Khóa luận Đánh giá hiện trạng nước thải sinh hoạt tại kí túc xá A trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
VŨ TUẤN HUY  
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NƯỚC THẢI SINH HOẠT TẠI  
KÍ TÚC XÁ A TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Khoa học môi trường  
: Môi trường  
Khóa  
: 2014 – 2018  
Thái Nguyên, 2018  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
VŨ TUẤN HUY  
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NƯỚC THẢI SINH HOẠT TẠI  
KÍ TÚC XÁ A TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Khoa học môi trường  
: K46C - KHMT  
: Môi trường  
Khoa  
Khóa  
: 2014 – 2018  
Giảng viên hướng dân : ThS.Hà Đình Nghiêm  
Thái Nguyên, 2018  
i
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường thực hiện  
phương châm học đi đôi với hành, mỗi sinh viên ra trường cần phải trang  
bị cho mình lượng kiến thức cần thiết, chuyên môn vững vàng để ra trường  
phục vụ cho công việc của bản thân mang lại lợi ích cho xã hội. Thực tập  
tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết đối với mỗi sinh viên trong nhà trường  
chuyên nghiệp nhằm hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học, vận dụng lý  
thuyết vào thực tiễn. Qua đó mỗi sinh viên ra trường sẽ hoàn thiện về kiến  
thức lý luận, phương pháp làm việc, năng lực công tác nhằm đáp ứng yêu  
cầu thực tiễn và nghiên cứu khoa học.  
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của Ban giám  
hiệu trường Đại học Nông lâm Thái nguyên và Ban chủ nhiệm khoa Môi  
trường, em được phân công thực tập tại khoa Môi trường trường Đại học  
Nông Lâm Thái Nguyên. Có được kết quả này em xin bày tỏ lòng biết ơn  
chân thành tới thầy giáo Th.S Hà Đình Nghiêm cùng toàn thể các thầy cô giáo  
đã trực tiếp hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập cũng như trong  
quá trình làm báo cáo đề tài tốt nghiệp.  
Dù đã rất cố gắng, song luận văn vẫn không thể tránh khỏi được những  
thiếu sót và hạn chế. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của  
các thầy cô và bạn bè.  
Em xin chân thành cảm ơn.  
Thái nguyên, ngày …. tháng …. năm 2018  
Sinh viên  
Vũ Tuấn Huy  
iii  
DANH MỤC CÁC HÌNH  
Hình 4.1. Kết quả điều tra số lượng sinh viên sinh hoạt tại KTX A  
trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên ......................................................... 25  
iv  
VIẾT TẮT, DANH MỤC KÝ HIỆU  
STT  
1
NỘI DUNG CHỮ VIẾT TẮT  
Bảo vệ môi trường  
Bộ khoa học công nghệ môi trường BKHCNMT  
KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT  
BVMT  
2
3
Bộ Tài Nguyên và Môi Trường  
Bộ y tế  
BTNVMT  
BYT  
4
5
Cao đẳng  
CĐ  
6
Chính phủ  
CP  
7
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa  
Đại Học  
CHXHCN  
ĐH  
8
9
Khoa học kỹ thuật  
Kim loại nặng  
KHKT  
KLN  
KTX  
MT  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
19  
20  
21  
22  
Ký túc xá  
Môi trường  
Nghị định chính phủ  
Nghiên cứu khoa học  
Nhu cầu oxi hóa học  
Nhu cầu oxi sinh hóa  
Phòng thí nghiệm  
Quốc hội  
NĐCP  
NCKH  
COD  
BOD5  
PTN  
QH  
Quy Chuẩn Việt Nam  
Thông tư  
QCVN  
TT  
Tiêu Chuẩn Việt Nam  
Tổng chất rắn lơ lửng  
TCVN  
TSS  
v
MỤC LỤC  
vi  
PHỤ LỤC  
1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU  
1.1. Tính cấp thiết của đề tài  
Nước đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu và đảm bảo  
cho sự sống trên trái đất, các hoạt động sống của con người gắn liền với nhu  
cầu sử dụng nước đặc biệt là các hoạt động sinh hoạt. Ô nhiễm nước thải sinh  
hoạt đang tác động tiêu cực, đe dọa đến chất lượng sống ở toàn bộ các khu đô  
thị Việt Nam, quá trình đô thị hóa nhanh chóng ở nước ta gây sức ép lên môi  
trường, đặc biệt là tại các khu chung cư và các thành phố lớn lượng nước thải  
sinh hoạt được thải ra mỗi ngày là vô cùng lớn, người dân sinh sống và làm  
việc tại đây đang phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh do tiếp xúc với môi  
trường nước đang ngày một ô nhiễm.  
Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên là một trong những trường lớn  
với số lượng sinh viên vào khoảng 4000 người đang sống và sinh hoạt tại  
KTX của trường. Trong đó có khu KTX A đã được xây dựng từ hồi mới  
thành lập trường, bao gồm 3 dãy (A, B, C), Phần lớn sinh viên đang học và  
sinh hoạt tại 3 dãy KTX A lên đến khoảng 1100 sinh viên vậy nên nhu cầu về  
nước sinh hoạt là rất lớn kéo theo đó là một khối lượng lớn nước thải sinh  
hoạt thải ra ngoài môi trường gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường  
nước và gây mất cân bằng sinh thái đồng thời cũng gây mất mĩ quan trong  
khuôn viên của trường ngoài ra ảnh hưởng đến sức khỏe của mọi người sinh  
sống và làm việc trong trường.  
Xuất phát từ thực tiễn trên được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà  
trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường và sự hướng dẫn của Th.s Hà Đình  
Nghiêm tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá hiện trạng nước thải sinh  
hoạt tại ký túc xá A Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên ”.  
1.2. Mục tiêu, yêu cầu của đề tài  
1.2.1. Mục tiêu  
Đánh giá hiện trạng nước thải sinh hoạt tại ký túc xá A Trường Đại học  
Nông Lâm Thái Nguyên.  
       
2
1.2.2. Yêu cầu  
- Các số liệu phải chính xác, có độ tin cậy cao và phản ánh đúng thực tế.  
- Đánh giá đúng hiện trạng nước thải sinh hoạt tại KTX A Trường Đại  
học Nông Lâm Thái Nguyên.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học  
+ Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế  
+ Nâng cao hiểu biết thêm về kiến thức thực tế.  
+ Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau này khi ra trường.  
+ Bổ sung tư liệu cho học tập.  
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn  
+ Phản ánh môi trường nước thải sinh hoạt tại một số điểm KTX A  
Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên.  
+ Cảnh cáo các vấn đề nguy cơ tiềm tàng gây ô nhiễm do nước thải  
sinh hoạt.  
+Từ việc đánh giá hiện trạng dẫn đến đề xuất biện pháp xử lý phù hợp  
nhằm đáp ứng nhu cầu về phát triển.  
       
3
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài  
2.1.1. Cơ sở lý luận  
Hiện nay ở trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng quá trình  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang trên đà phát triển. Dân số tăng lên nhanh  
chóng đặc biệt là các khu đô thị, nơi tập chung đông dân cư, kéo theo đó  
nhiều vấn đề cần lo ngại trong đó có nước thải sinh hoạt, với dân số đông  
lượng nước thải sinh hoạt thải ra ngoài môi trường tăng mà đa phần là chưa  
qua xử lý trước khi thải ra ngoài môi trường nên gây ảnh hưởng lớn tới sức  
khỏe con người và làm ảnh hưởng xấu tới cảnh quan môi trường.  
Cùng với sự phát triển của nền giáo dục, số lượng các trường ĐH, CĐ,  
Trung cấp và các trung tâm dạy nghề ngày càng tăng. Chính vì vậy các khu  
nhà tập thể, nhà trọ, khu KTX sinh viên được xây dựng ngày càng nhiều  
nhằm đáp ứng nhu cầu tạm trú của sinh viên, do đó lượng nước thải sinh hoạt  
của các khu tập thể, khu KTX ngày càng lớn.  
Các thành phần gây ô nhiễm đặc trưng của nước thải sinh hoạt thường thấy là  
BOD5, COD, N, P ,colifom. Trong nước thải nguồn Nitơ và Photpho rất lớn  
nếu không loại bỏ thì làm cho nguồn tiếp nhận nước thải bị phú dưỡng.  
Một hiện tượng thường xảy ra ở nguồn nước có hàm lượng nitơ và  
photpho cao, trong đó các loài thực vật thủy sinh phát triển mạnh rồi chết đi,  
thối rữa, làm cho nguồn nước trở nên ô nhiễm tạo điều kiện cho các loại dịch  
bệnh phát sinh và phát triển.  
