Đồ án Khảo sát khả năng kháng nấm sinh Aflatoxin của Bacillus (CS1b) và ứng dụng trong bảo quản nông sản

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG KHÁNG NẤM SINH  
AFLATOXIN CỦA BACILLUS (CS1b) VÀ ỨNG DỤNG  
TRONG BẢO QUẢN NÔNG SẢN  
Ngành:  
CÔNG NGHỆ SINH HỌC  
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC  
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Hoài Hương  
Sinh viên thực hiện : Trịnh Thị Cẩm Tú  
MSSV: 1211100227 Lớp: 12DSH02  
TP. Hồ Chí Minh, 2016  
 
Đồ án tốt nghiệp  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu , kết quả nêu trong  
đồ án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đồ án này đã được cảm ơn và  
các thông tin trích dẫn trong Đồ án đã được chỉ rõ nguồn gốc.  
Học viên thực hiện đồ án  
Trịnh Thị Cẩm Tú  
i
Đồ án tốt nghiệp  
LỜI CẢM ƠN  
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám Hiệu Trường Đại học  
Công nghệ TP. Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em học tập và hoàn  
thành tốt khóa học 2012 – 2016.  
Em xin cảm ơn thầy cô trong Khoa CÔNG NGHỆ SINH HỌC – THỰC PHẨM –  
MÔI TRƯỜNG đã tận tình chỉ dạy và truyền đạt cho em những kiến thức quan trọng  
tạo nền tảng kiến thức vững chắc để hoàn thành tốt Đồ án và sau này có thể ứng dụng  
vào công việc thực tiễn.  
Em xin cảm ơn thầy cô phụ trách phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học, Khoa  
CÔNG NGHỆ SINH HỌC – THỰC PHẨM – MÔI TRƯỜNG, Trường Đại học Công  
nghệ TP. Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp cho em thực hiện và hoàn  
thành tốt Đồ án tốt nghiệp này.  
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Hoài Hương đã tận tình hướng  
dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện để em hoàn thành tốt Đồ án tốt nghiệp  
này.  
Và em cũng gửi lời cảm ơn đến các bạn cùng khóa đã tận tình hỗ trợ, giúp đỡ,  
động viên khích lệ tinh thần , cùng trải qua những khó khăn trong suốt quá trình thực  
hiện Đồ án tốt nghiệp của mình.  
Cuối cùng, con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cha mẹ, gia đình đã luôn bên  
cạnh, cỗ vũ động viên tinh thần, tạo mọi điều kiện để con có thể hoàn thành tốt Đồ án  
tốt nghiệp này.  
TP. HCM, Ngày 19 tháng 08 năm 2016  
Sinh viên thục hiện  
Trịnh Thị Cẩm Tú  
ii  
Đồ án tốt nghiệp  
MỤC LỤC  
iii  
Đồ án tốt nghiệp  
iv  
Đồ án tốt nghiệp  
DANH MỤC VIẾT TẮT  
AFPA: Aspergillus flavus and parasiticus agar  
EA: ethyl acetate  
NA: Nutrient agar  
NB: Nutrient broth MT:  
Môi trường PDA: Potato dextrose agar  
HPLC: High pressure liquid chromatography  
TLC: Thin layer chromatography  
UV: Ultraviolet  
VK: vi khuẩn  
vi  
 
Đồ án tốt nghiệp  
DANH MỤC BẢNG  
Bảng 3.4: Tỷ lệ đối kháng (%) theo từng nồng độ của cao ethyl acetate với nấm  
CĐP1……………………………………………………………………………….63  
vii  
 
Đồ án tốt nghiệp  
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH  
Hình 3.2: Kết quả đối kháng của dịch sau ly tâm của VK CS1b với nấm CĐP1.....51  
Hình 3.3: Đồ thị biểu diễn khả năng đối kháng nấm CĐP1 của dịch nuôi cấy CS1b ở  
từng thời gian nuôi cấy và từng điều kiện xử lý dịch sau ly tâm ..............................54  
Hình 3.4: Khả năng phân giải chitin của protein kết tủa...........................................56  
Hình 3.6 Khả năng phân giải 훽 − 푔푢푐푎푛 của protein kết tủa……………………...57  
Hình 3.7: Khả năng ức chế nấm mốc CĐP1 của dung dịch protein kết tủa………..59  
Hình 3.10: Định tính một số chất có trong dịch nuôi cấy ly tâm (i), protein kết tủa  
(ii),……………………………………………………….........................................64  
Hình 3.12: Sơ đồ chuẩn bị sinh khối nấm CĐP1…………………………………...72  
Hình 3.13: Quy trình công nghệ sản xuất cao EA………………………………….73  
viii  
 
Đồ án tốt nghiệp  
MỞ ĐẦU  
1. Đặt vấn đề  
Lương thực, thực phẩm đặc biệt là các nông sản chính như thóc, gạo, ngô,  
khoai, sắn, đậu, đỗ và lạc là nguồn năng lượng chính nuôi sống loài người. Vì thế, việc  
nghiên cứu để nâng cao chất lượng nông sản là vấn đề được các tổ chức quốc tế cũng  
như các cơ quan khoa học về lương thực, thực phẩm của thế giới đặc biệt quan tâm.  
