Đồ án Xây dựng quy trình nhân giống in vitro cây sùng thảo (Stachys affinis)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ  
MINH  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
XÂY DỰNG QUY TRÌNH NHÂN GIỐNG IN VITRO  
CÂY SÙNG THẢO (STACHYS AFFINIS)  
Ngành:  
CÔNG NGHỆ SINH HỌC  
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC  
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Hoàng Quân  
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thanh Hằng  
MSSV: 1311100026  
Lớp: 13DSH01  
TP. Hồ Chí Minh, năm 2017  
̀ ́ ̣  
Đô an tôt nghiêp  
́
̀
LƠI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan nôi  
sư cua tôi dươi sư hương dân  
tại Trung tâm Công nghệ Sinh học Tp. HCM. Đê  
̣ ̀ ́ ̣  
dung trong đô an tôt nghiêp la công trinh nghiên cưu  
́ ̀ ́  
̀
thưc  
̣
̣
̣
̃ cua ThS. Nguyễn Hoàng Quân – cán bộ kỹ thuật  
̉
̉
́
́
̀
tai đươc  
̣
tiê  
Cây trồng thuộc Trung tâm Công nghệ Sinh Hoc  
t qua co trong nghiên cưu la hoan toan trung thưc  
́
n hanh nghiên cưu thưc  
̣
̀
̀
́
nghiêm  
̣
tai  
̣
phong Thực nghiêm  
̣
̣
Tp.  
̀
HCM. Cac sô  
́
liêu  
̣ ̀  
trach nhiêm vê lơi cam đoan nay.  
̀ ̀  
̣
va kê  
́
̣
.Tôi xin  
̉
́
̀
́
́
̀
̀
̀
hoan toan chiu  
̣
̀
̀
́
Tp. HCM, ngay 20 thang 07 năm 2017  
̀
́
̣ ̣  
Sinh viên thưc hiên  
Nguyễn Thị Thanh Hằng  
̀ ́ ̣  
Đô an tôt nghiêp  
́
̀
LƠI CẢM ƠN  
Qua thời gian làm đề tài tốt nghiệp tại Trung tâm, em xin gửi lời cám ơn đến  
Trung Tâm Công nghệ Sinh Thành Phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện và hỗ trợ trang  
thiết bị giúp em hoàn thành đề tài.  
Em xin gửi lời cám ơn chân thành đến Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Công  
Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là gửi lời cám ơn đến tất cả các thầy cô khoa  
Công nghệ Sinh học – Môi trường – Thực phẩm đã tạo điều kiện tốt nhất cũng như  
dạy bảo và truyền đạt nhiều kiến thức bổ ích giúp em hoàn thành khóa học cùa mình.  
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến TS. Hà Thị Loan – Phó Giám đốc Trung  
tâm Công nghệ Sinh học TP. HCM và ThS. Nguyễn Hoàng Quân đã tận tình hướng  
dẫn và chỉ bảo kiến thức cho em trong suốt thời gian làm đồ án tốt nghiệp.  
Em xin cảm ơn toàn thể anh chị đang làm việc tại Trung tâm và các bạn sinh  
viên cùng làm đề tài tại Trung tâm đã giúp đỡ em trong suốt quá trình làm đề tài.  
Con xin cám ơn ba mẹ đã có công sinh thành và nuôi dưỡng con khôn lớn.  
Cám ơn anh chị em và người thân trong gia đình cùng bạn bè đã luôn ở bên cạnh giúp  
đỡ và luôn cổ vũ tinh thần cho em.  
Em xin chân thành cảm ơn.  