Một yếu tố gây ô nhiễm quan trọng trong nước thải sinh hoạt đó là các  
vi sinh vật gây bệnh, chúng có khả năng lây lan nhanh qua nhiều nguồn khác  
nhau, qua tiếp xúc trực tiếp, qua môi trường (đất, nước, không khí, cây trồng,  
     
4
vật nuôi, ... ), thâm nhập vào cơ thể người qua đường thức ăn, nước uống, hô  
hấp …, và sau đó có thể gây bệnh.  
Với thành phần ô nhiễm là các tạp chất nhiễm bẩn có tính chất khác nhau,  
từ các loại chất không tan đến các chất ít tan và cả những hợp chất tan trong  
nước. Việc lựa chọn phương pháp xử lý thích hợp thường căn cứ trên đặc điểm  
của các tạp chất có trong nước thải. Các phương pháp chính thường sử dụng là:  
phương pháp hóa học, phương pháp hóa lý, và phương pháp sinh học.  
* Đánh giá chất lượng nước  
- Các chỉ tiêu vật lý, ví dụ như:  
+ Độ pH: Là đại lượng toán học biểu thị nồng độ hoạt tính ion H+ trong  
nước,pH được sử dụng để đánh giá tính axit hay tính kiềm của dung dịch  
(nước). pH = - log(H+).  
Tính chất của nước được xác định theo các giá trị khác nhau của pH  
Sự thay đổi pH dẫn tới sự thay đổi thành phần hóa học của nước (sự kết  
tủa, sự hòa tan, cân bằng carbonat…), các quá trình sinh học trong nước. Giá  
trị pH của nguồn nước góp phần quyết định phương pháp xử lý nước. pH  
được xác định bằng máy đo pH hoặc bằng phương pháp chuẩn độ.  
+ Nhiệt độ: Nhiệt độ của nước là một đại lượng phụ thuộc vào điều  
kiện môi trường và khí hậu. Sự thay đổi nhiệt độ phụ thuộc vào từng loại  
nước. Nước mạch nông có to: 4 – 40oC, nước ngầm là : 17 – 31oC. Nhiệt độ  
nước thải cao hơn nhiệt độ nước cấp.  
+ Màu sắc: Nước nguyên chất không có màu. Màu sắc gây nên bởi các  
tạp chất trong nước (thường là do chất hữu cơ (chất mùn hữu cơ – acid  
humic), một số ion vô cơ (sắt…), một số loài thủy sinh vật…)  
+TSS (turbidity & suspendid solids): là tổng rắn lơ lửng. Thường đo  
bằng máy đo độ đục (turbidimeter). Độ đục gây ra bởi hiện tượng tương tác  
giữa ánh sáng và các chất lơ lửng trong nước như cát, sét, tảo và những vi  
sinh vật và chất hữu cơ có trong nước. Các chất rắn lơ lửng phân tán ánh sáng  
hoặc hấp thụ chúng và phát xạ trở lại với cách thức tùy thuộc vào kích thước,  
5
hình dạng và thành phần của các hạt lơ lửng và vì thế cho phép các thiết bị đo  
độ đục ứng dụng để phản ánh sự thay đổi về loại, kích thước và nồng độ của  
các hạt có trong mẫu....  
- Các chỉ tiêu hóa học, ví dụ như:  
+ DO là lượng oxy hoà tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các  
sinh vật nước (cá, lưỡng thể, thuỷ sinh, côn trùng, vvv...) thường được tạo ra  
do sự hoà tan từ khí quyển hoặc do quang hợp của tảo. Nồng độ oxy tự do  
trong nước nằm trong khoảng 8 - 10 ppm, và dao động mạnh phụ thuộc vào  
nhiệt độ, sự phân huỷ hoá chất, sự quang hợp của tảo, vvv... Khi nồng độ DO  
thấp, các loài sinh vật nước giảm hoạt động hoặc bị chết. Do vậy, DO là một  
chỉ số quan trọng để đánh giá sự ô nhiễm nước của các thuỷ vực.  
+ BOD (Biochemical oxygen Demand- nhu cầu oxy sinh hoá) là lượng  
oxy cần thiết để vi sinh vật oxy hoá các chất hữu cơ.  