Việc nâng cao chất lượng nông sản bao gồm các kỹ thuật bảo quản gìn giữ các  
giá trị dinh dưỡng, ngăn chặn các chất độc hại nhiễm trên các nông sản đó, đồng thời  
chế biến nông sản thành những thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao là một trong  
những phần cần thiết đối với ngành nông nghiệp nước ta.  
Độc tố aflatoxin chủ yếu do loài vi nấm Aspergillus flavus và Aspergillus  
parasiticus tạo ra, là độc tố nguy hiểm nhất và thường nhiễm trên nông sản, gây độc  
cho người và gia súc, như gây tác dụng cấp tính, gây tổn thương gan (ung thư gan…),  
gây quái thai, gây đột biến,…thậm chí với liều lượng cao có thể dẫn tới tử vong. Trong  
rất nhiều loại aflatoxin trong tự nhiên thì aflatoxin B1 được coi là chất độc nguy hiểm  
nhất. Mặc dù sự hiện diện của Aspergillus flavus không phải lúc nào cũng gắn liền với  
việc tồn tại aflatoxin với hàm lượng gây độc, nhưng nó cũng thể hiện nguy cơ lớn về  
việc có thể nhiễm aflatoxin.  
Ở nước ta với đặc điểm khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, độ ẩm trong không khí  
thường cao, thời vụ canh tác, thu hoạch thường rơi vào mùa mưa, trong khi các phương  
tiện thu hoạch, phơi sấy nông sản kém, kho chứa không đảm bảo khô ráo, thoáng mát  
là điều kiện rất thuận lợi cho nấm mốc phát triển gây nhiễm độc cho thực phẩm và thức  
ăn chăn nuôi. Khi phát triển trên lương thực nấm mốc đã sử dụng các chất dinh dưỡng  
gây ra tổn thất về lượng cũng như về chất của hạt. Không những thế, một số loài nấm  
mốc khi phát triển sinh ra các loại độc tố khác nhau và được gọi chung là mycotoxin.  
1
 
Đồ án tốt nghiệp  
Nguy hiểm hơn những độc tố này có khả năng theo thức ăn vào cơ thể, gây ra độc cho  
con người và động vật, như gây tác dụng cấp tính, gây tổn thương gan (ung thư gan…),  
gây quái thai, gây đột biến,…thậm chí với liều lượng cao có thể dẫn tới tử vong.  
Việc sử dụng các biện pháp phòng trừ độc tố nấm mốc đã được khuyến cáo sử  
dụng. Tuy nhiên, sự nhiễm nấm mốc và các độc tố nấm mốc nói chung và sự nhiễm  
aflatoxin trên nông sản ở mức độ cao quá giới hạn cho phép là không thể tránh được.  
Chính vì vậy cần phải có những biện pháp khử nhiễm độc tố nấm mốc bởi độc tính và  
nguy cơ gây ung thư của nó. Bảo quản nông sản bằng áp dụng các chất chống mốc hóa  
học có giá thành cao,thường có mùi khó chịu cho nông sản bị xử lý và có thể ảnh  
hưởng xấu lên sức khỏe người tiêu dùng. Để áp dụng “ bảo quản sinh học” trong việc  
bảo quản các hạt nông sản, các sản phẩm trao đổi chất vi sinh vật thường được áp  
dụng. Đó là lý do chúng tôi đã chọn nghiên cứu về: “ Khảo sát khả năng kháng nấm  
sinh aflatoxin của Bacillus spp. (CS1b) và ứng dụng trong bảo quản nông sản”.  
2. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu  
2.1 Mục tiêu  
Khảo sát khả năng đối kháng nấm sinh aflatoxin của sản phẩm trao đổi chất dịch  
nuôi cấy vi khuẩn Baccillus sp. CS1b và ứng dụng trong việc bảo quản hạt đậu phộng.  
2.2 Nội dung  
1. Sản xuất sinh khối nấm Aspergillus sp. CĐP1 làm cảm ứng hợp chất kháng  
nấm cho vi khuẩn Bacillus sp. CS1b  
2. Xác định thời gian nuôi cấy vi khuẩn Bacillus sp. CS1b để khả năng đối  
kháng nấm CĐP1 của dịch nuôi cấy vi khuẩn CS1b đạt khả năng kháng nấm  
Aspergillus sp. CĐP1 cực đại.  
3. Khảo sát khả năng đối kháng nấm của protein kết tủa từ dịch nuôi cấy vi  
khuẩn CS1b sau ly tâm.  
2
Đồ án tốt nghiệp  
4. Khảo sát khả năng đối kháng nấm của cao chiết ethyl acetate từ dịch nuôi cấy  
sau ly tâm.  
5. Khảo sát thành phần hóa học của các sản phẩm trao đổi chất của vi khuẩn  
Bacillus sp. CS1b có hoạt tính kháng nấm.  
6. Ứng dụng sản phẩm trao đổi chất của vi khuẩn trong việc bảo vệ hạt đậu  
phộng.  
3. Kết cấu đồ án  
Chương 1: Tổng quan tài liệu – nội dung này đề cập đến các nội dung liên quan  
đến tài liệu nghiên cứu.  
Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu – nội dung chương đề cập đến các  
dụng cụ, thiết bị và các phương pháp nghiên cứu trong đồ án.  
Chương 3: Kết quả và thảo luận – nội dung chương đưa ra những kết quả mà đề tài  
thực hiện được và đưa ra thảo luận, biện chứng cho kết quả thu được.  
Chương 4: Kết luận và kiến nghị - nội dung chương tóm lại những kết quả mà đề  
tài đạt được và đề nghị cho những hướng cần cải thiện thêm trong đề tài.  
3
Đồ án tốt nghiệp  
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
1.1 Các nấm gây hại trên hạt  
1.1.1 Tình trạng nhiễm nấm gây hại trên hạt ngũ cốc  
Thế giới  
Sự nhiễm nấm mốc trong nông sản đã trở thành vấn đề toàn cầu. Ví dụ: Ở Đức có  
84% trên 1000 mẫu nông sản thực phẩm kiểm tra có nhiễm Tricothecene, 13 % số mẫu  
lương thực như lúa mì, lúa mạch, yến mạch bị nhiễm ochratoxin. Ở Đan Mạch 19 trên  
33 mẫu ngũ cốc kiểm tra có nhiễm ochratoxin. Ở Ấn Độ có 8 % số mẫu bánh dầu  
hướng dương kiểm tra có nhiễm đồng thời cả hai loại độc tố T-2 và ochratoxin. Ở Mỹ  
có rất nhiều mẫu bắp kiểm tra cho thấy sự nhiễm vomitoxin ( DON) ở mức 1000 ppb.  
Ở Úc kiểm tra trên bắp thấy có cả 3 loại mycotoxin như: aflatoxin, fumonisin và  
zearalenon. Theo Tiến sĩ Bangalore ( Ấn Độ) thì các loại mycotoxin khác nhau có ưu  
thế ở những vùng khác nhau trên thế giới: Ở Bắc Âu có ochratoxin và vomitoxin (  
DON) là vấn đề đang được quan tâm nhất. Còn ở Nam Mỹ thì mycotoxin có ưu thế lại  
là aflatoxin và fumonisin.  
