Khóa luận Đánh giá hiện trạng môi trường đất, nước và đề xuất biện pháp giảm thiểu tại Công ty TNHH khai thác và chế biến khoáng sản Núi Pháo

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
-------------------  
TẠC NGUYỆT THU  
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT, NƯỚC  
VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU TẠI CÔNG TY TNHH KHAI  
THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN NÚI PHÁO.  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Khoa học Môi trường  
: Môi trường  
Khóa học  
: 2014 – 2018  
Thái Nguyên, năm 2018  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
-------------------  
TẠC NGUYỆT THU  
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT, NƯỚC  
VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU TẠI CÔNG TY TNHH  
KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN NÚI PHÁO  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Khoa học Môi trường  
: K46 – KHMT – N03  
: Môi trường  
Khoa  
Khóa học  
: 2014 – 2018  
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông  
Thái Nguyên, năm 2018  
i
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nông  
Lâm Thái Nguyên em đã được sự dạy dỗ, chỉ bảo tận tình của các thầy giáo,  
cô giáo trong Khoa Môi Trường, cũng như các thầy cô giáo trong Ban Giám  
hiệu Nhà trường, các Phòng ban và Phòng đào tạo điều kiện để giúp em tiếp  
thu và tích lũy kiến thức và phục vụ cho cuộc sống.  
Đây là một khoảng thời gian rất quý báu, bổ ích và có ý nghĩa vô  
cùng to lớn đối với bản thân em. Tại nơi đây em đã được trang bị một lượng  
kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ và một lượng kiến thức về xã hội để sau  
này khi ra trường em không còn phải bỡ ngỡ và có thể đóng góp một phần sức  
lực nhỏ bé của mình để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa  
đất nước và trở thành người có ích cho xã hội.  
Để hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp này, ngoài sự phấn đấu và nỗ  
lực của bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và rất tâm huyết của  
thầy giáo, cô giáo trong Khoa Môi Trường, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của  
thầy giáo PGS.TS.Nguyễn Ngọc Nông. Đồng thời về thực tập tại địa phương  
em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các anh, các chị trong Công ty SGS  
Núi Pháo.  
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn vô hạn, em xin được bày tỏ lòng  
cảm ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa, trong Ban giám hiệu nhà  
trường, em xin cảm ơn các anh, các chị trong Công ty SGS Núi Pháo.  
Cuối cùng em xin gửi lời kính chúc sức khỏe đến quý thầy cô.  
Em xin trân thành cảm ơn.  
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 4 năm 2018  
Sinh viên  
Tạc Nguyệt Thu  
 
iv  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
BTNM  
COD  
CTNH  
CTR  
Bộ Tài nguyên Môi Trường  
Nhu cầu oxi hóa học  
Chất thải nguy hại  
Chất thải rắn  
CHLB  
DP1  
Cộng hòa Liên bang  
Điểm xả nước thải Núi Pháo 1  
Điểm xả nước thải Núi Pháo 2  
Điểm xả nước thải Núi Pháo 3  
Thu nhập bình quân đầu người  
Hồ chứa đuôi quặng oxit  
Kênh chảy tràn  
DP2  
DP3  
GDP  
OTC  
PSSP  
PTP  
Hồ chuyển tiếp  
QCVN  
QĐ  
Quy chuẩn Việt Nam  
Quyết định  
STC  
Hồ chứa quặng đuôi Sunfua  
Tiêu chuẩn Việt Nam  
Tài nguyên và Môi trường  
Trách nhiệm hữu hạn  
Hồ lắng khu quặng đuôi  
Tổng chất rắn lơ lửng  
Ủy ban nhân dân  
TCVN  
TN & MT  
TNHH  
TSF-SP  
TSS  
UBND  
WB  
Ngân hàng Thế Giới  
Hồ lắng khu bãi thải  
WDSP  
 
v
MỤC LỤC  
vi  
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1: Đặt vấn đề  
Hiện nay, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thì vẫn đề về môi  
trường đang ngày càng được quan tâm và chú trọng hơn.Vì môi trường có ảnh  
hưởng trực tiếp và gián tiếp tới cuộc sống của con người chúng ta, đây là một  
vấn đề lớn bởi vì nó không chỉ ảnh hưởng ở thế hệ hiện tại mà còn để lại  
những hậu quả nặng nề cho thế hệ tương lai. Ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi  
trường đang diễn ra hàng ngày, nguyên nhân trực tiếp là do hoạt động của con  
người tác động vào môi trường tự nhiên, đặc biệt là hoạt động khai khoáng.  