Trong môi trường nước, khi quá trình oxy hoá sinh học xảy ra thì các vi  
sinh vật sử dụng oxy hoà tan, vì vậy xác định tổng lượng oxy hoà tan cần thiết  
cho quá trình phân huỷ sinh học là phép đo quan trọng đánh giá ảnh hưởng  
của một dòng thải đối với nguồn nước. BOD có ý nghĩa biểu thị lượng các  
chất thải hữu cơ trong nước có thể bị phân huỷ bằng các vi sinh vật.  
+ COD (Chemical Oxygen Demand - nhu cầu oxy hóa học) là lượng  
oxy cần thiết để oxy hoá các hợp chất hoá học trong nước bao gồm cả vô cơ  
và hữu cơ. Như vậy, COD là lượng oxy cần để oxy hoá toàn bộ các chất hoá  
học trong nước, trong khi đó BOD là lượng oxy cần thiết để oxy hoá một  
phần các hợp chất hữu cơ dễ phân huỷ bởi vi sinh vật.  
Toàn bộ lượng oxy sử dụng cho các phản ứng trên được lấy từ oxy hoà  
tan trong nước (DO). Do vậy nhu cầu oxy hoá học và oxy sinh học cao sẽ làm  
giảm nồng độ DO của nước, có hại cho sinh vật nước và hệ sinh thái nước nói  
chung. Nước thải hữu cơ, nước thải sinh hoạt và nước thải hoá chất là các tác  
nhân tạo ra các giá trị BOD và COD cao của môi trường nước.  
-
+NO3 : là dạng hợp chất vô cơ của nitơ có hóa trị cao nhất và có nguồn  
gốc chính từ nước thải sinh hoạt hoặc nước thải một số ngành công nghiệp  
6
thực phẩm, hóa chất …, chứa một lượng lớn các hợp chất nitơ. Khi vào sông,  
hồ chúng tiếp tục bị nitrat hóa tạo thành nitrat.  
Nitrat là giai đoạn cuối cùng của quá trình khoáng hóa các hợp chất hữu  
cơ chứa nitơ.  
+ Các yếu tố KLN: các kim loại nặng là những yếu tố mà tỷ trọng của  
chúng bằng hoặc lớn hơn 5 như Asen, cacdimin, Fe, … ở hàm lượng nhỏ nhất  
định chúng cần cho sự sinh trưởng và phát triển của động, thực vật nhưng khi  
hàm lượng tăng thì chúng sẽ trở thành độc hại đối với sinh vật và con người  
thông qua chuỗi mắt xích thức ăn.  
- Các thông số sinh học, ví dụ như:  
+ Coliform: là nhóm sinh vật quan trọng trong chỉ thị môi trường xác  
định mức độ nhiễm bẩn về mặt sinh học của nguồn nước.  
2.1.2 Một số khái niệm chung về môi trường nước thải  
- Khái niệm môi trường  
- Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2014,  
môi trường được định nghĩa như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật  
chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con  
người và sinh vật”.[9]  
- Khái niệm về ô nhiễm môi trường:  
- Theo khoản 8 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2014: “Ô  
nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù  
hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh  
hưởng xấu đến con người và sinh vật”.[9]  
- Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc  
hại, gây tổn hại hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức khỏe, sự an toàn hay  
sự phát triển của con người và sinh vật trong môi trường đó. Chất gây ô  
nhiễm có thể là chất rắn (như rác) hay chất lỏng (các dung dịch hóa học, chất  
thải của dệt nhuộm, rượu, chế biến thực phẩm), hoặc chất khí (SO2 trong núi  
 
7
lửa phun, NO2 trong khói xe, CO từ khói đun …), các kim loại nặng như chì,  
đồng … cũng có khi nó vừa ở thể hơi vừa ở thể rắn như thăng hoa hay ở dạng  
trung gian.[9]  
- Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của  
thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và  
thiên nhiên.  
- Khái niệm ô nhiễm môi trường nước: Ô nhiễm môi trường nước là sự  
biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn  
nước và gây nguy hiểm cho con người, cho động vật nuôi và các loài hoang  
dã, ảnh hưởng tới sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá…..  
