Khóa luận Đánh giá hiệu quả bể biogas plastic nổi trong xử lý chất thải chăn nuôi lợn quy mô hộ gia đình tại phường Thịnh Đán, tỉnh Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
--------------------  
LUÂN VĂN LÝ  
Tên đꢀ tꢁi:  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ BỂ BIOGAS PLASTIC NỔI  
TRONG XỬ LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI LỢN QUY MÔ HỘ GIA  
ĐÌNH TẠI PHƯỜNG THỊNH ĐÁN, TP THÁI NGUYÊN  
TỈNH THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
: Chính quy  
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường  
Khoa  
: Môi Trường  
: 2014 – 2018  
Khóa học  
Thái Nguyên, năm 2018  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
--------------------  
LUÂN VĂN LÝ  
Tên đꢀ tꢁi:  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ BỂ BIOGAS PLASTIC NỔI  
TRONG XỬ LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI LỢN QUY MÔ HỘ GIA  
ĐÌNH TẠI PHƯỜNG THỊNH ĐÁN , TP THÁI NGUYÊN  
TỈNH THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Khoa học Môi trường  
: K46 – KHMT - N02  
: Môi Trường  
Khoa  
Khóa học  
: 2014 – 2018  
Giảng viên hướng dẫn : TS Dư Ngọc Thành  
Thái Nguyên, năm 2018  
i
LỜI CẢM ƠN  
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn “Đánh giá hiệu quả bể  
biogas plastic nổi trong xử lý chất thải chăn nuôi lợn quy mô hộ gia đình tại  
Phường Thịnh Đán ,Tỉnh Thái Nguyên” em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt  
tình từ các cơ quan, các tổ chức và các cá nhân. Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu  
sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt  
quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này.  
Trước hết em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học  
Nông lâm Thái Nguyên, Khoa Môi trường, cùng các thầy cô giáo, những người  
đã trang bị kiến thức cho em trong quá trình học tập.  
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất,em xin trân trọng cảm ơn  
Thầy giáo, TS:DƯ NGỌC THÀNH đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học  
và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này.  
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn trang trại, cảm ơn gia đình ông Hoàng  
Văn Thăng đã giúp đỡ, cung cấp thông tin, số liệu cho em trong suốt quá trình  
thực hiện nghiên cứu luận văn.  
Em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình UBND Phường Thịnh Đán –TP  
Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ em trong  
thời gian thực tập tại trang trại.  
Do thời gian nghiên cứu có hạn, và đề tài mang tính mới, luận văn của  
em chắc hẳn không thể tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, em rất mong nhận  
được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc.  
Em xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05 năm 2018  
Sinh viên  
LUÂN VĂN LÝ  
 
ii  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
 
iv  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
BOD  
: Biochemic Oxygen Demand  
: Bộ tài nguyên môi trường  
: Bảo vệ môi trường  
BTNMT  
BVMT  
COD  
: Chemical Oxygen Demand  
: Quy chẩn Việt Nam  
QCVN  
KSH  
: Khí Sinh Học  
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn  
TCVN  
THCS  
UBND  
VAC  
: Tiêu chuẩn Việt Nam  
: Trung học cơ sở  
: Ủy ban nhân dân  
: Vườn ao chuồng  
VSMTNT  
VSV  
: Vệ sinh môi trường nông thôn  
: Vi sinh vật  
 
