillin  
để  
đƣợc  
gọi  
tên MRSA (Methicillin-resistant Staphylococcus  
aureus).Tuy nhiên vào năm 1961 tại Anh, và tình trạng đề kháng này bắt đầu ngày  
càng gia tăng, đến năm 1993 có 51 ca tử vong liên quan đến MRSA, năm 2005 có  
1.629 ca tử vong, năm 2006 có 1.652 ca tử vong, tỷ lệ tử vong liên quan đến  
MRSA chiếm đến 50% .  
Khi đó, muốn chống lại MRSA phải dùng vancomycin là kháng sinh quý hiếm,  
dự trữ sau cùng. Đến năm 1997, tai họa lại đến là vì MRSA đề kháng đƣợc cả  
vancomycin VRSA(Vancomycin-resistant Staphylococcus aureus). Hiện nay,  
tên MRSA, VRSA đƣợc xem là nỗi kinh hoàng của giới chức y tế. Chỉ riêng MRSA  
hằng năm gây chết khoảng 20.000 ngƣời ở Mỹ, vƣợt xa HIV/AIDS.  
2
 
Đồ án tốt nghiệp  
Từ tháng 8/2012- tháng 8/2013, một nghiên cứu tại phòng Vi sinh bệnh phẩm,  
khoa LAM Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh với 143 chủng S.aureus về tỉ lệ đề  
kháng kháng sinh của S.aureus trong 4.299 bệnh phẩm, cho thấy: S.aureus chiếm  
23,6% (n=143), đa số đƣợc phân lập từ bệnh phẩm mủ (36,3%), dịch âm đạo  
(18,9%), nƣớc tiểu (11,9%) và phân (10,5%) (n=143). Qua kết quả từ kháng sinh đồ,  
tỉ lệ đề của S.aureus với các KS là 93,7% với Penicilline G, 65,0% với  
Erythromycine, 60,8% với Kanamycine, 58% với Clindamycine. Tỉ lệ MRSA là  
39,2% và MSSA là 60,8%.  
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học con ngƣời đã tao ra nhiều loại kháng  
sinh mới để điều trị các chủng vi khuẩn khác cùng với chủng vi khuẩn kháng thuốc.  
Nhƣng thời gian dùng diễn ra không dài lại xuất hiện những vi khuẩn kháng lại  
những kháng sinh mới sử dụng, con ngƣời đã trở nên thất thế trong việc chạy đua  
với sự biến đổi của vi khuẩn. Kháng kháng sinh đã thực sự trở thành mối đe dọa với  
con ngƣời và nó xảy ra nhƣ một hiện tƣợng tất yếu của quy luật tƣơng sinh tƣơng  
khắc trong tự nhiên.  
Thực tế ngày càng nhiều các nhiễm khuẩn bệnh viện gây ra do Tụ cầu, các nhiễm  
khuẩn này xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhiều khoa phòng và đơn vị điều trị.  
3. Câu hỏi nghiên cứu  
Tỉ lệ phân bố của S.aureus ở một số tỉnh thuộc khu vực phía nam là bao nhiêu?  
Tỉ lệ đề kháng kháng sinh của S.aureus phân lập đƣợc ở khu vực phía nam là bao  
nhiêu ?  
4. Mục tiêu nghiên cứu  
Mục tiêu tổng quát: Xác định tỉ lệ phân bố và tỉ lệ đề kháng kháng sinh của  
S.aureus trong các mẫu nƣớc, thực phẩm, bệnh phẩm ở khu vực phía nam từ tháng  
12/2016 đến tháng 06/2017.  
Mục tiêu cụ thể:  
Xác định tỉ lệ phân bố của S.aureus trong các mẫu môi trƣờng, thực  
phẩm, bệnh phẩm ở 5 tỉnh thành Bến Tre, Bình Phƣớc, Sóc Trăng, An  
Giang, TP.HCM.  
3
 
Đồ án tốt nghiệp  
Xác định tỉ lệ đề kháng 7 loại kháng sinh của S.aureus trong các loại mẫu  
môi trƣờng, thực phẩm, bệnh phẩm ở 5 tỉnh thành Bến Tre, Bình Phƣớc,  
Sóc Trăng, An Giang, TP.HCM.  
