Đồ án Đánh giá chất lượng nước ven biển do hoạt động nuôi trồng hải sản tại thị xã Vạn Giã, tỉnh Khánh Hòa

ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
------------------------------  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC VEN BIỂN DO HOẠT  
ĐỘNGNUÔI TRỒNG HẢI SẢN  
TẠI THỊ XÃ VẠN GIÃ, TỈNH KHÁNH HÒA  
NGÀNH: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG  
CHUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG  
GVHD: TS. Bùi VIệt Hưng  
SVTH: Lê Phạm Hữu Vinh  
MSSV : 1311090741  
Tp HCM, Tháng 8/2017  
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này trước hết em xin gửi lời cảm ơn chân thành  
đến trường Đại học Công nghệ TP.HCM đã tạo điều kiện cho em được làm đồ án, cảm ơn  
các thầy cô trong khoa Công nghệ sinh học – Thực phẩm – Môi trường đã dạy em nhiều  
kiến thức bổ ích trong quá trình học tập.  
Em xin gửi đến thầy TS. Bùi Việt Hưng, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em  
hoàn thành đồ án tốt nghiệp này lời cảm ơn sâu sắc nhất.  
Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh  
Khánh Hòa đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được tìm, thu thập tài liệu trong suốt quá  
trình làm đồ án.  
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Th.S Lê Viêt Quang đã giúp em tận  
tình, giải thích thêm các kiến thức về nông – lâm – thủy sản, hướng dẫn và cho phép sử  
dụng phòng thí nghiệm của thầy.  
Vì kiến thức bản thân còn hạn chế, trong suốt quá trình làm và hoàn thiện đồ án  
không tránh khỏi sai sót, kính mong nhận được ý kiến đóng góp từ thầy cô.  
 
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan: đồ án tốt nghiệp “ Đánh giá tác động môi trường và ứng dụng WQI  
đánh giá chất lượng nước bieern ven bờ tại thị xã Vạn Giã, tỉnh Khánh Hòa” là công trình  
nghiên cứu của cá nhân tôi và không sao chpes bất cứ ai. Tôi xin chịu trách nhiệm về  
công trình nghiên cứu của mình  
Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày  
Lê Phạm Hữu Vinh  
3
 
TÓM TẮT  
Sự phát triển kinh tế xã hội làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường tại thị xã Vạn Giã. Đồ  
án “Đánh giá tác động môi trường và ứng dụng WQI đánh giá chất lượng nước biển ven  
bờ thị xã Vạn Giã, tỉnh Khánh Hòa” thực hiện với mục đích đánh giá môi trường nước  
biển ven bờ, đồng thơi đưa ra các giải pháp kỹ thuật, quản lý nhằm theo dõi diễn biến và  
cảnh báo, phòng chống ô nhiễm môi trường, nâng cao nhận thức của mọi người trong  
việc bảo vệ môi trường. Phương pháp thực hiện gồm 3 phương pháp: Phương pháp thu  
thập tài liệu, phương pháp thực địa lấy mẫu phân tích, phương pháp phân tích bằng công  
cụ WQI. Phân tích mẫu tại 3 vị trí khác nhau, có 2 vị trí xác định bị ô nhiễm trong đó có  
1 vị trí ô nhiễm nghiêm trọng. Từ những phương pháp trên, xác định được nguyên nhân  
gây ô nhiễm môi trường nước tại thị xã Vạn Giã: do hoạt động sinh hoạt của dân, do nuôi  
trồng thủy sản, tàu bè… đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quản lý để cải thiện môi trường  
nước ven bờ.  
 
ABSTRACT  
Socio-economic development increases the risk of environmental pollution in Van Gia  
Town. The project "Environmental Impact Assessment and WQI application for assessing  
coastal water quality in Van Gia town, Khanh Hoa province" is carried out for the purpose of  
evaluating coastal water environment, finding suitable solution in technical, management to  
follow the level of pollution and warning, preventing environmental pollution, raising awareness  
of people in environmental protection. The process consists of three methods: data collection,  
sampling analysis, analysis with WQI tool. The samples are from three different places, two of  
them have been identified to be contaminated, the other one is seriously contaminated. From the  
above methods, the causes of water pollution in Van Gia town can be identified: people’s  
activities, aquaculture, sea transportations... propose technical solutions, management to improve  
coastal water environment.  
5
 