v
MỤC LỤC  
 
vi  
1
PHẦN I  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Hiện nay sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện đang giữ vai trò chủ  
đạo,sự phát triển của ngành trồng trọt đã góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi  
phát triển và giữ vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.Tuy nhiên việc  
tăng trưởng chăn nuôi một cách nhanh chóng đã gây ra không ít tác động tiêu  
cực đến môi trường do chất thải trong chăn nuôi.Việc tìm giải pháp phù hợp  
để xử lý chất thải sau chăn nuôi trước khi thải ra môi trường là hết sức cần  
thiết cho sự phát triển nông nghiệp bền vững. Ở nước ta, việc nghiên cứu các  
ứng dụng rộng rãi,công nghệ khí sinh học là một trong những giải pháp chủ  
yếu để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường, cung cấp nguồn chất đốt ,tiết  
kiệm năng lượng rất hiệu quả ở các vùng nông thôn. Theo Cục chăn nuôi Bộ  
Nông Nghiệp và Phát Triển nông thôn (NN&PTNT), mỗi năm nghành chăn  
nuôi gia súc gia cầm thải ra khoảng 75 – 85 triệu tấn chất thải, với phương  
thức sử dụng phân chuồng không qua xử lý ổn định và nước thải không qua  
xử lý xả trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng.  
Hiện nay, hình thức chăn nuôi truyền thống như chuồng trại gần nhà,  
thậm chí ở một số nơi nuôi gia súc gia cầm trong nhà, chất thải chăn nuôi  
trược tiếp thải ra môi trường khi chưa qua xử lý, không những gây mùi hôi  
khó chịu, gây ô nhiễm môi trường xung quanh mà còn gây mất vẻ mỹ quan  
môi trường. Phân và nước thải từ các hộ chăn nuôi thải ra môi trường chưa  
qua xử lý trở thành mối đe dọa trực tiếp tới sức khỏe con người và cả vật nuôi  
và đó còn là môi trường lý tưởng cho ruồi nhặng phát triển. Mật độ ruồi  
nhặng cao gây ra những bất tiện trong sinh hoạt, chúng còn là những kí chủ  
trung gian truyền nhiều bệnh truyền nhiễm hết sức nguy hiểm cho con người,  
vật nuôi. Bên cạnh đó, mùi hôi thối của phân gia súc, gia cầm cũng là mối  
   
2
phiền toái đáng kể không những cho chính hộ chăn nuôi mà còn ảnh hưởng  
đến các hộ dân sống gần khu vực chăn nuôi.  
Trước thực trạng đó, để ngành chăn nuôi phát triển hiệu quả và bền vững  
đòi hỏi phải có các biện pháp quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi hữu hiệu.  
Thực tế, có rất nhiều dự án nghiên cứu của nhiều tổ chức, cá nhân về việc giải  
quyết chất thải từ hoạt động chăn nuôi để giảm nguy cơ ô nhiễm cũng như tận  
dụng lại chất thải chăn nuôi làm nguồn nguyên liệu phục vụ cho các hoạt  
động nông nghiệp khác. Trong đó, việc tận dụng chất thải chăn nuôi để tạo ra  
biogas được coi là một biện pháp hiệu quả nhất, không những giảm được  
nguy cơ ô nhiễm, giải quyết được bài toán năng lượng phục vụ cho sinh hoạt  
mà còn là giải pháp kinh tế cho những người dân ở nông thôn. Tuy nhiên,  
trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống đã gặp phải không ít khó khăn  
nên tốc độ mở rộng quy mô còn chậm. Xuất phát từ những yêu cầu trên, em  
tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả bể Biogas Plastic nổi trong  
xử lý chất thải chăn nuôi lợn quy mô hộ gia đình tại Phường Thịnh Đán,  
TP Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên ’’ hướng đến mục tiêu mở rộng quy mô  
và phạm vi áp dụng công nghệ Biogas để xử lý chất thải chăn nuôi, đem lại  
lợi ích kinh tế, nhằm góp phần giải quyết vấn nạn ô nhiễm đang đe dọa môi  
trường, đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững và xây dựng nông  
thôn mới ở địa phương.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài  
1.2.1. Mục tiêu chung  
Đánh giá được hiệu quả xử lý môi trường của bể Biogas Plastic nổi trong  
xử lý chất thải chăn nuôi lợn  
Đánh giá hiệu quả mô hình Biogas đem lại  
Xem xét đề xuất mô hình Biogas hiệu quả cao trong chăn nuôi  
   