Xác định tỉ lệ S.aureus kháng Methicillin (MRSA) trong các loại mẫu  
môi trƣờng, thực phẩm, bệnh phẩm ở 5 tỉnh thành Bến Tre, Bình Phƣớc,  
Sóc Trăng, An Giang, TP.HCM.  
4
Đồ án tốt nghiệp  
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
1.1. Tụ cầu khuẩn Staphylococcus aureus  
1.1.1. Tình hình phân bố của Staphylococcus aureus  
1.1.1.1. Trên thế giới  
Năm 1878, Robert Koch phát hiện Staphylococcus aureus sau khi thực hiện  
phân lập từ mủ ung nhọt.  
Năm 1880 Louis Paster cũng đã thực hiên tiến hành phân lập và nghiên cứu về  
Staphylococcus aureus.  
Ngày 09/04/1880 bác sĩ ngƣời Scotland Alexander Ogston đã trình bày tại hội  
nghị lần thứ 9 hội phẫu thuật Đức một báo cáo khoa học, trong đó ông sử dụng khái  
niệm tụ cầu khuẩn (staphylococcus) và trình bày tƣơng đối đầy đủ vai trò của vi  
khuẩn này trong các bệnh lý sinh mủ lâm sàng.  
Đến năm 1881 Ogston đã thành công trong việc gây bệnh thực nghiệm, đây là  
tiền đề cho những nghiên cứu về S.aureus sau này.  
Đến năm 1884 Rosenbach đã thực hiện một loạt các nghiên cứu tỉ mỉ hơn về vi  
khuẩn này. Và ông đã đặt tên cho vi khuẩn này là Staphylococcus aureus.  
Năm 1926 Julius von Daranyi là ngƣời đầu tiên phát hiện mối tƣơng quan giữa  
sự hiện diện hoạt động men coagulase huyết tƣơng của vi khuẩn với khả năng gây  
bệnh của nó. Tuy nhiên mãi đến năm 1948 phát hiện này mới đƣợc chấp nhận rộng  
rãi.  
Từ năm 1988 đến 1992, S. aureus gâyra5,1%trongsốcác vụngộđộc ởChâuÂu  
(G.Normannovàctv, 2005).  
Từnăm1988đén1996, ở Đức xảy ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm do tụ cầu gây ra  
và vào năm 2000 lại xảy ra một vụdịchlàm297ngƣời bịngộđộccũngdotácnhânlàtụcầu  
(Viktoria Atanassovavà ctv, 2001).  
Từ năm 1986 đến năm1995, ởĐài Loan vi khuẩn S. aureus chiếm 30% trong số  
các vụ dịch. Vào tháng 6năm2000, vụngộđộcthực phẩmdotụcầutại mộttrƣờngtrunghọc  
ở Taichung County làm 10 trong số 356 học sinh có biểu hiện ngộ độc 2-3 giờ sau  
khiăn sáng (H.-L. WeivàC.-S. Chiou, 2002) .  
5
       
Đồ án tốt nghiệp  
Tại Brazil, vào tháng 2 và tháng 5 năm 1999 đã xảyrahaivụdịchlàm378ngƣờibịngộđộc  
do dùng phomai và sữatƣơicónhiễmtụcầu(L. SimeaxodoCarmovàctv,2002).  
Tại Pháp, năm 1997 ngƣờitatìmthấy S. Aureus là tác nhân gây ra 569 trong tổng  
số 1142 vụ ngộ độc thực phẩm (J.P. Rosec và O.Gigaud, 2002).  
Ở Nhật, từ năm 1994 đến năm 1998 số trƣờng hợp ngộ độc do tụ cầu chiếm  
3,1-11,9% tổng số các vụ ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn. Ngày 17/6/1999, 21  
trong số 53 công nhân sau khi ăn trƣa tạicăntincôngtyởShizuokaPrefecter thìcóbiểu hiện  
bệnh,trong đó có 8trƣờnghợp phải nhậpviện(NorinagaMiwavàctv, 2000).  