Việt Nam  
Ở Việt Nam nhiều nơi ép dầu phộng bằng bọng thủ công, độ ẩm còn cao, sau đó  
xếp thành chồng. Giữa các lớp bánh dầu có độ ẩm cao là môi tường thích hợp cho nấm  
phát triển. Nếu kho trữ thức ăn lâu ngày không làm vệ sinh, diệt nấm thì trong không  
khí sẽ có rất nhiều bào tử nấm tấn công nhanh các nguyên liệu này sinh ra nhiều độc tố  
trong thức ăn. Nấm sinh ra trong kho dự trữ phổ biến nhất là Aspergillus và  
Penicillium. Độc tố của chúng sinh ra chủ yếu là aflatoxin, sau đó là ochratoxin,  
rubratoxin và citrinin. Nó gây tổn hại nặng trên động vật, làm hư gan, thận, tạo ra màng  
bọc ống tiêu hóa do tế bào niêm mạc bị chết bong ra giảm hấp thu dưỡng chất, có thể  
gây tử vong trên số lớn gia cầm con và heo con.  
4
     
Đồ án tốt nghiệp  
Riêng ở các trại gà giống độc tố nấm còn gây ra chết phôi hàng loạt, tỷ lệ ấp nở  
giảm rất thấp. Theo kết quả kiểm tra 29 mẫu bánh dầu đậu phộng và 25 mẫu bắp thì  
mức aflatoxin trong bánh dầu phộng 1200 ppb ( tối đa 5000 ppb), trong bắp 205 ppb (  
tối đa 600 ppb). Các nguyên liệu còn lại như đậu nành hạt khô và bánh đầu công  
nghiệp của nó, bánh dầu mè công nghiệp, khô dầu dừa công nghiệp, cám 50 ppb.  
1.1.2 Tình trạng nhiễm nấm trước thu hoạch  
Trong khi cây lương thực đang phát triển ngoài đồng hay sau khi thu hoạch nhưng  
trước khi hạt được đập tuốt bị các nấm mốc này xâm nhập. Tùy từng loại ngũ cốc,  
vùng địa lý, thời tiết mà các nấm mốc này phát triển nhiều hay ít. Các loại lúa mì, lúa  
gạo, đại mạch, kiều mạch, và ngô thường nhiễm các loại nấm ngoài đồng như  
Alternaria, Cladosporium, Helininthosporium và Furarium.  
Tất cả các nấm ngoài đồng đòi hỏi độ ẩm cao ở hạt để phát triển. Độ ẩm ở trạng  
thái cân bằng với độ ẩm tương đối 90% hay hơn nữa là điều kiện cho nấm phát triển.  
Các nấm mốc ngoài đồng có thể sống qua nhiều năm ở hạt khô, nhưng chết tương đối  
nhanh ở các hạt có độ ẩm ở trạng thái cân bằng với độ ẩm tương đối trên 70%, ở các  
hạt ngũ cốc giàu tinh bột, điều này có nghĩa độ ẩm trên 14%.  
Tóm lại, các nấm mốc ngoài đồng có thể ảnh hưởng đến bề ngoài và chất lượng  
của hạt. Thông thường, tổn thất gây nên do nấm mốc ngoài đồng xảy ra trước thu  
hoạch có thể phát hiện bằng phương pháp giám định thông thường và nó không tiếp tục  
tăng lên trong quá trình bảo quản.  
1.1.3 Tình trạng nhiễm nấm sau thu hoạch  
Theo Christensen [1] các nấm mốc bảo quản gồm mười hai loài Aspergillus, trong  
đó có năm loài phổ biến. Một số loài Penicillium, các loài riêng lẻ của Sporendonema  
và một số loài nấm men cũng có thể có ở giai đoạn này. Những loài này có khả năng  
phát triển ở các hạt lương thực có độ ẩm cân bằng với độ ẩm tương đối 70% - 90%. Đa  
5
   
Đồ án tốt nghiệp  
số các nấm này thường ở trên các nguyên liệu giàu các chất hữu cơ và vô cơ, đặc biệt  
trên các rau quả thối rữa, các sản phẩm thực phẩm. Chúng xuất hiện ở khắp mọi nơi  
trên thế giới và nhiễm trên tất cả các hạt lương thực và hạt giống.  
Các nấm mốc bảo quản phát triển nhanh trên hạt ở khoảng 300C - 320C và tốc độ  
phát triển của chúng giảm khi nhiệt độ giảm. Một vài chủng của nhóm A.glaucus phát  
triển chậm ở nhiệt độ 100C – 150C. Một vài loài Aspergillus đề kháng với khô cạn, nó  
có thể phát triển ở vài độ dưới điểm đóng băng.  