3
1.2.2.Mục tiêu cụ thể  
- Đánh giá hiệu quả sử lý nước thải chăn nuôi của bể Biogas Plastic nổi  
tại trại  
- Thu thập số liệu, mẫu nước đem về phân tích và đánh giá hiệu quả sử lý  
của bể Biogas Plastic  
- Học hỏi được những kiến thức khi làm việc tại trang trại để áp dụng đối  
với cá nhân sau này, thu thập số liệu để hoàn thành báo cáo.  
1.3. Yêu cầu của đề tài  
- Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải của bể Biogas tại Trại lợn hộ gia  
đình ông Hoàng văn Thăng  
- Tình hình sử dụng Biogas tại trang Trại  
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử dụng Biogas tại trang trại lợn  
hộ gia đình ông Hoàng văn Thăng  
1.4. Ý nghĩa của đề tài  
- Ý nghĩa học tập và khoa học:  
+ Nâng cao kiến thức và kĩ năng , rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ  
công tác bảo vệ môi trường, vận dụng, phát huy và nâng cao kiến thức đã học.  
+ Kết quả nghiên cứu của để tài là cơ sở khoa học cho những nghiên cứu  
tiếp theo về vật liệu và thiết kế các bể Biogas hiệu quả kinh tế và môi trường  
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho mở rộng  
quy mô và phạm vi áp dụng bể Biogas Plastic nổi trong xử lý chất thải chăn  
nuôi tại địa phương  
   
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Tổng quan về chất thải chăn nuôi  
2.1.1. Định nghĩa vꢀ chất thải chăn nuôi  
Chất thải chăn nuôi là chất thải phát sinh trong quá trình chăn nuôi như  
phân, nước tiểu, thức ăn thừa, xác xúc vật…. Chất thải trong chăn nuôi được  
chia ra làm ba loại: chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí. Trong chất thải  
chăn nuôi có nhiều chất hữu cơ, vô cơ, vi sinh vật và trứng kí sinh trùng có  
thể gây bệnh cho động vật và con người (bộ NN&PTNT,cục nông nghiệp,  
2005)[2].  
2.1.1.1. Ô nhiễm môi trường  
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì “Ô nhiễm  
môitrường là sự đưa vào môi trường các chất thải nguy hại hoặc năng lượng  
đếnmức ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe con người hoặc  
làm suy thoái chất lượng môi trường”.  
2.1.1.2. Ô nhiễm môi trường nước  
- Sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính chất  
của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và  
sinh vật.  
- Theo hiến chương Châu Âu: Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi  
chu yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước làm ô nhiễm nước và  
gây nguy hại cho việc sử dụng, cho nông nghiệp, nuôi cá…  
2.1.2. Nguồn gốc phát sinh chất thải chăn nuôi  
Chất thải rắn bao gồm chủ yếu là phân, xác xúc vật chết, thức ăn dư thừa  
của vật nuôi, vật liệu lót chuồng và các chất thải khác, độ ẩm từ 50% - 83% và  
tỉ lệ NPK cao. Chất thải lỏng (nước thải) có độ ẩm cao hơn thường là từ 93% -  
98% gồm phần lớn là nước thải của vật nuôi, nước rửa chuồng và phần phân  
lỏng hòa tan. Chất thải khí là các loại khí sinh ra trong quá trình chăn nuôi, quá  
trình phân hủy các chất hữu cơ ở dạng rắn và lỏng (Nguyễn Quang  
khải...,2009) [7].  
       