Hoạt động khai thác khoáng sản ở nước ta hiện nay đang tăng trưởng cả về  
quy mô và việc áp dụng các công nghệ tiên tiến, góp phần không nhỏ cho nền  
kinh tế nước nhà. Tuy vậy, hoạt động khai khoáng đã và đang gây ra nhiều  
tác động tiêu cực đến môi trường khu vực khai thác và chế biến, biểu hiện rõ  
nét nhất là việc khai thác và sử dụng thiếu hiệu quả nguồn khoáng sản tự  
nhiên ảnh hưởng xấu tới môi trường đất, nước, không khí, cảnh quan thiên  
nhiên, làm ảnh hưởng tới nhu cầu sử dụng đất, nước,tiềm ẩn nguy cơ tích tụ  
hoặc phát tán chất thải ra ngoài môi trường, những hành động này đang gây ô  
nhiễm nặng nề đến môi trường, trở thành vấn đề cấp bách mang tính chính trị  
xã hội của mỗi quốc gia.  
Dự án khai thác và chế biến khoán sản Núi pháo là một mỏ đa kim loại,  
được đầu tư bởi công ty Liên doanh khai thác và chế biến khoáng sản núi  
pháo (NUIPHAOVICA) gồm có 3 công ty thành viên: Công ty Tiberon  
Minerals Canada (70% vốn ), Công ty khoáng sản Thái Nguyên (15% vốn),  
và Công ty xuất nhập khẩu và đầu tư Thái Nguyên (15% vốn). Được cấp giấy  
phép đầu tư số 2377/GP ngày 03 tháng 02 năm 2004, giấy chứng nhận đăng  
kí kinh doanh số 4600864513 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Thái Nguyên  
     
2
cấp ngày 05 tháng 07 năm 2010, đăng kí thay đổi lần thứ 03, ngày 24 tháng  
06 năm 2011. Ngoài những lợi ích mà công tý Núi Pháo đem lại cho nền kinh  
tế của đất nước nói chung và khu vực dự án nói riêng, thì việc khai thác và  
chế biến khoáng sản của Núi Pháo cũng tạo ra những tác động tiêu cực  
ảnh hưởng đến môi trường đất, nước, không khí .Vì vậy, việc đánh giá  
hiện trạng môi trường đất và đề xuất biện pháp giảm thiểu là rất quan  
trọng và cần thiết, để bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường nói chung  
và môi trường đất nói riêng.  
Xuất phát từ thực tế nói trên và nguyện vọng của bản thâm cùng sự  
đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa môi trường -  
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS  
Nguyễn Văn Nông, em tiến hành nghiên cứu đề tài :  
” Đánh giá hiện trạng môi trường đất, nước và đề xuất biện pháp  
giảm thiểu tại công ty TNHH khai thác và chế biến khoáng sản Núi Pháo”  
1.2: Mục tiêu của đề tài  
- Tìm hiểu tình hình khai thác khoáng sản của mỏ Núi Pháo tại xóm 2  
– xã Hà Thượng – huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên.  
-Đánh giá được hiện trạng môi trường đất, môi trường nước để có thể  
phòng chống, khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường đất.  
-Đề xuất các biện pháp quản lý cho đơn vị tổ chức khai thác cũng như  
việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, nhằm giảm thiểu tối đa các tác động  
dến môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng.  