1.1.4 Độc tố của nấm  
Một số loại độc tố của nấm  
Độc tố nấm còn gọi là mycototoxin là nhóm hợp chất có cấu trúc đa dạng, có khối  
lượng phân tử nhỏ, được tạo ra bằng trao đổi chất thứ cấp của các nấm mốc và gây ngộ  
độc với động vật có vú, cá, gia cầm. Sự sinh trưởng và phát triển của nó phụ thuộc rất  
nhiều vào điều kiện sinh thái ( Morrau 1974) [2]. Những điều kiện đó là vùng sinh  
thái, khí hậu nhiệt độ, độ ẩm của không khí, lượng nước có trong cơ chất… Sự sản sinh  
độc tố nấm mốc là kết quả của tác động qua lại của kiểu gen ( genotype) và điều kiện  
phát triển của chúng ( Scheoedes và Ashworth). Độc tố nấm là sản phẩm phụ tiết ra  
trong quá trình chuyển hóa.  
Cho đến nay, trên 300 loại độc tố nấm đã được phát hiện và nghiên cứu. Một loại  
độc tố có thể do nhiều loài nấm khác nhau sản sinh và một loại nấm có thể đồng thời  
sản sinh ra nhiều loại độc tố. Điều đáng chú ý là có 20 loại mycotoxin có trong thực  
phẩm ở mức độ nghiêm trọng thường liên quan đến an toàn thực phẩm và được tạo bởi  
năm chi nấm: Aspergillus, Penicillium, Furarium, Alternaria, Claviceps.  
❖ Các độc tố của Aspergillus: Aflatoxin (B1, B2, G1, G2, M1, M2), sterimatocystin,  
acid cyclopianzoic.  
6
 
Đồ án tốt nghiệp  
❖ Các độc tố của Penicillium: patulin, ochratoxin A, citrinin, penitrem A, acid  
cyclopianzoic toxin, diacetocyscirpenol, fumonisin, moniliformin.  
❖ Các độc tố của Furarium: deoxynivalenol, nivalenol, zearalenon, T-2 toxin.  
❖ Các độc tố của Alternaria: acid tenuazoic, alternarion, methyl ether alternarion.  
❖ Các độc tố của Claviceps: các alkaloid Ergot.[1]  
Những số liệu có giá trị về mycotoxin và các bệnh do mycotoxin đã thu nhận từ  
lĩnh vực thú y học. Các nghiên cứu trên độc vật thực nghiệm cho thấy độc tính của  
mycotoxin rất lớn. Hầu hết các sản phẩm thực vật có thể là cơ chất cho sự phát triển  
của nấm mốc và sự tạo mycotoxin tiếp theo. Vì thế nó tạo khả năng không những cho  
sự nhiễm trực tiếp mà còn là nguồn mang mycotoxin vào nguồn sữa, thịt.  
Độc tố Aflatoxin:  
Cơ chế gây độc của Aflatoxin  
Aflatoxin có khả năng liên kết với DNA trong nhân tế bào. Sự liên kết này gây ức  
chế enzym polymerase của RNA. Nó gây tác dụng hạn chế trong tổng hợp RNA và ức  
chế polymerase t-RNA. Đây là nguyên nhân gây hạn chế sự tổng hợp protein trong tế  
bào.  
Người ta cũng đã chứng minh rằng vòng α, β -lacton không bão hòa có trong phân  
tử aflatoxin làm cho hợp chất này có hoạt tính gây ung thư và cũng chính vòng lacton  
này gây ức chế tổng hợp DNA trong nhân tế bào, do đó nó làm rối loạn tăng trưởng  
bình thường của tế bào.  
Để có thể gây độc với tế bào gan cũng như tạo khối u, aflatoxin phải trải qua một  
quá trình biến đổi sinh học phức tạp, tạo thành dạng 2,3 – dihydrodiol (aflatoxin B1 –  
dhd) ở trong gan, hợp chất này là nguyên nhân gây hủy hoại gan rất nhanh. Nhóm  
7
Đồ án tốt nghiệp  
dialdehyd phản ứng với nhóm amin của protein để tạo thành kiềm ship (Shiff’s base),  
gây ức chế sinh sinh tổng hợp DNA và gây nhiễm độc cấp tính.  