- Như vậy, sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và  
tính chất của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con  
người và sinh vật. Khi sự thay đổi thành phần và tính chất của nước vượt quá  
một ngưỡng cho phép thì sự ô nhiễm nước đã ở mức nguy hiểm và gây ra một  
số bệnh cho người.[9]  
- Hiến chương châu Âu đã có định nghĩa ô nhiễm nước như sau: “Sự ô  
nhiễm nước là một biến đổi chủ yếu do con người gây ra đối với chất lượng  
nước, làm ô nhiễm nước và gây nguy hại cho việc sử dụng, cho công nghiệp,  
nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi – giải trí, cho động vật nuôi cũng như các  
loài hoang dại”.[6]  
- Khái niệm nước thải sinh hoạt: nước thải sinh hoạt là loại nước thải  
phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt của các cộng đồng dân cư như: khu vực  
đô thị, trung tâm thương mại, khu vực vui chơi giải trí, cơ quan công sở,…  
Các thành phần ô nhiễm chính đặc trưng thường thấy ở nước thải sinh hoạt là  
BOD5, COD, Nitơ và Phốt pho. Một yếu tố gây ô nhiễm quan trọng trong  
nước thải sinh hoạt đó là các loại mầm bệnh được lây truyền bởi các vi sinh  
vật có trong phân. Vi sinh vật gây bệnh cho người bao gồm các nhóm chính là  
virus, vi khuẩn, nguyên sinh bào và giun sán.  
8
- Khái niệm quy chuẩn môi trường (theo khoản 5 điều 3 luật bảo vệ  
Môi trường Việt Nam năm 2014/BTNMT): “Quy chuẩn kỹ thuật môi trường  
là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm  
lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và  
quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản  
bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường”.[9]  
- Khái niệm tiêu chuẩn môi trường (theo Luật bảo vệ Môi trường Việt  
Nam năm 2014/BTNMT): “Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các  
thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô  
nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan  
nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để  
bảo vệ môi trường”.[9]  
2.1.3 Ô nhiễm và phân loại ô nhiễm  
Dựa vào tính chất ô nhiễm có thể phân loại ô nhiễm nước thải sinh hoạt  
như sau:  
- Ô nhiễm sinh học của nước: Sự ô nhiễm về mặt sinh học chủ yếu là  
do sự thải các chất hữu cơ có thể lên men được: sự thải sinh hoạt hoặc kỹ  
nghệ có chứa chất cặn bã sinh hoạt, phân tiêu, nước rửa của các nhà máy  
đường, giấy, lò sát sinh...  
Sự ô nhiễm sinh học thể hiện bằng sự nhiễm bẩn do vi khuẩn rất nặng,  
đặt thành vấn đề lớn cho vệ sinh công cộng chủ yếu các nước đang phát triển.  
Các bệnh cầu trùng, viêm gan do siêu vi khuẩn tăng lên liên tục ở nhiều quốc  
gia chưa kể đến các trận dịch tả. Các sự nhiễm bệnh được tăng cường do ô  
nhiễm sinh học nguồn nước. Ví dụ: thương hàn, viêm ruột siêu khuẩn.  
- Ô nhiễm vật lý: Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm  
tăng lượng chất lơ lửng, tức làm tăng độ đục của nước. Các chất này có thể là  
gốc vô cơ hay hữu cơ, có thể được vi khuẩn ăn. Sự phát triển của vi khuẩn và  
 
9
các vi sinh vật khác lại càng làm tăng độ đục của nước và làm giảm độ xuyên  
thấu của ánh sáng.  
- Ô nhiễm hóa học do các chất hữu cơ tổng hợp: chủ yếu do các hợp  
chất dầu mỡ, bột giặt, xà bông …  
Bột giặt tổng hợp phổ biến từ năm 1950. Chúng là các chất hữu cơ có  
cực (polar) và không có cực (non-polar). Có 3 loại bột giặt: anionic, cationic  
và non-ionic. Bột giặt anionic được sử dụng nhiều nhất, nó có chứa TBS  
(tetrazopylène benzen sulfonate), không bị phân hủy sinh học.  
Xà bông là tên gọi chung của muối kim loại với acid béo. Ngoài các xà  
bông Natri và Kali tan được trong nước, thường dùng trong sinh hoạt, còn các  
xà bông không tan thì chứa calci, sắt, nhôm...sử dụng trong kỹ thuật (các chất  
bôi trơn, sơn, verni).  
- Ở nước ta hiện nay, các loại nước thải sinh hoạt hầu hết được thải trực  
tiếp ra ngoài môi trường mà chưa qua xử lý. Trường hợp đã xử lý thì chỉ qua  
biện pháp lắng. Nhưng hiệu quả không cao, khi thải ra ngoài môi trường vẫn  
gây ảnh hưởng xấu cho con người.  