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 7 năm 2017  
Sinh viện thực hiện  
Nguyễn Thị Thanh Hằng  
̀ ́ ̣  
Đô an tôt nghiêp  
́
MỤC LỤC  
̀ ́ ̣  
Đô an tôt nghiêp  
́
̀ ́ ̣  
Đô an tôt nghiêp  
́
̀ ́ ̣  
Đô an tôt nghiêp  
́
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
2,4-D  
2,4,5-T  
ABA  
BA  
2,4 - Dichlorophenoxyacetic acid  
Trichlorophenoxyacetic acid  
Abscisic acid  
Benzyl Adenine  
CNSH  
ĐC  
Công Nghệ Sinh Học  
Đối chứng  
GA  
Gibberellin  
IAA  
3-Indole acetic acid  
3-Indole butyric acid  
Murashige – Skoog  
Napthalene Acetic Acid  
Phenylpropanoid Glycosides  
Thành phố Hồ Chí Minh  
IBA  
MS  
NAA  
PhG  
TP.HCM  
iv  
 
̀ ́ ̣  
Đô an tôt nghiêp  
́
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Việt Nam có một tiềm năng lớn về tài nguyên cây dược liệu, trong số hơn 12.000  
loài thực vật tại Việt Nam thì có gần 4.000 loài có công dụng làm thuốc với vùng phân  
bố rộng khắp cả nước, có nhiều loài dược liệu được xếp vào loài quý hiếm trên thế giới  
như: Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Bách hợp, Thông đỏ, Vàng đắng,  
Hoàng liên ô rô, Hoàng liên gai, Thanh thiên quỳ, Ba gạc Vĩnh Phú,… Theo kết quả điều  
tra và đánh giá tại một số vùng, trồng cây dược liệu đem lại giá trị kinh tế to lớn hơn bất  
kỳ loại cây lương thực, thực phẩm nào (có thể thu nhập trên 100 triệu đồng/ha).  
Tuy nhiên theo báo cáo tháng 9/2016 của Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền (Bộ Y  
tế) cho biết hàng năm, ngành dược Việt Nam sử dụng khoảng 60.000 tấn dược liệu các  
loại, nhưng Việt Nam mới chỉ tự cung cấp được khoảng 20% nguyên liệu để phục vụ  
việc sản xuất thuốc trong nước, còn khoảng 80 - 85% vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài  
(chủ yếu nhập từ Trung Quốc) và mới chỉ có 1.400 tấn dược liệu nhập khẩu có nguồn  
gốc rõ ràng, rất ít so với nhu cầu sử dụng dược liệu hiện nay.  
Cây sùng thảo là một loại cây đã được trồng làm thực phẩm ở nhiều nơi trên thế  
giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp…. Củ sùng thảo giàu dinh dưỡng và chứa nhiều  
hoạt tính sinh học có lợi cho sức khỏe. Các bộ phận của cây và các chiết xuất từ cây sùng  
thảo đã được sử dụng như một phương thuốc cổ truyền điều trị nhiễm trùng, cảm lạnh,  
bệnh tim, bệnh lao và viêm phổi ở Trung Quốc. Các nghiên cứu về các loài cùng chi và  
nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học của Stachys affinnis đã chứng minh chúng chứa  
nhiều hoạt chất thứ cấp có nhiều công dụng như kháng viêm, chống oxy hóa, ngừa loãng  
xương, điều trị ung thư, bệnh tiểu đường,….  
Nắm bắt những cơ sở khoa học thực tiễn và nhu cầu của thị trường, nhóm nghiên  
cứu đã tiến hành thực hiện đề tài: Xây dựng quy trình nhân giống in vitro cây sùng thảo  
(Stachys affinnis).  
2. Ý nghĩa của đề tài  
1
     
̀ ́ ̣  
Đô an tôt nghiêp  
́
• Ý nghĩa khoa học  
- Giúp sinh viên củng cố lại kiến thức đã học và nghiên cứu khoa học.  
- Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học nhằm bổ sung thông  
tin về cây sùng thảo, kỹ thuật nhân giống in vitro cây sùng thảo.  
- Kết quả nghiên cứu có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu  
tiếp theo của cùng đối tượng hoặc một số giống cây có giá trị khác.  
- Biết được phương pháp nghiên cứu một số vấn đề khoa học, xử lý và phân  
tích số liệu, biết cách trình bài một bài báo khoa học.  
• Ý nghĩa thực tiễn  
- Xây dựng quy trình nhân giống cây sùng thảo, tạo ra cây giống có chất lượng  
cao đáp ứng nhu cầu sản xuất tại Trung tâm Công nghệ Sinh học TP.HCM.  