1.3: Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1: Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học  
-Vận dụng và phát huy những kiến thức đã học vào thực tiễn  
-Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế cho công  
tác sau này  
   
3
1.3.2: Ý nghĩa thực tiễn  
- Đề tài giúp cho sinh viên khi ra trường có kiến thức áp dụng vào  
thực tiễn  
- Góp phần hoàn thiện lý luận về đánh giá hiện trạng môi trường nói  
chung và môi trường đất nói riêng.  
- Góp phần xây dựng những giải pháp có hiệu quả về tài nguyên đất tại  
mỏ Núi Pháo.  
 
4
PHẦN 2:  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1: Cơ sở khoa học của đề tài  
2.1.1: Cơ sở lý luận  
2.1.1.1: Một số khái niệm cơ bản  
A: Khái niệm môi trường:  
Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2014[5] đưa ra khái niệm về môi  
trường như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân  
tạo tác động đối với sự tồn taị và phát triển của con người và vi sinh vật”.  
B: Khái niệm về đất  
Đất là một dạng tài nguyên, vật liệu của con người.Đất có hai nghĩa: đất  
đai là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng  
để sản xuất lâm nghiệp.  
Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập, lâu  
đời, hình thành do kết quả hoạt động của các yếu tố hình thành đất đó là: đá,  
sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian.  
Trên quan điểm sinh thái đất không phải là một khối vật chất trơ mà là  
một hệ thống cân bằng của một tổng thể các kháng thể nghiền vụn, các chất  
hữu cơ và những sinh vật đất .Thành phần của đất gồm các hạt khoáng chiếm  
40%, không khí (20%), nước (35%), các chất mùn hữu cơ (5%).  
Giá trị tài nguyên đất được do bằng số lượng diện tích (ha) và độ phì  
(màu mỡ thích hợp cho trồng cây lương thực và công nghiệp).  
+Chức năng cơ bản của đất là:  
-Là môi trường để con người và sinh vật trên cạn sinh trưởng và  
phát triển.  
-Là địa bàn để cho các quá trình phân hủy biến đổi các chất khoáng và  
hữu cơ.  
       
5
- Là nơi cư trú của động vật và thực vật đất.  
C: Khái niệm về tài nguyên nước:  
Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của  
cuộc sống và môi trường.Không có nước, cuộc sống trên trái đất không thể  
tồn tại được.Nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển bền vững của đất nước.  
Nguồn nước là chỉ các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể  
khai thác, sử dụng được, bao gồm: sông, suối, ao, hồ, kênh, mương, các tầng  
chứa nước dưới đất, mưa, băng tuyết, và các dạng tích tụ khác.  
Nước mặt là nước tồn tại trên đất liền hoặc hải đảo, nước ngầm là  
nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới đất, nước sinh hoạt là nước có  
thể dung cho ăn, uống, vệ simh của con người.Nước sạch phải đảm bảo  
các yêu cầu sau:  
Nước trong, không màu  
Không có mùi vị lạ, không có tạp chat  
Không chứa chất tan có hại  
Không có mầm mống gây bệnh  
2.1.1.2: Khái niệm về ô nhiễm môi trường đất và nguyên nhân gây ô nhiễm  
môi trường đất.  
+Ô nhiễm môi trường đất [4] được xem là tất cả các hiện tượng làm  
nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất ô nhiễm.  
+Phân loại đất bị ô nhiễm theo nguồn gốc phát sinh hoặc các tác nhân  
gây ô nhiễm.  