1.1.1.2 Tại Việt Nam  
Theo đánh giá của tổ chức ý tế thế giới, hàng năm Việt Nam có khoảng  
trên 3 triệu ca ngộ độc thực phẩm, gây tổn hại trên 200 triệu USD. Trong những  
năm gần đây số vụ ngộ độc thực phẩm ở nƣớc ta ngày càng gia tăng.  
Năm 2000 có 213vụ ngộ độc thực phẩm với 4233 ngƣời mắc 59 ngƣời tử vong  
(Bùi Thế Hiền, Tô ThịThu và cộng sự, 2003).  
Theo số liệu từ cục Quản lý chất lƣợng vệ sinh an toàn thực phẩm, trong những  
vụdịch đƣợc tổngkết từnăm1997đến 2002 thì ngộđộc thực phẩmdotácnhânvisinhvật chiếm  
tỷlệcao từ40-45% trong các loạigâyngộđộc, trong sốđó có nhiều vụđƣợcxácđịnh tác nhân là  
Staphylococcus aureus.  
Từ năm2002đến2004theosốliệucủatrungtâmytếdự phòngđãcó77vụngộđộc thực  
phẩm mà phần lớn nguyên nhân là do thức ăn bị nhiễm khuẩn, chiếm  
66%(NguyễnLýHƣơngvàctv, 2005).  
Từ dữ liệu của Cục vệ sinh an toàn thực phẩm thì năm 2005 số vụ ngộ độc  
thực phẩm ở nƣớc ta là 141 vụ, làm 4291 ngƣời bị ngộ độc, trong đó có 73 vụ  
(51,8%) là do vi sinh vật gây ra. Từ tháng 1/2006 đến tháng 3/2006, có 18  
vụ ngộ độc thực phẩm,trong đó vi sinh vậtgâyra5vụ(27,8%).  
1.2 Đặc điểm và phân loại tụ cầu khuẩn (Staphylococcus aureus)  
1.2.1 Giới thiệu  
S.aureus (hay còn gọi là Tụ cầu vàng) có dạng hình cầu, đƣờng kính 0,5 –  
1,5µm, không di động, không sinh nha bào. Trên phiến phết nhuộm Gram: vi khuẩn  
6
     
Đồ án tốt nghiệp  
có thể đứng riêng lẻ, từng đôi, bốn con hoặc xếp thành hình chùm nho, bắt màu  
Gram dƣơng, nhƣng đôi khi chúng bắt màu Gram âm trong những lứa cấy già.  
S.aureus thuộc nhóm tụ cầu có men coagulase nên trên môi trƣờng thạch máu  
gây tiêu huyết, trên môi trƣờng đặc mọc khuẩn lạc màu trắng sứ hoặc trắng ngà  
hoặc màu vàng.  
S.aureus phân bố khắp nơi trong tự nhiên nhƣ đất, nƣớc, không khí. Quần thể tụ  
cầu khuẩn phổ biến có thể sống trên cơ thể của ngƣời. Rất nhiều ngƣời khỏe mạnh  
có mang S.aureus nhƣng không bị nhiễm bệnh, chúng đƣợc gọi là “tạo khóm”. Khi  
những vi khuẩn này gây bệnh thì ngƣời bị bệnh đƣợc gọi là “nhiễm” S.aureus.  
Trong đa số trƣờng hợp, S.aureus không gây ra vấn đề gì hoặc chỉ gây nhiễm khuẩn  
nhẹ nhƣ nổi mụn mủ hoặc bóng nƣớc. Nhƣng trong một số trƣờng hợp, S.aureus có  
thể gây nhiễm khuẩn trầm trọng hơn.  
Tỷ lệ ngƣời mang vi khuẩn tụ cầu vàng trên da hoặc niêm mạc vào khoảng từ  
10 đến 90%. Các khu vực cƣ trú thƣờng gặp của tụ cầu vàng là tiền đình mũi, tóc,  
nách và nếp hậu môn. Đây là nguồn lây chéo trong các đơn vị hồi sức, đặc biệt là ở  
các bệnh nhân suy giảm miễn dịch nhƣ đái tháo đƣờng, bệnh nhân AIDS hoặc xơ  
gan. Chủng vi khuẩn nguy hiểm trong các khu vực này là tụ cầu vàng đề kháng với  
methicillin.  