Độc tính của Aflatoxin  
Theo Dương Thanh Liêm (2002) [1], aflatoxin gây ra những tác hại rất lớn cho cơ  
thể con người và động vật. Những tác hại đó như sau:  
Gây tổn thương tế bào gan: tất cả các trường hợp xác nhận sự ngộ độc aflatoxin  
đều có bệnh tích giống nhau là gan của động vật bị nhiễm đều hư hại nặng. Tùy theo  
mức độ nhiễm ít hay nhiều, lâu hay mau mà bệnh tích trên gan có khác nhau. Biểu hiện  
chung là: ban đầu gan biến thành màu vàng tươi, mật sưng. Sau đó gan sưng to lên, mật  
căng phồng và bắt đầu nổi mụt nhỏ trên bề mặt gan làm cho nó gồ ghề đôi khi có  
những nốt hoại tử màu trắng. Sau cùng do nhiễm khuẩn mà gan trở nên bở, dễ bể.  
Thận cũng bị sưng to làm cho việc bài thải chất độc ra khỏi cơ thể trở nên khó  
khăn. Từ đó làm cho triệu chứng ngộ độc trở nên trầm trọng.  
Bào mòn ống tiêu hóa nên làm giảm khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng  
trong thức ăn. Đôi khi cũng thấy tổn thương ở miệng, làm cho thú khó lấy thức ăn.  
Làm giảm khả năng đề kháng của động vật, ức chế hệ thống sinh kháng thể. Do  
đó khi nhiễm aflatoxin cơ thể rất mẫn cảm với các bệnh thông thường, có thể gây tử  
vong cho thú.  
Làm thay đổi hoạt động sinh lý bình thường, gây rối loạn sinh sản.  
Làm giảm sự thèm ăn đối với thức ăn do sự phát triển của nấm mốc làm mất  
mùi thức ăn.  
Làm thay đổi thành phần dinh dưỡng có trong thức ăn, giá trị dinh dưỡng bị hạ  
thấp, làm vật nuôi chậm phát triển.  
Làm giảm thấp sự sinh trưởng và giá trị kinh tế của vật nuôi. Hậu quả cuối cùng  
là có thể gây chết cho vật nuôi.  
8
Đồ án tốt nghiệp  
Bảng 1.1: Ảnh hưởng của aflatoxin có mặt trong thức ăn đến các biểu hiện bệnh lý ở  
vật nuôi. (Allcroff, 1969 trích dẫn bởi Đậu Ngọc Hào và Lê Thị Ngọc, 2003). [2]  
Loại gia súc  
Lượng  
Thời kỳ nuôi  
Tổn thương Ảnh hưởng tới  
aflatoxin trong dưỡng (tuần)  
thức ăn hàng  
gan  
phát triển và  
hiệu quả thức  
ăn.  
ngày (mg/kg)  
Lợn  
0.14  
0.28  
0.41  
0.28  
0.41  
0.69  
12  
12  
12  
20  
20  
7
Trung bình  
Nhẹ  
Bình thường  
Giảm sút  
(20 – 70 kg)  
Nhẹ  
Giảm sút  
Lợn  
(40 – 100 kg)  
Lợn  
Nhẹ  
Giảm sút  
Nhẹ  
Giảm sút  
Trung bình  
Bình thường  
(70 – 100 kg)  
Lợn nái  
0.3  
4
4
Rõ  
Rõ  
Suy giảm và  
một số con  
chết  
(có chửa)  
0.55  
Gà tây  
0.25  
4
Chậm phát  
triển và giảm  
trọng lượng  
Giảm trọng  
lượng trong 3  
tuần.  
(1 ngày tuổi)  
Gà tây  
0.2  
0.42  
0.5  
7
7
7
4
Nhẹ  
Nhẹ  
(1 ngày tuổi)  
Nặng  
Vịt  
0.03  
Đặc điểm điển  
hình nhiễm  
aflatoxin  
Trung bình  
Giảm trọng  
lượng, chết  
50%  
(7 ngày tuổi)  
Bê  
0.2  
16  
Giảm trọng  
9
 
Đồ án tốt nghiệp  
(4 ngày tuổi)  
Bò sữa  
lượng từ 0 – 3  
tháng  
15  
4
Trung bình  
Giảm lượng  
sữa Aflatoxin  
M1 có mặt  
trong sữa.  