MỤC LỤC  
1
 
2
DANH MỤC BẢNG  
Bảng 3 quy định các giá trị qi, BPi ....................................................................................30  
Bảng 4 quy định các BPi và qi đối với DO% bão hòa.............................................................31  
Bảng 8 Dự kiến những tổn hại đến môi trường khi nuôi trồng thủy sản...........................37  
3
 
DANH MỤC HÌNH  
4
 
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
Ủy ban Kinh tế Châu Âu  
UN/ECE  
FAO  
Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hiệp Quốc  
Quy chuẩn Việt Nam  
QCVN  
BTNMT  
WQI  
Bộ Tài Nguyên và Môi Trường  
Chỉ số chất lượng nước - Water Quality Index-WQI  
Hệ thống thông tin địa lý - Geographic Information System  
Công nghiệp – Trung tâm công nghiệp  
Nông nghiệp – Phát triển nông thôn  
Quyết định  
GIS  
CN – TTCN  
NN – PTNT  
QĐ  
TCMT  
DO  
Tiêu chuẩn môi trường  
Hàm lượng oxy hòa tan trong nước  
Nhu cầu oxy sinh hóa  
BOD  
COD  
Nhu cầu oxy hóa học  
SS  
Tổng lượng chất rắn lơ lửng trong nước  
5
PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Nuôi các loài động vật giáp xác (như tôm, cua, tôm hùm), cá, nhuyễn thể và trồng  
rong biển ở các vùng nước ven bờ và các bãi triều đang được phát triển nhanh chóng ở  
nhiều tỉnh ven biển nước ta. Các tỉnh ven biển nước ta có tiềm năng rất lớn để mở rộng  
các hoạt động nuôi trồng thủy sản ven biển, chính phủ đang dành ưu tiên cao cho phát  
triển ngành sản xuất này trong tương lai. Do môi trường ven biển có hệ sinh thái đa dạng  
gồm nhiều các loài động, thực vật và phù du phù hợp cho việc phát triển kinh tế.  
Phát triển nuôi trồng thủy sản ven biển đã mang lại một nguồn thu nhập quan trọng  
và góp phần xoá đói giảm nghèo ở các cộng đồng cư dân ven biển. Nuôi trồng thuỷ sản  
cũng mang lại một nguồn thu ngoại tệ lớn cho nước nhà. Tuy nhiên, do công tác quản lý  
môi trường còn yếu hoặc thiếu nhân lực chuyên môn nên có nhiều vấn đề chưa xử lý  
trong vấn đề môi trường ven biển.  
Ở nước ta, hiện nay, nhiều nơi tổn thất rừng ngập mặn và đa dạng sinh học, bùng nổ  
bệnh tôm, ô nhiễm nước cục bộ đã từng phát sinh và ảnh hưởng đến tính bền vững của  
nuôi trồng thuỷ sản và cuộc sống của nhân dân vùng ven biển. Vì vậy, cần phải tăng  
cường công tác quản lý môi trường nuôi trồng thuỷ sản ven biển trên toàn quốc. Khu vực  
ven biển thị xã Vạn Giã là một điển hình cho việc phát triển kinh tế nhưng môi trường  
ven biển vẫn chưa được chú trọng, công tác quản lý môi trường đã có nhiều chính sách  
giải quyết và từng bước thực hiện nhưng vẫn chưa đạt hiệu quả.  
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là một công cụ được sử dụng nhằm cải thiện  
công tác quản lý môi trường đối với các dự án phát triển nuôi trồng thuỷ sản ven biển. Sử  
dụng đánh giá tác động môi trường sẽ giúp các ngành và chính phủ đánh giá được những  
tác động môi trường tiềm ẩn, nhằm xác định các hành động quản lý giảm thiểu các vấn đề  
môi trường. Trên cơ sở đó, đè tài: đánh giá tác động môi trường và chất lượng nước biển  
ven bờ tại Vạn Giã, tỉnh Khánh Hòa sẽ cung cấp cơ sở đánh giá và xác định chất lượng  
môi trường nước biển ven bờ, phục vụ cho việc nghiên cứu, quản lý môi trường, đánh giá  
chất lượng nước.  
6
   