- Dựa theo nguồn gốc phát sinh gồm có:  
Nguồn tự nhiên: các hoạt động của núi lửa, ngập úng, đất bị mặn do  
xâm nhập của thủy triều, đất bị vùi dập do cát lấn, cát bay,do phân hủy sinh  
học của thực vật  
6
Nguồn nhân tạo: ô nhiễm đất do chất thải sinh hoạt, do chất thải công  
nghiệp, do hoạt động nông nghiệp  
- Dựa theo các tác nhân gây ô nhiễm gồm có:  
Ô nhiễm do tác nhân hóa học: bao gồm phân bón N, P (dư lượng phân  
bố trong đất), thuốc trừ sâu (ĐT, aldrin, photpho hữu cơ…), chất thải công  
nghiệp và sionh hoạt (kim loại nặng, độ kiềm, độ axit)  
Ô nhiễm do tác nhân sinh học: các loại kí sinh trùng (giun, sán), trực  
khuẩn ly, thương hàn.  
Ô nhiễm do tác nhân vật lý; nhiệt độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân giải  
của vi sinh vật), chất phóng xạ (Uran, thori, Sr90, I131, Cs1370)….  
Chất ô nhiễm đến với đất qua nhiều đầu vào, có thể từ trên trời rơi  
xuống, từ nước chảy vào, do con người trực tiếp đưa vào đất, đầu ra rất ít vì  
nhiều chất ô nhiễm sau khi ngấm vào đất sẽ lưu lại trong đất rất lâu. Đất  
không có khả năng tự làm sạch vậy nên con người muốn khử ô nhiễm cho đất  
sẽ gặp rất nhiều khó khăn, tốn nhiều công sức và kinh phí. [6]  
2.1.1.3: Khái niệm về ô nhiễm môi trường nước và nguyên nhân gây ô nhiễm  
môi trường nước:  
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá  
học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho  
nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. 0.  
Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và  
quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.  
- Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ  
lụt đưa vào môi trường nước các chất thải bẩn, các sinh vật có hại kể cả xác  
chết của chúng.  
7
- Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: quá trình thải các chất độc hại  
chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông  
nghiệp, giao thông vào môi trường nước.  
- Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô  
nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô  
nhiễm bởi các tác nhân vật lý.  
- Ô nhiễm nước mặn, ô nhiễm nước ngầm và biển.  
Các xu hướng thay đổi chính của chất lượng nước khi bị ô nhiễm:  
Giảm lượng oxy hòa tan trong nước, giảm độ trong của nước  
Tăng hàm lượng các muối trong nước bề mặt bề mặt và nước ngầm do  
chúng đi vào môi trường cùng nước thải, từ khí quyển, từ chất thải rắn.  
Tăng hàm lượng các chất hữu cơ, trước hết là chất khó bị phân hủy  
bằng con đường sinh học  
Tăng hàm lượng các ion kim loại trong nước tự nhiên  
Giảm độ pH của nước ngọt [9]  
2.1.2: Cơ sở pháp lý  
Đề tài nghiên cứu được tiến hành dựa trên các văn bản pháp lý đã được  
ban hành và vẫn còn hiệu lực của hệ thống pháp luật về môi trường ở nước ta.  
-Luật bảo vệ môi trường (LBVMT) năm 2014 số 55/2014/QH13 ngày  
23 tháng 06 năm 2014 .  
- Luật đất đai năm ngày 29 tháng 11 năm 2013.  
-Nghị định 01/2017/NĐ-CP sửa đổi hướng đẫn về luật đất đai quốc gia  
về chất lượng đất biên soạn, sửa đổi QCVN 03:2008/BTNMT; Tổng cục Môi  
trường, Vụ Khoa học và Công nghệ, Vụ Pháp chế trình duyệt, ban hành theo  
Thông tư số 64 /2015/TT-BTNMT ngày 21 tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng  
Bộ Tài nguyên và Môi trường.  
 
8
-Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4048:2011 về chất lượng đất - phương  
pháp xác định độ ẩm và hệ số khô kiệt.  
-Luật khoáng sản số 60/2010/QH12 ngày 17 tháng 11 năm 2010, Nghị  
định 158/2016/NĐ_CP về quy định chi tiết một số điều của luật khoáng sản.  
-Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 về xử lý vi phạm pháp  
luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.  
- Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008: Về  
việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.  
-QCVN 03-MT: 2015/BTNMT về giới hạn cho phép của một số kim  
loại nặng trong đất.  
- Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 quy định về  
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.  
- QCVN 40: 2011/BTNMT: Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về nước thải  
công nghiệp.  
- QCVN 08-MT: 2015/BTNMT: Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về chất  
lượng nước mặt.  
- QCVN 09-MT: 2015/BTNMT Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về chất  
lượng nước ngầm.  
-Nghị định 154/2016/NĐ-CP: Về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.  
2.2: Thực trạng khai thác quặng đa kim trên Thế giới và Việt Nam.  
2.2.1. Trên thế giới  
Theo Raw Materials Group (RMG), đến cuối năm 2010, tổng số vốn  
đầu tư khai thác kim loại toàn cầu đạt 562 tỷ USD, tăng 21% so với năm  
2009.Mức độ tăng trưởng cho thấy sự khủng hoảng trong ngành công nghiệp  
này đã qua, nguồn vốn cho các dự án tăng cao và tiếp tục tăng khi nhu cầu về  
kim loại tăng. Theo thứ tự, quặng sắt, đồng, vàng và niken là những kim loại  
quan trọng nhất được các công ty mỏ đầu tư khai thác Bốn kim loại này chiếm  
   
9
tới 84% trong tổng số vốn của các dự án đầu tư.Xét theo tổng giá trị sản  
lượng, bốn kim loại này cũng chiếm ưu thế trong kinh doanh mỏ.Trong năm  
2008, tổng giá trị sản lượng của chúng ước định đạt 280 tỷ USD (76% tổng  
giá trị sản lượng khoáng sản phi nhiên liệu). Nhu cầu sử dụng và giá cả tăng  
cao khiến cho quặng sắt dần trở thành nguồn kim loại quan trọng nhất.Tổng  
vốn đầu tư cho các dự án khai thác quặng sắt trong năm 2010 đạt 162 tỷ USD,  
vượt mức đầu tư cho dự án đồng (155 tỷ USD) và cao hơn nhiều so với vàng  
(83 tỷ USD) và niken (69 tỷ USD), tiếp theo mới là nhóm urani, chì/kẽm và  
nhóm các kim loại chứa platin PGMs (Platinum Group Metals) với mức đầu  
tư 15 tỷ USD – 20 tỷ USD. [9]  
Theo số liệu công bố của Raw Materials Group (RMG), trong năm  
2010, đã có thêm 105 dự án mới trong khai thác quặng kim loại với tổng vốn  
đầu tư lên tới 60 tỷ USD được đăng ký, trong đó có 36 dự án khai thác vàng,  
22 dự án khai thác quặng sắt và 12 dự án khai thác đồng.Tổng vốn đầu tư  
trung bình cho một dự án khai thác quặng sắt xấp xỉ 1,3 tỷ USD (tăng từ mức  
750 triệu USD), còn đối với các dự án khai thác vàng con số này vẫn giữ mức  
ổn định 204 triệu USD. Như vậy, trong tổng vốn đầu tư các dự án được công  
bố trong năm 2010, ngành khai thác quặng sắt chiếm 47%.Theo dự báo, nhu  
cầu tiêu thụ thép tiếp tục tăng cao là nguyên nhân chính khiến cho sản lượng  
thép tiếp tục tăng trong vòng 3 đến 5 năm tới.[9]  
Ngày nay, nhờ sự hỗ trợ của các kĩ thuật công nghệ hiện đại, đem lại  
hiệu quả cao trong việc khai thác, từ các nguồn quặng có hàm lượng thấp con  
người đã có thể chế ra một khối kim loại tinh lớn với chi phí thấp hơn rất  
nhiều so với trước đây.Các công ty khai thác quặng ngày càng chú trọng đầu  
tư vào dây truyền thiết bị sản xuất hiện đại, trong khi vẫn ổn định giá thành  
sản xuất.Tuy nhiên, một số mỏ hoạt động kém hiệu quả đã phải dừng sản  
xuất, một số mỏ khác thì ngày càng phát triển hơn.[10]  
10  
-Phân bố sản xuất: đứng đầu là quốc gia nam Phi đạt sản lượng 141  
triệu tấn/năm. Theo sau đó là các nước như: Canada, Australia, Mỹ, Brazin  
….Với sản lượng từ 40-55 triệu tấn/năm.Với 2 phương pháp khai thác chính  
là khai thác lộ thiên và khai thác hầm lò đã đem lại sản lượng khai thác cao  
cho các quốc gia trên thế giới.  