́
3. Đôi tươn  
Đôi tươn  
cung câp tư phong nuôi câ  
tâm Công nghệ Sinh học TP. HCM.  
Pham vi nghiên cưu trong đê  
̣
g va pham vi nghiên cưu  
̣
̀
́
́
̣
g nghiên cưu đươc  
̣
sư dun  
̣
g trong đê  
̀
tai nay la cây sùng thảo vitro  
̉
́
̀
̀
̀
đươc  
̣
́
́
y mô tai  
̣
phong Thực nghiêm  
̣
cây trồng thuộc Trung  
̀
̀
̀
̣
̀
tai nay la tâp  
̣
trung khao sat anh hương cua chất  
̉
̉
́
̉
̉
́
̀
̀
̀
điều hòa sinh trưởng BA, NAA, IBA lên quá trình nhân chồi, tạo rễ của cây sùng thảo  
và khảo sát ảnh hưởng của các loại giá thể: mụn xơ dừa, tro trấu,… đến sự sinh trưởng  
của cây sùng thảo.  
4. Mục đích nghiên cứu  
- Đánh giá sự ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng lên khả năng nhân chồi  
và tạo rễ nhằm thiết lập môi trường thích hợp để nhân nhanh cây sùng thảo trong vi  
nhân giống in vitro.  
- Đánh giá sự ảnh hưởng của giá thể đến sự sinh trưởng của cây sùng thảo ở giai  
đoạn vườn ươm.  
5. Nội dung nghiên cứu  
- Khảo sát ảnh hưởng của BA kết hợp NAA đến khả năng nhân chồi từ đoạn  
thân cây sùng thảo.  
2
     
̀ ́ ̣  
Đô an tôt nghiêp  
́
- Khảo sát ảnh hưởng của IBA đến quá trình tạo rễ của cây sùng thảo.  
- Khảo sát ảnh hưởng của giá thể đến sự sinh trưởng của cây sùng thảo giai  
đoạn vườn ươm.  
6. Phương pháp nghiên cứu  
̉
Cac thi nghiêm  
̣
đươc  
m 3 – 5 nghiêm  
thu thâp đươc xư ly thô  
̣
bô  
́
tri theo kiêu hoan toan ngâu  
̃
nhiên, đơn yê  
thưc thi nghiêm đươc lăp lai  
m SAS 9.4 va chương trinh  
́
u tô  
́
. Mô  
̃
i
́
̀
̀
́
́
thi nghiêm  
̣
gô  
̀
̣
thưc, cac nghiêm  
̣
̣
̣
̣
̣
ba lâ  
̀
n.  
́
́
́
́
́
Cac sô  
́
liêu  
̣
̣
̣
́
ng kê bă  
̀
ng phâ  
̀
n mê  
̀
̉
́
́
̀
̀
MicroSoft Excel 2016®.  
7. Kết quả đạt được  
- Xác định được nồng độ BA thích hợp kết hợp với NAA cho quá trình nhân  
chồi từ đoạn thân cây sùng thảo.  
- Xác định được nồng độ IBA thích hợp cho quá trình tạo rễ cây sùng thảo.  
- Xác định được loại giá thể thích hợp để trồng cây sùng thảo khi trồng cây  
con in vitro ngoài vườn ươm.  
8. Bố cục đồ án  
Kết cấu của đồ án gồm 4 chương:  
Chương 1: Tổng quan tài liệu  
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu  
Chương 3: Kết quả và thảo luận  
Chương 4: Kết luận và kiến nghị  
3
     
̀ ́ ̣  
Đô an tôt nghiêp  
́
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
1.1. Sơ lược về nuôi cấy mô và tế bào thực vật  
1.1.1. Lịch sử phát triển công nghệ nuôi cấy mô và tế bào thực vật  
Nuôi cấy mô và tế bào đã trả qua một lịch sử phát triển lâu dài và được đánh  
dấu bằng những sự kiện chính sau:  
Năm 1665, Robert Hooke quan sát thấy tế bào sống dưới kính hiển vi và đưa  
ra khái niệm tế bào.  