2. Mục đích nghiên cứu  
Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước biển ven bờ thị xã Vạn Giã, qua đó  
đề xuất giải pháp kỹ thuật, quản lý nhằm bảo vệ môi trường nước biển ven bờ khu vực  
Vạn Giã, tỉnh Khánh Hòa  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu:  
Môi trường nước biển tại thị trấn Vạn Giã, Vạn Ninh – Khánh Hòa.  
Các hoạt động nuôi trồng thủy sản tại thị xã Vạn Giã, tỉnh Khánh Hòa.  
Phạm vi nghiên cứu:  
Thời gian từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2017.  
Khu vực: vùng nước ven bờ biển thị xã Vạn Giã.  
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn  
Đánh giá chất lượng nước là một công việc quan trọng có ý nghĩa trong thời đại phát  
triển kinh tế xã hội  
Việc đánh giá chất lượng nước theo dõi diễn biến và cảnh báo, phòng chống ô nhiễm  
môi trường, góp phần nâng cao nhận thức của mọi người trong việc bảo vệ môi trường  
đảm bảo phát triển kinh tế xã hội bền vững.  
Là nguồn dữ liệu để phân vùng chất lượng nước, cung cấp thông tin môi trường một  
cách đơn giản, dễ hiểu, trực quan. Nâng cao trách nhiệm trong việc quản lý môi trường,  
7
     
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN  
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
1.1.1 Khái niệm  
Tài nguyên nước là nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào  
những mục đích khác nhau. Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công  
nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường. Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt.  
Nước bao phủ 71% diện tích quả đất trong đó có 97% là nước mặn, còn lại là nước  
ngọt. Nước giữ cho khí hậu tương đối ổn định và pha loãng các yếu tố gây ô nhiễm môi  
trường, nó còn là thành phần cấu tạo chính yếu trong cở thể sinh vật, chiến từ 50-97%  
trọng lượng của cơ thể, chẳng hạn như ở người nước chiếm 70% trọng lượng cơ thể và ở  
sứa nước chiếm tới 97%. Trong 3% lượng nước ngọt có trên trái đất có khoảng 2/3 lượng  
nước mà con người không sử dụng được vì nó nằm quá sâu trong lòng đất, bị đóng băng,  
ở dạng hơi trong khí quyển và ở dạng tuyết trên lục địa… chỉ có 0.5% nước ngọt hiện  
diện trong sông, suối, ao hồ mà con người đã và đang sử dụng. Tuy nhiên nếu ta trừ phần  
nước bị ô nhiễm ra thì chỉ có khoảng 0.003% là nước ngọt sạch mà con người có thể sử  
dụng được vi nếu tính ra trung bình mỗi người được cung cấp 879000 lit nước ngọt để sử  
dụng (Miller, 1988)  
1.1.2 Các thành phần của nước  
Căn cứ vào thành phần hóa học, vật lý, chia thành các dạng sau:  
Nước ngọt  
Nước ngọt hay nước nhạt là loại nước chứa một lượng tối thiểu các muối hòa tan, đặc  
biệt là natri clorua (thường có nồng độ các loại muối hay còn gọi là độ mặn trong khoảng  
0,01 - 0,5 ppt hoặc tới 1 ppt), vì thế nó được phân biệt tương đối rõ ràng với nước lợ hay  
Tất cả các nguồn nước ngọt có xuất phát điểm là từ các cơn mưa được tạo ra do sự  
ngưng tụ tới hạn của hơi nước trong không khí, rơi xuống ao, hồ, sông của mặt đất cũng  
như trong các nguồn nước ngầm hoặc do sự tan chảy của băng hay tuyết.  
8
       