-Xu hướng phát triển trong tương lai: hàm lượng quặng đa kim thay đổi  
tùy theo khu vực khai thác .Với các loại quặng khác nhau thì khối lượng  
quặng cần thiết để tách đc 1 tấn hay 1 kg sản phẩm tinh là rất khác nhau. Bên  
cạnh đó, khối lượng quặng đa kim khai thác còn phụ thuộc vào hàm lượng  
kim loại tiêu thụ và hàm lượng quặng khai thác.Cùng với đó, theo thời gian số  
lượng quặng đa kim dần trở nên cạn kiệt, những nơi có mỏ quặng đa kim ít  
hơn đang dần được khai thác, các mỏ khai thác ngày càng đi xuống sâu hơn,  
tăng cường tìm kiếm các quặng mới với trữ lượng và hàm lượng cao hơn.  
2.2.2. Ở Việt Nam  
Từ khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng, công tác điều tra địa chất và  
tìm kiếm thăm dò khoáng sản mới được triển khai trên quy mô toàn lãnh thổ  
Việt Nam.Trong công tác điều tra cơ bản, bằng việc lập bản đồ địa chất  
khoáng sản tỷ lệ 1/50.000, đã phát hiện thêm nhiều vùng, điểm mỏ có triển  
vọng lớn. Kết quả của công tác điều tra, khảo sát, thăm dò địa chất cho thấy,  
Việt Nam là nước có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản. Cho đến nay ngành  
địa chất đã tìm kiếm, phát hiện hơn 5000 mỏ và điểm quặng của khoảng 60  
loại khoáng sản khác nhau. Một số khoáng sản đã được phát hiện và khai  
thác từ rất lâu như vàng, thiếc, chì, kẽm, than đá và các loại vật liệu xây dựng;  
số khác mới được phát hiện và khai thác như dầu khí, sắt, đồng… Một số nơi,  
có những mỏ nằm tập trung như than ở Quảng Ninh, bôxit ở Tây Nguyên và  
apatit, đất hiếm ở miền núi phía Bắc [11]  
 
11  
Khai thác khoáng sản là quá trình con người bằng phương pháp khai  
thác lộ thiên hoặc hầm lò đưa khoáng sản từ lòng đất phục vụ phát triển kinh  
tế – xã hội.  
Các hình thức khai thác bao gồm: Khai thác thủ công, khai thác quy mô  
nhỏ và khai thác quy mô vừa.Bất cứ hình thức khai thác khoáng sản nào cũng  
dẫn đến sự suy thoái môi trường.  
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của cả nước, công  
nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản đã và đang góp phần to lớn vào sự  
phát triển kinh tế và công cuộc xây dựng đổi mới đất nước.Ngành công  
nghiệp khai thác khoáng sản ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh  
tế của Việt Nam  
Theo số liệu thống kê kinh tế 6 tháng đầu năm 2015 của Tổng cục  
Thống kê, công nghiệp khai khoáng tiếp tục là ngành có đóng góp lớn và tăng  
trưởng cao, đứng ở vị trí thứ 3 trong các ngành có đóng góp lớn nhất cho tăng  
trưởng GDP [12]  
Tính riêng, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản  
tháng 9 ước đạt 1,07 tỷ USD, tăng 16% so với tháng 8 và tăng 47,5% so với  
cùng kỳ năm 2011.Trừ than đá, các mặt hàng khác trong nhóm đều tiếp tục  
gặp thuận lợi về giá xuất khẩu.  