Năm 1838, Matthias Schleiden và Theodore Schwann đề xướng học thuyết tế  
bào.  
Năm 1883, Wilhelm Roux lần đầu tiên lý giải về phân bào giảm nhiễm ở cơ  
quan sinh dục.  
Năm 1902, Haberlandt lần đầu tiên thí nghiệm nuôi cấy mô cây một lá mầm  
nhưng không thành công.  
Năm 1904, Hannig tiến hành các thí nghiệm nuôi cấy phôi đầu tiên ở các loài  
họ Cải Crucifers.  
Năm 1922, Knudson và Bot. Gaz. Cho hạt phong lan nảy mầm in vitro.  
Năm 1924, Blumenthal và cộng sự tiến hành các thí nghiệm nuôi cấy hình  
thành callus tử rễ cà rốt trong môi trường có acid lactic.  
Năm 1925, Knudson L, Bot. Gaz làm hạt phong lan nảy mầm in vitro.  
Năm 1929, Laibach sử dụng nuôi cấy phôi để khắc phục hiện tượng bất hoà  
hợp khi lai ở Linum spp.  
Năm 1934, Kogl và cộng sự lần đầu tiên xác định được vai trò của IAA, một  
phytohormone thực vật đầu tiên thuộc có khả năng kích thích sự tăng trưởng và phân  
chia tế bào.  
Năm 1936, LaRue và Bull đã nuôi cấy phôi các loài cây hạt trần khác nhau.  
Năm 1939, Gautheret, Nobecourt và White lần đầu tiên nuôi cấy mô sẹo thành  
công trong thời gian dài từ mô thượng tầng (cambium) ở cà rốt và thuốc lá.  
4
     
̀ ́ ̣  
Đô an tôt nghiêp  
́
Năm 1941, Overbeek và cộng sự đã sử dụng nước dừa trong nuôi cấy phôi non  
ở cà rốt.  
Năm 1942, Gautheret lần đầu theo dõi sự hình thành chất trao đổi thứ cấp trong  
nuôi cấy mô sẹo thực vật.  
Năm 1944, Skoog lần đầu tiên nghiên cứu sự hình thành chồi phụ từ nuôi cấy  
mô thuốc lá in vitro.  
Năm 1950, Morel lần đầu tiên nuôi cấy thành công cây một lá mầm bằng nước  
dừa.  
Năm 1951, Skoog nghiên cứu sử dụng các hoá chất điều hoà sinh trưởng và  
phát sinh cơ quan.  
Năm 1952, Morel và Martin đã tạo ra cây sạch bệnh virus của 6 giống khoai  
tây từ nuôi cấy đỉnh sinh trưởng, lần đầu tiên thực hiện vi ghép in vitro thành công.  
Năm 1955, Miller và cộng sự đã phát minh cấu trúc và sinh tổng hợp của  
kinetin - một cytokinin đóng vai trò quan trọng trong phân bào và phân hoá chồi ở  
mô nuôi cấy.  
Năm 1957, Skoog và Miller đã khám phá vai trò của tỷ lệ nồng độ các chất  
auxin: cytokinin trong môi trường đối với sự phát sinh cơ quan (rễ hoặc chồi).  
Năm 1962, Murashige và Skoog phát minh ra môi trường nuôi cấy mô tế bào  
thực vật – môi trường MS.  
Năm 1964 – 1998, hàng loạt các công trình thành công trong nuôi cấy mô tế  
bào thực vật như cải tiến môi trường và phương pháp nuôi cấy, chuyển gen để lai tạo  
giống mới, thương mại hóa sản phẩm nuôi cây mô (Dương Tấn Nhựt, 2011).  
1.1.2. Các phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật  
Theo Dương Công Kiên (2003), có một số phương pháp nuôi cấy mô tế bào  
thực vật như:  
1.1.2.1. Nuôi cấy đỉnh sinh trưởng  
Phương pháp thuận lợi có thể đạt được mục tiêu trong nuôi cấy mô tế bào thực  
vật là nuôi cấy đỉnh sinh trưởng (bao gồm mô phân sinh đỉnh và mô phân sinh bên).  