2.1.4. Định nghĩa, phân loại và nước thải  
a, Định nghĩa nước thải  
Tất cả các hoạt động sinh hoạt và sản xuất trong mỗi cộng đồng  
đều tạo ra các chất thải, các thể khí, lỏng hoặc rắn. Thành phần chất lỏng, hay  
nước thải được định nghĩa như một dạng hòa tan hay trộn lẫn giữa nước  
(nước dung, nước mưa, nước mặt, nước ngầm . . . ) và chất thải từ sinh hoạt  
trong cộng đồng dân cư, các khu sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,  
thương mại, giao thông vận tải và nông nghiệp… ở đây cần hiểu là sự ô  
nhiễm nước lớn hơn khả năng tự làm sạch của tự bản thân nguồn nước.[2]  
Hay nói cách khác nước thải được định nghĩa theo TCVN 5980-  
1995 và ISO 6107/1 – 1980: Nước thải là nước đã được thải ra sau khi sử  
 
10  
dụng hoặc được tạo ra sau một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực  
tiếp với quá trình đó.  
b, Phân loại nước thải  
Để hiểu và tìm được biện pháp xử lý nước thải phù hợp phải phân loại  
nước thải. thông thường nước thải thông thường được phân loại theo nguồn  
gốc phát sinh ra chúng, được phân thành 3 loại cơ bản sau:  
Nước thải sinh hoạt  
Nước thải sinh hoạt là loại nước thải phát sinh từ các hoạt động sinh  
hoạt của các cộng đồng dân cư như: khu vực đô thị, trung tâm thương mại,  
khu vực vui chơi giải trí, cơ quan công sở,… Các thành phần ô nhiễm chính  
đặc trưng thường thấy ở nước thải sinh hoạt là BOD5, COD, Nitơ và Phốt  
pho. Một yếu tố gây ô nhiễm quan trọng trong nước thải sinh hoạt đó là các  
loại mầm bệnh được lây truyền bởi các vi sinh vật có trong phân. Vi sinh vật  
gây bệnh cho người bao gồm các nhóm chính là virus, vi khuẩn, nguyên sinh  
bào và giun sán. Lượng nước thải sinh hoạt của khu dân cư phụ thuộc vào số  
dân, vào các tiêu chuẩn cấp nước và đặc điểm của hệ thống thoát nước.  
Thành phần của hệ thống nước thải sinh hoạt bao gồm 2 loại:  
- Nước thải nhiễm bẩn do chất bài tiết của con người từ các phòng vệ sinh  
- Nước thải nhiễm bẩn do các chất thải sinh hoạt  
Nước thải sinh hoạt chữa nhiều chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học,  
ngoài ra còn có các thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh rất  
nguy hiểm. Chất hữu cơ chứa trong nước thải sinh hoạt bao gồm các chất như:  
protein (40-50%), hydratcacbon (40-50%), chất béo (5-10%), nồng độ chất  
hữu cơ trong nước thải sinh hoạt dao động trong khoảng 150-450mg/l. Lượng  
nước thải sinh hoạt dao động trong phạm vi rất lớn, tùy thuộc vào mức sống  
và các thói quen của người dân, có thể tính bằng 80% lượng nước được cấp.  
Ở những khu dân cư đông đúc, điều kiện vệ sinh thấp kém, nước thải sinh  
hoạt không được xử lý thích đáng là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi  
trường nghiêm trọng.  
11  
Nước thải công nghiệp  
Nước thải công nghiệp là nước thải được sinh ra trong quá trình sản  
xuất công nghiệp từ các công đoạn sản xuất và các hoạt động phục vụ cho sản  
xuất như nước thải khi tiến hành vệ sinh công nghiệp hay hoạt động sinh hoạt  
của công nhân viên.  