Sự cung cấp đủ lượng nước ngọt cần thiết để duy trì sự sống là một vấn đề đáng báo  
động đối với nhiều loài sinh vật, trong đó có con người, đặc biệt là ở các khu vực sa  
mạc hay các khu vực khô cằn khác,...  
Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy mà việc cung cấp nước ngọt và sạch  
trên thế giới đang từng bước giảm đi. Nhu cầu nước đã vượt cung ở một vài nước trên thế  
giới trong khi dân số thế giới vẫn đang tiếp tục tăng làm cho nhu cầu nước càng tăng. Sự  
nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước cho nhu cầu hệ sinh thái chỉ  
mới được lên tiếng gần đây.  
Đầu thế kỉ 21, rất nhiều vùng đất ngập nước trên thế giới bị biến mất cùng với môi  
trường hỗ trợ giá trị của chúng. Các hệ sinh thái nước ngọt mạng đập tính đa dạng sinh  
học hiện đang suy giảm nhanh chóng.  
Nước mặn  
Nước mặn là thuật ngữ chung để chỉ nước chứa một hàm lượng đáng kể  
các muối hòa tan (chủ yếu là NaCl). Hàm lượng này thông thường được biểu diễn dưới  
dạng phần nghìn (ppt) hay phần triệu (ppm) hoặc phần trăm (%) hay g/l.  
Các mức hàm lượng muối được USGS Hoa Kỳ sử dụng để phân loại nước mặn thành  
ba thể loại. Nước hơi mặn chứa muối trong phạm vi 1.000 tới 3.000 ppm (1 tới 3 ppt).  
Nước mặn vừa phải chứa khoảng 3.000 tới 10.000 ppm (3 tới 10 ppt). Nước mặn nhiều  
chứa khoảng 10.000 tới 35.000 ppm (10 tới 35 ppt) muối.  
Trên Trái Đất, nước biển trong các đại dương là nguồn nước mặn phổ biến nhất và  
cũng là nguồn nước lớn nhất. Độ mặn trung bình của đại dương là khoảng 35.000 ppm  
hay 35 ppt hoặc 3,5%, tương đương với 35 g/l. Hàm lượng nước mặn tự nhiên cao nhất  
có tại hồ Assal ở Djibouti với nồng độ 34,8%.  
Nước mặt  
Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước. Nước  
mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy vào đại  
dương, bốc hơi và thấm xuống đất. Lượng giáng thủy này được thu hồi bởi các lưu vực,  
tổng lượng nước trong hệ thống này tại một thời điểm cũng tùy thuộc vào một số yếu tố  
khác. Các yếu tố này như khả năng chứa của các hồ, vùng đất ngập nước và các hồ chứa  
9
nhân tạo, độ thấm của đất bên dưới các thể chứa nước này, các đặc điểm của dòng chảy  
mặt trong lưu vực, thời lượng giáng thủy và tốc độ bốc hơi địa phương. Tất cả các yếu tố  
này đều ảnh hưởng đến tỷ lệ mất nước.  
Sự bốc hơi nước trong đất, ao, hồ, sông, biển; sự thoát hơi nước ở thực vật và động  
vật,... hơi nước vào trong không khí sau đó bị ngưng tụ lại trở về thể lỏng rơi xuống mặt  
đất hình thành mưa, nước mưa chảy tràn trên mặt đất từ nơi cao đến nơi thấp tạo nên các  
dòng chảy hình thành nên thác, ghềnh, suối, sông và được tích tụ lại ở những nơi thấp  
trên lục địa hình thành hồ hoặc được đưa thẳng ra biển hình thành nên lớp nước trên bề  
mặt của vỏ trái đất.  
Trong quá trình chảy tràn, nước hòa tan các muối khoáng trong các nham thạch nơi  
nó chảy qua, một số vật liệu nhẹ không hòa tan được cuốn theo dòng chảy và bồi lắng ở  
nơi khác thấp hơn, sự tích tụ muối khoáng trong nước biển sau một thời gian dài của quá  
trình lịch sử của quả đất dần dần làm cho nước biển càng trở nên mặn. Có hai loại nước  
mặt là nước ngọt hiện diện trong sông, ao, hồ trên các lục địa và nước mặn hiện diện  
trong biển, các đại dương mênh mông, trong các hồ nước mặn trên các lục địa.  
1.1.3 Chức năng của tài nguyên nước  
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng cho tất cả các sinh vật trên quả đất.  
Nếu không có nước thì chắc chắn không có sự sống xuất hiện trên quả đất, thiếu nước thì  
cả nền văn minh hiện nay cũng không tồn tại được. Từ xưa, con người đã biết đến vai trò  
quan trọng của nước; các nhà khoa học cổ đại đã coi nước là thành phần cơ bản của vật  
chất và trong quá trình phát triển của xã hội loài người thì các nền văn minh lớn của nhân  
loại đều xuất hiện và phát triển trên lưu vực của các con sông lớn như: nền văn minh  
Lưỡng hà ở Tây Á nằm ở lưu vực hai con sông lớn là Tigre và Euphrate (thuộc Irak hiện  
nay); nền văn minh Ai Cập ở hạ lưu sông Nil; nền văn minh sông Hằng ở Ấn Ðộ; nền văn  
minh Hoàng hà ở Trung Quốc; nền văn minh sông Hồng ở Việt Nam ...  
Tóm lại: Tài nghuyên nước có 3 chức năng chính là:  
Nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào: trong các quá trình sản xuất nông  
nghiệp, công nghiệp, nước là nguồn nguyên liệu đầu vào cần thiết nhất.  
10  
 