1.2.2 Phân loại tụ cầu vàng  
Phân loại của vi khuẩn Staphylococcus Aureus nhƣ sau:  
Giới:  
Prokaryote  
Phân loại: Firmicute  
Lớp:  
Họ:  
Firmibacteria  
Micrococceae  
Giống:  
Staphylococcus  
1.2.3 Đặc điểm sinh học  
1.2.3.1 Hình thể và tính chất bắt màu của Stphylococcus aureus  
Staphylococcus aureus thuộc giống Staphylococcus, do đó mang những tính  
chất chung của Staphylococcus.Tụ cầu vàng là những vi khuẩn hình cầu có đƣờng  
7
     
Đồ án tốt nghiệp  
kính 0,8 - 1μm đứng tụ lại với nhau thành từng đám nhƣ chùm nho; đôi khi có thể  
đứng riêng rẽ hoặc thành từng đôi hay từng chuỗi ngắn. Tụ cầu thƣờng không có vỏ,  
không có lông, không di động, không sinh nha bào, bắt màu Gram dƣơng.  
Hình 1.1. Hình thái Staphylococcus aureus  
(Nguồn: www.impe-qn.org.vn)  
Hình 1.2. Tụ cầu Staphylococcus aureus gram dƣơng dƣới kính hiển vi  
8
     
Đồ án tốt nghiệp  
1.2.3.2 Nuôi cấy  
Tụ cầu vàng thuộc loại vi khuẩn hô hấp hiếu khí kỵ khí tuỳ nghi, phát triển dễ  
dàng trên các môi trƣờng nuôi cấy thông thƣờng. Tụ cầu vàng có khả năng phát  
o C  
triển đƣợc ở khoảng nhiệt độ dao động từ 10 - 45  
muối cao tới 10%.  
và môi trƣờng có nồng độ  
Trong môi trƣờng canh thang sau 5 - 6 giờ vi khuẩn đã phát triển mạnh và làm  
đục đều môi trƣờng, để lâu đáy có lắng cặn.  
Hầu hết các dòng S. aureus đều tạo sắc tố vàng, nhƣng các sắc tố này ít thấy  
khi quá trình nuôi cấy còn non mà thƣờng thấy rõ sau 1-2 ngày nuôi cấy ở nhiệt độ  
phòng. Sắc tố đƣợc tạo ra nhiều hơn trong môi trƣờng có hiện diện lactose hay các  
nguồn hidrocacbon khác mà vi sinh vật này có thể bẻ gãy và sử dụng (Collin C.H và  
cs, 1995).  
Trên môi trƣờng BP (Baird Parker), khuẩn lạc đặc trƣng của S. aureus có màu  
đen nhánh, bóng, lồi, đƣờng kính 1-1,5 mm, quanh khuẩn lạc có vòng sáng rộng 2-5  
mm (do khả năng khử potassium tellurite và khả năng thủy phân lòng đỏ trứng của  
lethinase) (Rosamund M B. và cs, 1995; Mary K. S. và cs, 2002).  
Trên môi trƣờng MSA (Manitol salt agar) hay còn gọi là môi trƣờng Chapman,  
khuẩn lạc tròn, bờ đều và lồi, màu vàng nhạt đến vàng đậm và làm vàng môi trƣờng  
xung quanh khuẩn lạc (do lên men đƣờng manitol) (Mary K. S. và cs, 2002).  
Một số dòng S. aureus có khả năng gây tan máu trên môi trƣờng thạch máu,  
vòng tan máu phụ thuộc vào từng chủng nhƣng chúng đều có vòng tan máu hẹp hơn  
so với đƣờng kính khuẩn lạc.  
Khuẩn lạc tụ cầu vàng dạng S, kích thƣớc khoảng 1 – 2mm, tan máu hoàn  
toàn, có màu vàng.  
Khuẩn lạc tụ cầu khác: dạng S, kích thƣớc khoảng 1 – 2mm, có màu trắng và  
thƣờng không gây tan máu.  
9
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 65 trang yennguyen 22740 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Khảo sát tỉ lệ phân bố và tình trạng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus ở một số tỉnh thuộc khu vực phía Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_khao_sat_ti_le_phan_bo_va_tinh_trang_de_khang_khan.pdf