5
2.1.3. Phân loại chất thải chăn nuôi  
- Chất thải rắn:  
+ Phân: Lượng phân gia súc thải ra trong một ngày đêm tùy thuộc vào  
giống, loài, tuổi, khẩu phần thức ăn, trọng lượng gia súc.  
+ Xác xúc vật chết: Xác xúc vật chết do bệnh là nguồn ô nhiễm chính  
cần phải xử lý triệt để nhằm tránh lây lan bệnh cho người và vật nuôi.  
+ Thức ăn dư thừa, vật liệu lót chuồng và các chất thải khác: Loại chất  
thải này có thành phần đa dạng như cám, bột cá, bột thịt, các khoáng chất bổ  
sung, rau xanh, rơ rạ…Vì vậy nếu không được xử lý tốt hoặc không đúng  
phương pháp thì nó sẽ là tác nhân gây ô nhiễm môi trường tác động đến cơ sở  
chăn nuôi.  
- Chất thải lỏng: Trong các loại chất thải của chăn nuôi, chất thải lỏng là  
loại chất thải có khối lượng lớn nhất. Đặc biệt khi lượng nước thải rửa chuồng  
được hòa chung với nước tiểu của gia súc và nước tắm gia súc. Đây cũng là  
chất thải khó quản lý, khó sử dụng. Mặt khác nước thải chăn nuôi có ảnh  
hưởng rất lớn đến môi trường nhưng người chăn nuôi ít để ý đến việc xử lý nó  
- Chất thải khí: Mùi hôi chuồng nuôi là là hỗn hợp khí được tạo ra bởi  
quá trình phân hủy kị khí và hiếu khí của các chất thải chăn nuôi, quá trình  
thối rữa của các chất hữu cơ trong phân, nước tiểu gia súc hay thức ăn thừa sẽ  
sinh ra các khí độc hại và các khí có mùi hôi thối khó chịu. Các khí này có  
mặt thường xuyên và gây ô nhiễm chính, các khí này có thể gây hại đến sức  
khỏe con người và vật nuôi, trong đó NH3, H2S, CH4 được quan tâm nhất. Khí  
NH3 và H2S được hình thành chủ yếu trong quá trình thối rữa của phân, ngoài  
ra NH3 còn được hình thành từ sự phân giải urê của nước tiểu.  
2.1.4. Khả năng gây ô nhiễm của chất thải chăn nuôi  
- Ô nhiễm môi trường không khí: Trong chất thải chăn nuôi luôn tồn tại  
một lượng lớn vi sinh vật hoại sinh. Vi sinh vật hiếu khí sử dụng oxy hòa tan  
phân hủy các chất hữu cơ và tạo ra các chất vô cơ: NO2, NO3, SO3, CO3 quá  
   
6
trình này xảy ra nhanh không tạo mùi thối. Nếu lượng chất hữu cơ có quá  
nhiều vi sinh vật hiếu khí sẽ sử dụng hết lượng oxy hòa tan trong nước làm  
khả năng hoạt động phân hủy của chúng kém, gia tăng quá trình phân hủy  
yếm khí tạo ra các sản phẩm NH3, H2S, CH4, H2, indol…tạo mùi hôi, nước có  
màu đen có váng, là nguyên nhân làm gia tăng bệnh về đường hô hấp, tim  
mạch ở người và động vật(BNN&PTNT,2011)[4].  
- Ô nhiễm đất: Chất thải chăn nuôi khi không được xử lý nhiều nghiên  
cứu cho thấy khả năng tồn tại của mầm bệnh trong đất, cây cỏ có thể gây bệnh  
cho người và gia súc đặc biệt là các bệnh về đường ruột như thương hàn, phó  
thương hàn, viêm gan, giun đũa, sán lá…khi dùng nước thải chưa được xử lí  
người ta thấy rằng có salmonella và trứng kí sinh trùng trong đất ở độ sâu 50  
cm và có thể tồn tại được 2 năm (Nguyễn phước Dân 2007) [5]. Bên cạnh đó  
việc sử dụng qua nhiều chất kháng sinh, chất diệt trùng, chất kích thích sinh  
trưởng sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường sống của người và gia súc.  
- Ô nhiễm nguồn nước: Khi lượng chất thải chăn nuôi không được xử lý  
đúng cách thải vào môi trường quá lớn làm gia tăng hàm lượng chất hữu cơ,  
vô cơ trong nước làm giảm quá mức lượng Oxy hòa tan, làm giảm chất lượng  
nước mặt gây ảnh hưởng tới hệ vi sinh vật nước. Là nguyên nhân tạo nên  
nguồn nước chết (nước đen, hôi thối, sinh vật không thể tồn tại) ảnh hưởng  
đến sức khỏe con người, động vật và môi trường sinh thái. Hai chất dinh  
dưỡng trong nước thải dễ gây nên vấn đề ô nhiễm nguồn nước đó là Nito và  
Photpho. Trong nước thải chăn nuôi có chứa một lượng lớn vi sinh vật gây  
bênh và trứng kí sinh trùng, chúng tồn tại trong nước thải với thời gian là khá  
lâu từ vài tháng cho đến vài năm.  
2.1.5. Ứng dụng của chất thải chăn nuôi  
- Sản xuất phân bón hữu cơ từ phân gia súc: Phân của các loại vật nuôi  
là chất hữu cơ, nếu bón trực tiếp cho cây thì cây rất khó hấp thụ, bên cạnh đó  
phân còn mang nhiều bệnh truyền nhiễm. Nhưng nếu phân được ủ đúng kĩ  
thuật thì các chất hữu cơ sẽ chuyển sang dạng vô cơ khi đó phân sẽ có tác  
dụng tốt hơn.  
 