Lượng xuất khẩu của các mặt hàng cũng tăng so với tháng trước khiến  
cho kim ngạch xuất khẩu tháng 9 tăng 16% so với tháng 8.  
Tính chung 9 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu của cả nhóm tăng  
4,8% so với cùng kỳ, trong đó dầu thô tăng 14,7%, quặng và khoáng sản khác  
tăng 2,5%, hai mặt hàng còn lại là than đá giảm 27% và xăng dầu giảm 5%.  
Nhìn chung, tài nguyên khoáng sản nước ta phần lớn có quy mô trung  
bình và nhỏ, trong đó một số loại khoáng ssản có tiềm năng khai thác, chế  
biến ở quy mô công nghiệp như: bauxite, đất hiếm, apatit,….tuy nhiên một số  
12  
loại khoáng sản như: sắt, đồng, chì, kẽm, mangan, vàng, bạc,…Chỉ khai thác  
được vài chục năm nữa sẽ cạn kiệt. [9]  
Trong quá trình công nghiệp hóa –hiện đại hóa đất nước, nhiều loại  
khoáng sản khai thác, chế biến phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng  
như xuất khẩu ra trường.Hoạt động khoáng sản từng bước hướng tới gắn kết  
chặt chẽ giữa mục tiêu lợi nhuận,kinh tế với trách nhiệm bảo vệ môi trường,  
an toàn lao động và bảo vệ tài nguyên khoáng sản.Tuy nhiên, hoạt động khai  
thác chế biến khoáng sản còn bộc lộ nhiều bất cập như: Do chú trọng vào kinh  
tế, nhất là tăng trường GDP ít chú ý đến bảo vệ môi trường nên tình trạng  
khai thác khoáng sản bừa bãi gây ô nhiễm môi trường và làm mất cân bằng  
sinh thái ở nhiều nơi, khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản chưa hợp  
lý, làm tổn thất, lãng phí tài nguyên quốc gia và gây bức xúc,áp lực lớn cho xã  
hội ở những khu vực có hoạt động khai thác khoáng sản, lập kế hoach quy  
hoạch, quyết định đầu tư dự án chưa tính đến chi phí, lợi ích về mặt xã hội và  
môi trường. Việc cấp giấy phép quản lý và khai thác khoáng sản đã được tiến  
hành nhưng chưa thanh tra, kiểm tra xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật, tài  
nguyên khhoáng sản thuộc sở hữu của toàn dân nhưng lợi ích từ hoạt dộng  
khai thác chủ yếu thuộc về các công ty, cá nhân khai thác, chế biến khoáng  
sản. Lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội chưa tương xứng với giá trị tài nguyên,  
khi tài nguyên khoáng sản của đất nước đang bị sử dụng lãng phí, chính  
quyền địa phương và cộng đồng dân cư phải chịu hậu quả nặng nề về kinh tế,  
xã hội, môi trường .  
Đánh giá và nhận xét chung:  
1. Về khai thác và tuyển khoáng:  
Hầu hết ở các mỏ kim loại, về kỹ thuật chưa được chú ý, đa số áp dụng  
hệ thống khai thác lộ thiên với công nghệ ôtô - máy xúc.Đây là loại hình công  
nghệ cổ điển, giá thành cao.Các thông số kỹ thuật của hệ thống khai thác và  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 70 trang yennguyen 17340 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiện trạng môi trường đất, nước và đề xuất biện pháp giảm thiểu tại Công ty TNHH khai thác và chế biến khoáng sản Núi Pháo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hien_trang_moi_truong_dat_nuoc_va_de_xuat.pdf