Nước thải công nghiệp rất đa dạng, khác nhau về thành phần cũng như  
lượng phát thải và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loại hình công nghiệp, loại  
hình công nghệ sử dụng, tính hiện đại của công nghệ, tuổi thọ của thiết bị,  
trình độ quản lý của cơ sở và ý thức cán bộ công nhân viên.Cơ sở để nhận biết  
và phân loại như sau: Nước thải được sản sinh từ nước không được dùng trực  
tiếp trong các công đoạn sản xuất, nhưng tham gia các quá trình tiếp xúc với  
các khí. Chất lỏng hoặc chất rắn trong quá trình sản xuất. Loại này có thể phát  
sinh liên tục hoặc không liên tục, nhưng nói chung nếu sản xuất ổn định thì có  
thể dễ dàng xác định được các đặc trưng của chúng. Nước thải được sản sinh  
ngay trong bản thân quá trình sản xuất. Vì là một thành phần của vật chất  
tham gia quá trình sản xuất, do đó chúng thường là nước thải có chứa nguyên  
liệu, hoá chất hay phụ gia của quá trình và chính vì vậy những thành phần  
nguyên liệu hoá chất này thường có nồng độ cào và trong nhiều trường hợp có  
thể được thu hồi lại. Ví dụ như nước thải này gồm có nước thải từ quá trình  
mạ điện, nước thải từ việc rửa hay vệ sinh các thiết bị phản ứng, nước chứa  
amonia hay phenol từ quá trình dập lửa của công nghiệp than cốc, nước  
ngưng từ quá trình sản xuất giấy. Do đặc trưng về nguồn gốc phát sinh lên  
loại nên loại nước thải này nhìn chung có nồng độ chất gây ô nhiễm lớn, có  
thể mang tính nguy hại ở mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào bản thân quá trình  
công nghệ và phương thức thải bỏ. Nước thải loại này cũng có thể có nguồn  
gốc từ các sự cố rò rỉ sản phẩm hoặc nguyên liệu trong quá trình sản xuất, lưu  
chứa hay bảo quản sản phẩm, nguyên liệu.Thông thường các dòng nước thải  
sinh ra từ các công đoạn khác nhau của toàn bộ quá trình sản xuất sau khi  
được xử lý ở mức độ nào đó hoặc không được xử lý, được gộp lại thành dòng  
12  
thải cuối cùng để thải vào môi trường (hệ thống cống, lưu vực tự nhiên như  
sông, ao hồ...). Có một điều cần nhấn mạnh: thực tiễn phổ biến ở các đơn vị  
sản xuất, do nhiều nguyên nhân, việc phân lập các dòng thải (chất thải lỏng,  
dòng thải có nồng độ chất ô nhiễm cao với các dòng thải có tải lượng gây ô  
nhiễm thấp nhưng lại phát sinh với lượng lớn như nước làm mát, nước thải  
sinh hoạt, nước mưa chảy tràn...), cũng như việctuần hoàn sử dụng lại các  
dòng nước thải ở từng khâu của dây chuyền sản xuất, thường ít được thực  
hiện. Về mặt kinh tế, nếu thực hiện tốt 2 khâu này sẽ giúp doanh nghiệp giảm  
đáng kể chi phí sản xuất, chi phí xử lý nước thải.  
Trong nước thải sản suất công nghiệp lại được chia ra làm 2 loại:  
- Nước thải sản xuất bẩn, là nước thải sinh ra từ quá trình sản xuất sản  
phẩm, xúc rửa máy móc thiết bị, từ quá trình sinh hoạt của công nhân viên,  
loại nước này chưa nhiều tạp chất, chất độc hại, vi khuẩn, ...  
- Nước thải sản xuất không bẩn là loại nước sinh ra chủ yếu khi làm  
nguội thiết bị, giải nhiệt trong các trạm làm lạnh, ngưng tụ hơi nước cho nên  
loại nước thải này thường được quy ước là nước sạch.  
Nước thải là nước mưa  
Đây là loại nước thải sau khi nước mưa chảy tràn trên mặt đất và lôi kéo  
theo các chất cặn bã, hóa chất BVTV, dẫu mỡ … đi vào hệ thống thoát nước.  
Hầu hết các khu đô thị, thành phố của nước ta đều có hệ thống thoát nước  
thải và nước mưa. Lượng nước được chảy về nhà máy gồm nước thải sinh hoạt,  
nước thải công nghiệp, nước ngầm thâm nhập và một phần nước mưa.  
2.2. Cơ sở pháp lý  
-Luật Bảo vệ môi trường của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt  
Nam số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014 (Luật này có hiệu lực thi  
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015).  
- Luật Tài nguyên nước của Quốc Hội số 17/2012/QH13 ngày 21 tháng  
6 năm 2012.  
- Luật Bảo vệ môi trường 2014.  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 47 trang yennguyen 13480 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiện trạng nước thải sinh hoạt tại kí túc xá A trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hien_trang_nuoc_thai_sinh_hoat_tai_ki_tuc.pdf