7
- Làm thức ăn thủy sản: Trong nghề nuôi cá các chuyên gia cũng đưa ra  
các kết luận sau khi nghiên cứu về vấn đề sử dụng chất thải chăn nuôi làm  
thức ăn cho cá: khi nuôi cá chép thì lượng phân của 30 - 45 con lợn đủ cho  
diện tích 1ha mặt ao nuôi; nuôi cá rô phi thì cần 50 - 100 con cho 1ha mặt ao.  
Số phân tối đa có thể dùng cho các ao nuôi cá không được vượt quá 20 tạ/ ha  
mặt nước trên một ngày đêm, để tránh sự quá tải dẫn đến ô nhiễm nguồn nước  
và làm cá chết. Tuy nhiên cần chú ý sau mỗi vụ thu hoạch cá cần tẩy sạch đáy  
ao, phơi khô, tiệt trùng để đảm bảo hiệu quả cho vụ nuôi tiếp theo(Nguyễn  
phước Dân,2007) [5]. Áp dụng mô hình VAC chính là mô hình tận dụng vật  
thải môt cách tối đa.  
- Làm hầm ủ biogas: Một trong những biện pháp xử lý chất thải chăn  
nuôi là ủ biogas. Nguyên lý ủ Biogas dựa trên sự phân hủy yếm khí các hợp  
chất hữu cơ của vi sinh vật yếm khí, hỗn hợp khí sinh ra gồm: NH3, H2S,  
CH4...trong đó CH4 là sản phẩm chủ yếu. Hầm ủ Biogas có các lợi ích: hạn  
chế mùi hôi thối, hạn chế các loài ruồi, muỗi, giun sán, vi sinh vật gây bệnh  
phát triển, góp phần giữ vệ sinh môi trường, vệ sinh phòng bệnh. Cung cấp  
khí sinh học để đun nấu, thắp sáng, chi phí xây dụng phù hợp với khả năng  
của hộ nông dân, hiện được Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí (Ấn phẩm  
,2013)[1].  
2.1.6. Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam  
Theo đánh giá của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO): Châu Á sẽ trở  
thành khu vực sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi lớn nhất. Chăn  
nuôi Việt Nam, giống như các nước trong khu vực phải duy trì mức tăng  
trưởng cao nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và từng bước  
hướng tới xuất khẩu. Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi lợn của nước ta có  
biến động cả về tốc độ phát triển, phân bố lại địa bàn và phương thức sản  
xuất, đồng thời xuất hiện nhiều nhân tố bất ổn như gây ô nhiễm môi trường  
trầm trọng, vệ sinh an toàn thực phẩm và nhiều dịch bệnh mới… Trong giai  
đoạn 2010 – 2017, số đầu lợn trên cả nước có những thay đổi đáng kể, được  
thể hiện qua hình dưới đây. [11]  
 
8
40.00  
35.00  
30.00  
25.00  
20.00  
15.00  
10.00  
5.00  
số lượng lợn nuôi (triệu…  
33.75  
29.07  
27.75  
27.37  
27.06  
26.76  
26.49  
26.26  
-
2010  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
Thg2 -  
2017  
số lượng lợn nuôi (triệu con)  
Hình 2.1: Số lượng lợn ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2017  
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2010-2017  
Số liệu từ biểu đồ cho ta thấy số lượng lợn nuôi trên cả nước có biến  
động đáng kể qua các năm trong giai đoạn 2010 – 2017. Số lượng lợn trên cả  
nước liên tục giảm, năm 2013 số lượng lợn giảm 4% so với năm 2010. Năm  
2014, số lượng lợn nuôi của nước ta là 26,7 triệu con, dự kiến năm 2015 là  
27,1 triệu con (Cục chăn nuôi, 2015). Chăn nuôi lợn ở nước ta cũng có sự  
khác nhau theo các vùng miền, cụ thể như sau  
Năm  
2010  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
Vùng  
Đồng bằng sông Hồng  
Trung Du và miền núi  
phía Bắc  
7301,0 7092,2 6855,2 6759,5 8892,8 6824,8 7414,4  
6602,1 6424,9 6346,9 6328,8 6697,0 6626,4 7175,5  
Bắc Trung Bộ và Duyên  
hải miền Trung  
Tây Nguyên  
5552,9 5253,3 5084,9 5099,4 6799,0 5207,5 5420,6  
1633,1 1711,7 1704,1 1722,3 1551,3 1742,3 1903,3  
2485,3 2801,4 2780,0 2758,8 3004,9 2890,2 3358,5  
Đông Nam Bộ  
Đồng bằng sông Cửu  
Long  
3798,9 3772,5 3722,9 3595,6 5824,6 3470,4 3803,0  
Bảng 2.1: Số lượng lợn phân theo vùng giai giai đoạn 2010 – 2016  
   