Tình hình nhiễm độc Aflatoxin:  
Aflatoxin có mặt trong rất nhiều sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là các loại hạt có  
dầu như lạc, đậu tương và ngô (Blaney, 1985 trích dẫn bởi Đậu Ngọc Hào và Lê Thị  
Ngọc Diệp, 2003) [2]. Ở vùng Đông Nam Á và ở Úc, tỷ lệ nhiễm aflatoxin trong sản  
phẩm nông nghiệp là rất đáng kể.  
Nhiễm aflatoxin là do điều kiện bảo quản kém, việc xâm nhập của sâu mọt trong  
bảo quản cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự lây lan và phát triển nhanh chóng của  
Aspergillus flavus. Trong điều kiện thuận lợi, Asp. Flavus có thể tăng nhanh chỉ sau 3 –  
7 ngày bảo quản.  
Nhiễm độc aflatoxin ở lợn là một vấn đề quan trọng, gây thiệt hại khá lớn cho  
ngành chăn nuôi. Tại miền Bắc Carolina – Mỹ, theo nghiên cứu của Smith (1976) trong  
số 94 trường hợp phát hiện aflatoxin có trong thức ăn chăn nuôi thì có đến 83 trường  
hợp gây ngộ độc ở lợn, 7 trường hợp ở bò và 4 trường hợp ở gia cầm. Hàm lượng  
aflatoxin trung bình có trong thức ăn chăn nuôi là 389 ppb và ở ngô nguyên liệu làm  
thức ăn là 518 ppb. (Trích dẫn bởi Đậu Ngọc Hào và Lê thị Ngọc Diệp, 2003) [2]  
Ở khu vực Đông Nam Á, theo nhận xét của Ginting (1985) và Widiastut (1988),  
ngô và thức ăn cho gia cầm nhiễm aflatoxin với hàm lượng lên tới 200 ppb. Ở Úc, theo  
Barry J. Balaney, trong 161 mẫu thức ăn cho gia cầm được phân tích thì có 13 mẫu  
10  
Đồ án tốt nghiệp  
chứa aflatoxin, trong đó có 4 mẫu nhiễm aflatoxin với hàm lượng lên đến 50 ppb.  
(Trích dẫn bởi Đậu Ngọc Hào và Lê thị Ngọc Diệp, 2003) [2].  
1.2 Các phương pháp kháng nấm gây bệnh cho nông sản  
1.2.1 Kháng nấm bằng phương pháp hóa học  
Tình trạng sử dụng thuốc diệt nấm hóa học và tác hại  
Hiện nay khi sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật nói chung cũng như thuốc trừ nấm  
bệnh hại cây trồng nói riêng, phần lớn bà con chúng ta vẫn làm theo cảm tính, cẩu thả,  
không khoa học, việc bà con nông dân sử dụng không hợp lý thậm chí lạm dụng thuốc  
bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp đã và đang gây những hậu quả nghiêm  
trọng.  
Thuốc diệt nấm có thể gián tiếp có hại cho sức khỏe con người do các loại lương  
thực, rau quả thu được từ các loại cây trồng được con người sử dụng và nó có thể gây  
ra dị ứng cũng như nhiều triệu chứng khác như đau đầu, tiêu chảy, các tổn hại cho các  
cơ quan cũng như gây ra các rối loạn nghiêm trọng và các loại bệnh tật liên quan  
đến hệ thần kinh. Nó cũng có thể là nguy hiểm cho các hệ sinh thái do nó có thể thoát  
đi và gây ô nhiễm môi trường nước và đất cũng như tích lũy sinh học và làm gia tăng  
độc tính đối với các cơ thể sống trong hệ sinh thái.  
Một số loại chất diệt nấm hóa học  
Amphotericin B (fungizon).  
Nystatin (fungicidin, mycostatin, monoral, nystan).  
Candicidin.  
Ketoconazol.  
Econazol.  
Thuốc dẫn chất Imidazol.  
11  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 97 trang yennguyen 18400 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đồ án Khảo sát khả năng kháng nấm sinh Aflatoxin của Bacillus (CS1b) và ứng dụng trong bảo quản nông sản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_an_khao_sat_kha_nang_khang_nam_sinh_aflatoxin_cua_bacillu.pdf