Là nơi lưu giữ chất thải: Nước có độ ổn định cao, dễ di chuyển, kiểm soát và  
xử lý được chất thải.  
Khả năng tự làm sạch: nước tự làm sạch bằng quá trình khoáng hóa các chất  
hữu cơ và vô cơ nhờ các thủy sinh vật, động vật.  
1.1.4 Vai trò của nước đối với sản xuất phục vụ cho đời sống con người  
Trong nông nghiệp: tất cả các cây trồng và vật nuôi đều cần nước đề phát triển. Từ một  
hạt cải bắp phát triển thành một cây rau thương phẩm cần 25 lít nước; lúa cần 4.500 lít  
nước để cho ra 1 kg hạt. Dân gian ta có câu: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”,  
qua đó chúng ta có thể thấy được vai trò của nước trong nông nghiệp. Theo FAO, tưới  
nước và phân bón là hai yếu tố quyết định hàng đầu là nhu cầu thiết yếu, đồng thời còn  
có vai trò điều tiết các chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí  
trong đất, làm cho tốc độ tăng sản lượng lương thực vượt qua tốc độ tăng dân số thế giới.  
Đối với VIệt Nam, nước đã cùng với con người làm lên nền Văn minh lúa nước tại châu  
thổ sông Hồng – các nôi Văn minh của dân tộc, của đất nước, đã làm nên các hệ sinh thái  
nông nghiệp có năng xuất và tính bền vững vào loại cao nhất thế giới, đã làm nên một  
nước Việt Nam có xuất khẩu gạo đứng nhất nhì thế giới hiện nay. Nước Việt Nam theo  
nghĩa đen đúng của nó là nước – H2O (Trương Quang Học, Biên soạn, 2003. Ban KGTW,  
ĐHQGHN. Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam. Nhà xuất bản Chính  
trị quốc gia.)  
Trong Công nghiệp: Nước cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn. Nước dùng để làm  
nguội các động cơ, làm quay các tubin, là dung môi làm tan các hóa chất màu và các  
phản ứng hóa học. Để sản xuất 1 tấn gang cần 300 tấn nước, một tấn xút cần 800 tấn  
nước. Người ta ước tính rằng 15% sử dụng nước trên toàn thế giới công nghiệp như: các  
nhà máy điện, sử dụng nước để làm mát hoặc như một nguồn năng lượng, quặng và nhà  
máy lọc dầu, sử dụng nước trong quá trình hóa học, và các nhà máy sản xuất, sử dụng  
nước như một dung môi. Mỗi ngành công nghiêp, mỗi loại hình sản xuất và mỗi công  
nghệ yêu cầu một lượng nước, loại nước khác nhau. Nước góp phần làm động lực thúc  
đẩy sự phát triển kinh tế. Nếu không có nước thì chắc chắn toàn bộ các hệ thống sản xuất  
11  
 