9
Số liệu từ biểu đồ cho ta thấy số lượng lợn nuôi trên cả nước có biến  
động đáng kể qua các năm trong giai đoạn 2010 – 2017. Số lượng lợn trên cả  
nước liên tục giảm, năm 2013 số lượng lợn giảm 4% so với năm 2010. Năm  
2014, số lượng lợn nuôi của nước ta là 26,7 triệu con, dự kiến năm 2015 là  
27,1 triệu con (Cục chăn nuôi, 2015). Chăn nuôi lợn ở nước ta cũng có sự  
khác nhau theo các vùng miền, cụ thể như sau:  
Từ bảng cho thấy vùng Đồng Bằng Sông Hồng là khu vực có tình hình  
chăn nuôi phát triển nhất trong cả nước, tiếp đó là Trung Du và miền núi phía  
Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long.  
Tuy nhiên số lượng lợn ở những vùng này đang có chiều hướng giảm từ năm  
2010– 2013. Bên cạnh đó các vùng như Tây Nguyên và Đông Nam Bộ lại có  
xu hướng tăng. Đặc biệt là vùng Đông Nam Bộ tăng tới 11%. Về quy mô  
chăn nuôi lợn ở Việt Nam qua các năm có nhiều biến động. Theo Gautier và  
cộng sự (2009), phần lớn là chăn nuôi nhỏ lẻ trong các hộ nông dân. Loại quy  
mô này (1 – 10 con) chiếm tới khoảng 80% tổng đàn lợn, các hình thức chăn  
nuôi khác với quy mô lớn hơn chỉ mới chiếm khoảng 20%. Trong đó quy mô  
chăn nuôi trung bình (5-10 nái hay 30 – 100 lợn thịt ) chiếm 10%, quy mô  
chăn nuôi khá lớn (20-500 nái hay 100 – 4000 lợn thịt) chiếm 5%, cuối cùng  
là chăn nuôi lớn (trên 500 nái hay trên 4000 lợn thịt) là 5% . Đến năm 2014,  
theo ông Nguyễn Văn Trọng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, chăn nuôi lợn ở  
nước ta phổ biến là quy mô nhỏ, chiếm 70% về đầu con và 60% về sản lượng,  
phân tán trong nông hộ với trên 4 triệu hộ; trong đó chỉ có 1% số hộ nuôi từ  
50 con trở lên, 12,7% số hộ nuôi 10-  
50 con trở lên, 12,7% số hộ nuôi 10-50 con, số hộ nuôi 1-2 con chiếm  
tới 51,8%.[3]  
10  
Tuy nhiên, các năm gần đây xu hướng chăn nuôi lợn theo quy mô trang  
trại đang ngày càng phát triển. Năm 2011 cả nước có 6.267 trang trại chăn  
nuôi,năm 2012 là 8.133 trang trại và đến năm 2013 là 9.206 trang trại. Số  
lượng trang trại chăn nuôi được phân bố ở các vùng khác nhau trên cả nước.  
Cụ thể được thể hiện trong bảng dưới đây.  
Bảng 2.2: Số lượng trang trại chăn nuôi phân theo vùng năm 2016  
Đồng  
bằng  
sông  
Trung du  
và miền  
núi phía  
Bắc  
Bắc trung  
bộ và  
Đồng  
Bằng  
Tây  
Đông  
Vùng  
Duyên hải  
miền Trung  
Nguyên  
Nam Bộ sông Cửu  
Hồng  
Long  
Số lượng  
trang trại  
3.779  
917  
886  
478  
2204  
942  
Nguồn: Tổng cục thống kê chăn nuôi Việt Nam.  
Chăn nuôi theo hướng trang trại sẽ có điều kiện tốt hơn về quy mô và  
mức đầu tư để có thế áp dụng các kỹ thuật tiên tiến nhằm cải thiện năng suất  
sản xuất và nâng cao hiệu quả chăn nuôi. Ngoài ra, chăn nuôi trang trại còn  
tận dụng tốt tiềm năng quỹ đất ở các vùng gò đồi, đất hoang hóa, tạo công ăn  
việc làm tăng thu nhập cho người dân. Việt Nam cần có chiến lược phát triển  
chăn nuôi trong thời kì hiện nay. Ngày 16 tháng 01 năm 2008, thủ tướng  
Chính phủ ra Quyết định số 10/2008/QĐ – TTg về việc phê duyệt “ Chiến  
lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020” . Theo chiến lược này:  
+ Đến năm 2020 ngành chăn nuôi cơ bản chuyến sang sản xuất phương  
thức trang trại, công nghiệp đáp ứng phần lớn nhu cầu thực phẩm đảm bảo  
chất lượng cho tiêu dùng và xuất khẩu.  
+ Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2020 đạt trên 42%,  
trong đó năm 2010 đạt khoảng 32% và năm 2016 đạt 39%.  
+ Đảm bảo an toàn dịch bệnh  
 