công nghiệp, nông nghiệp…trên hành tinh này đều ngừng hoạt động và không tồn tại. Từ  
3.000 năm trước công nguyên, người Ai Cập đã biết dùng hệ thống tưới nước để trồng  
trọt và ngày nay con người đã khám phá thêm nhiều khả năng của nước đảm bảo cho sự  
phát triển của xã hội trong tương lai: nước là nguồn cung cấp thực phẩm và nguyên liệu  
công nghiệp dồi dào, nước rất quan trọng trong nông nghiệp, công nghiệp, trong sinh  
hoạt, thể thao, giải trí và cho rất nhiều hoạt động khác của con người. Ngoài ra nước còn  
được coi là một khoáng sản đặc biệt vì nó tàng trữ một nguồn năng lượng lớn và lại hòa  
tan nhiều vật chất có thể khai thác phục vụ cho nhu cầu nhiều mặt của con người,...  
(Trương Quang Học, Biên soạn, 2003. Ban KGTW, ĐHQGHN. Bảo vệ môi trường và  
phát triển bền vững ở Việt Nam. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.)  
1.1.5 Đánh giá chất lượng nước  
1.1.5.1 Chất lượng nước  
Là các đặc tính hóa học , vật lý, sinh học, và phóng xạ của nước. Nó là thước đo tình  
trạng của nước liên quan đến các yêu cầu của một hoặc nhiều loài sinh vật và hoặc cho  
bất kỳ nhu cầu hoặc mục đích của con người. Nó được sử dụng thường xuyên nhất bằng  
cách tham khảo một bộ các tiêu chuẩn mà theo đó sự tuân thủ có thể được đánh giá. Các  
tiêu chuẩn phổ biến nhất dùng để đánh giá chất lượng nước liên quan đến sức khoẻ của  
hệ sinh thái, sự an toàn của tiếp xúc của con người, và nước uống (UN/ECE 1995).  
1.1.5.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước  
a. Độ pH  
pH chỉ có định nghĩa về mặt toán học: pH = -log[H+]. pH là một chỉ tiêu cần được xác  
định để đánh giá chất lượng nguồn nước. Sự thay đổi pH dẫn tới sự thay đổi thành phần  
hóa học của nước (sự kết tủa, sự hòa tan, cân bằng carbonat…), các quá trình sinh học  
trong nước. Giá trị pH của nguồn nước góp phần quyết định phương pháp xử lý nước. pH  
được xác định bằng máy đo pH hoặc bằng phương pháp chuẩn độ.  
12  
-
2-  
Hình 1-1. Ảnh hưởng của pH đến dạng tồn tại của HCO3 , CO3 và CO2  
(nguồn: diendanmoitruong.vn)  
b. Nhiệt độ  
Nhiệt độ ảnh hưởng đến độ pH, đến các quá trình hóa học và sinh hóa xảy ra trong  
nước. Nhiệt độ phụ thuộc rất nhiều vào môi trường xung quanh, vào thời gian trong ngày,  
vào mùa trong năm…Nhiệt độ cần được xác định tại chỗ (tại nơi lấy mẫu)  
c. Màu sắc  
Nước nguyên chất không có màu. Màu sắc gây nên bởi các tạp chất trong nước  
(thường là do chất hữu cơ (chất mùn hữu cơ – acid humic), một số ion vô cơ (sắt…), một  
số loài thủy sinh vật…Màu sắc mang tính chất cảm quan và gây nên ấn tượng tâm lý cho  
người sử dụng.  
Độ màu thường được so sánh với dung dịch chuẩn trong ống Nessler, thường dùng là  
dung dịch K2PtCl6 + CaCl2 (1 mg K2PtCl6 tương đương với 1 đơn vị chuẩn màu). Độ  
màu của mẫu nước nghiên cứu được so sánh với dãy dung dịch chuẩn bằng phương pháp  
trắc quang.  
d. Độ đục  
Độ đục gây nên bởi các hạt rắn lơ lửng trong nước. Các chất lơ lửng trong nước có thể  
có nguồn gốc vô cơ, hữu cơ hoặc các vi sinh vật, thủy sinh vật có kích thước thông  
thường từ 0,1 – 10 m. Độ đục làm giảm khả năng truyền sáng của nước, ảnh hưởng tới  
quá trình quang hợp.1 đơn vị độ đục là sự cản quang gây ra bởi 1 mg SiO2 hòa trong 1 lít  
nước cất. Độ đục được đo bằng máy đo độ đục (đục kế – turbidimeter). Đơn vị đo độ đục  
theo các máy do Mỹ sản xuất là NTU (Nephelometric Turbidity Unit).  
13  
 
Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN), độ đục được xác định bằng chiều sâu lớp nước  
thấy được (gọi là độ trong) mà ở độ sâu đó người ta vẫn đọc được hàng chữ tiêu chuẩn.  
Độ đục càng thấp chiều sâu của lớp nước còn thấy được càng lớn. Nước được gọi là trong  
khi mức độ nhìn sâu lớn hơn 1 m (hay độ đục nhỏ hơn 10 NTU). Theo qui định của  
TCVN, độ đục của nước sinh hoạt phải lớn hơn 30cm.  
e. Tổng hàm lượng các chất rắn (TS)  
Các chất rắn trong nước có thể là những chất tan hoặc không tan. Các chất này bao  
gồm cả những chất vô cơ lẫn các chất hữu cơ. Tổng hàm lượng các chất rắn (TS: Total  
Solids) là lượng khô tính bằng mg của phần còn lại sau khi làm bay hơi 1 lít mẫu nước  
trên nồi cách thủy rồi sấy khô ở 105oC cho tới khi khối lượng không đổi (đơn vị tính  
bằng mg/L).  
f. Tổng hàm lượng các chất lơ lửng (SS)  
Các chất rắn lơ lửng (các chất huyền phù) là những chất rắn không tan trong nước.  
Hàm lượng các chất lơ lửng (SS: Suspended Solids) là lượng khô của phần chất rắn còn  
lại trên giấy lọc sợi thủy tinh khi lọc 1 lít nước mẫu qua phễu lọc rồi sấy khô ở 105oC cho  
tới khi khối lượng không đổi. Đơn vị tính là mg/L.  
g. Tổng hàm lượng các chất hòa tan (DS)  
Các chất rắn hòa tan là những chất tan được trong nước, bao gồm cả chất vô cơ lẫn  
chất hữu cơ. Hàm lượng các chất hòa tan DS (Dissolved Solids) là lượng khô của phần  
dung dịch qua lọc khi lọc 1 lít nước mẫu qua phễu lọc có giấy lọc sợi thủy tinh rồi sấy  
khô ở 105oC cho tới khi khối lượng không đổi. Đơn vị tính là mg/L.  
DS = TS – SS.  
h. Tổng hàm lượng các chất dễ bay hơi  
Để đánh giá hàm lượng các chất hữu cơ có trong mẫu nước, người ta còn sử dụng các  
khái niệm tổng hàm lượng các chất không tan dễ bay hơi (VSS : Volatile Suspended  
Solids), tổng hàm lượng các chất hòa tan dễ bay hơi (VDS : Volatile Dissolved Solids).  
Hàm lượng các chất rắn lơ lửng dễ bay hơi VSS là lượng mất đi khi nung lượng chất rắn  
huyền phù (SS) ở 550oC cho đến khi khối lượng không đổi (thường được qui định trong  
một khoảng thời gian nhất định).  
14  
Hàm lượng các chất rắn hòa tan dễ bay hơi VDS là lượng mất đi khi nung lượng chất  
rắn hòa tan (DS) ở 550oC cho đến khi khối lượng không đổi (thường được qui định trong  
một khoảng thời gian nhất định).  
i. Hàm lượng oxigen hòa tan  
Oxigen hòa tan trong nước (DO: Dissolved Oxygen) không tác dụng với nước về mặt  
hóa học. Hàm lượng DO trong nước phụ thuộc nhiều yếu tố như áp suất, nhiệt độ, thành  
phần hóa học của nguồn nước, số lượng vi sinh, thủy sinh vật…  
Hàm lượng oxigen hòa tan là một chỉ số đánh giá “tình trạng sức khỏe” của nguồn  
nước. Mọi nguồn nước đều có khả năng tự làm sạch nếu như nguồn nước đó còn đủ một  
lượng DO nhất định. Khi DO xuống đến khoảng 4 – 5 mg/L, số sinh vật có thể sống được  
trong nước giảm mạnh. Nếu hàm lượng DO quá thấp, thậm chí không còn, nước sẽ có  
mùi và trở nên đen do trong nước lúc này diễn ra chủ yếu là các quá trình phân hủy yếm  
khí, các sinh vật không thể sống được trong nước này nữa.  
Hình 1-2: Độ tan của oxy trong nước giảm theo nhiệt độ.  
(nguồn: diendanmoitruong.vn)  
Hàm lượng DO trong nước tuân theo định luật Henry, có nghĩa là nói chung độ tan  
giảm theo nhiệt độ. Ở nhiệt độ bình thường, độ hòa tan tới hạn của oxigen trong nước vào  
khoảng 8 mg O2/L.  
Bảng 1. Hàm lượng DO bão hòa theo nhiệt độ  
Hàm lượng DO bão hòa  
15  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 65 trang yennguyen 23340 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đồ án Đánh giá chất lượng nước ven biển do hoạt động nuôi trồng hải sản tại thị xã Vạn Giã, tỉnh Khánh Hòa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_an_danh_gia_chat_luong_nuoc_ven_bien_do_hoat_dong_nuoi_tr.pdf