11  
+ Đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh thực phẩm, khống chế các bệnh  
nguy hiểm trong chăn nuôi.  
+ Các cơ sở chăn nuôi, nhất là theo phương thức trang trại, công  
nghiệp và giết mổ, chế biến gia súc phải có hệ thống xử lý chất thải, bảo vệ  
môi trường và giảm ô nhiễm môi trường. Cụ thể hơn, Bộ NN & PTNT đã  
ra Kế hoạch phát triển chăn nuôi lợn từ 2016 – 2020 như sau: Đến năm  
2020, tổng đàn heo đạt 28,7 triệu con, tốc đô tăng bình quân hàng năm  
1,07%. Trong đó, đàn heo ngoại và heo lai đạt trên 90%, tổng đàn heo nái  
khoảng 3,0 – 3,5 triệu con. [11]  
2.2. Biogas và công nghệ Biogas trong xử lý chất thải chăn nuôi  
2.2.1. Khái niệm Biogas  
Biogas (khí sinh học) là một loại khí đốt sinh học được tạo ra khi phân  
hủy yếm khí phân thải ra của gia súc và các chất hữu cơ (phụ phẩm nông  
nghiệp). Các chất thải của gia súc và các chất hữu cơ được cho vào hầm kín, ở  
đó các vi sinh vật sẽ phân hủy chúng thành các chất mùn và khí, khí này được  
thu lại qua một hệ thống đường dẫn tới lò đốt, phục vụ sinh hoạt của gia đình.  
Biogas là hỗn hợp khí nhẹ hơn không khí, nhiệt độ bốc lửa khoảng  
700ºC, nhiệt độ ngọn lửa sử dụng biogas khoảng 870ºC. Thành phần của hỗn  
hợp khí như sau:  
- CH4 : 60 - 70%;  
- CO2 : 30 - 40%;  
- Hàm lượng hơi nước khoảng 30 - 160 g/m3 ;  
- Hàm lượng H2S khoảng 4 - 6 g/m3 .  
Phần còn lại là một lượng khí nhỏ N2, H2, CO, NH3,...Trong hỗn hợp khí  
sinh vật ta thấy CH4 chiếm một lượng lớn và là khí được sử dụng chủ yếu để  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 62 trang yennguyen 24060 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiệu quả bể biogas plastic nổi trong xử lý chất thải chăn nuôi lợn quy mô hộ gia đình tại phường Thịnh Đán, tỉnh Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hieu_qua_be_biogas_plastic_noi_trong_xu_l.pdf