5
 
̀ ́ ̣  
Đô an tôt nghiêp  
́
Sau khi vô trùng, mẫu được nuôi cấy trên môi trường thích hợp. Từ một đỉnh  
sinh trưởng sau một thời gian nuôi cấy nhất định phát triển thành một chồi hay nhiều  
chồi. Sau đó chồi tiếp tục vươn dài hình thành thân, lá, ra rễ để trở thành một cây  
hoàn chỉnh. Đây là một chu trình ngắn nhất và tiện lợi hơn các phương thức nhân  
giống thông thường khác.  
1.1.2.2. Nuôi cấy mô sẹo  
Trong điều kiện môi trường nuôi cấy có chứa nhiều auxin, mô sẹo được hình  
thành. Mô sẹo là một khối tế bào phát triển không có định hướng, thường có màu  
trắng. Trong môi trường phù hợp, mô sẹo có khả năng tái sinh thành cây hoàn chỉnh.  
Nuôi cấy mô sẹo được thực hiện đối với những loài thực vật không có khả năng nhân  
giống đỉnh sinh trưởng, hoặc với các loại mẫu nuôi cấy không thể trực tiếp hình thành  
chồi.  
Cây tái sinh từ mô sẹo có đặc tính giống như cây mẹ và từ một cụm tế bào mô  
sẹo có thể tái sinh cùng một lúc cho nhiều chồi hơn là nuôi cấy đỉnh sinh trưởng, tuy  
nhiên mức độ biến dị tế bào soma rất cao trong quá trình nuôi cấy để tạo mô sẹo.  
1.1.2.3. Nuôi cấy tế bào đơn  
Khối mô sẹo được nuôi cấy trong môi trường lỏng và được đặt tên máy lắc có  
tốc độ điều chỉnh thích hợp. Khối mô sẹo dưới tác dụng của cơ học và các hóa chất  
hỗ trợ tách ra nhiều tế bào riêng rẽ gọi là tế bào đơn. Tế bào đơn được lọc và nuôi  
cấy trong môi trường đặc biệt và tăng sinh khối. Hệ thống nuôi cấy tế bào đơn giống  
như hệ thống nuôi cấy vi sinh. Với các cơ chất phù hợp được bổ sung môi trường, tế  
bào có khả năng sản xuất các chất có hoạt tính sinh học (alkloid, steoid,…).  
Sau một thời gian nuôi cấy kéo dài trong môi trường lỏng tế bào đơn được tách  
ra và trải trên môi trường thạch, tế bào đơn được phát triển thành từng cụm tế bào mô  
sẹo khi môi trường có auxin hoặc có thể tái sinh thành cây hoàn chỉnh trên môi trường  
có tỷ lệ cytokinin/auxin thích hợp. Sử dụng các tế bào đơn để xử lý đột biến bằng tia  
phóng xạ, hóa chất, có ý nghĩa lớn trong chọn tạo giống cây trồng.  
6
̀ ́ ̣  
Đô an tôt nghiêp  
́
1.1.2.4. Nuôi cấy tế bào trần  
Tế bào trần thực chất là tế bào đơn được tách lớp vỏ cellulose, có sức sống và  
duy trì đầy đủ các chức năng sẵn có. Tế bào trần có thể tách trực tiếp từ các bộ phận  
của thực vật (lá, rễ) bằng cơ học (nghiền mẫu và enzyme) trong điều kiện nuôi cấy  
thích hợp, tế bào trần có khả năng tái sinh màng tế bào, tiếp tục phân chia và tái sinh  
thành cây hoàn chỉnh (tính toàn năng di truyền). Khi mất thành tế bào, hai tế bào trần  
có khả năng dung hợp với nhau tạo ra tế bào lai, đặc tính này cho phép cải thiện cây  
trồng. quá trình dung hợp tế bào trần có thể thực hiện trên hai đối tượng cùng loài  
hoặc khác loài (khoai tây, cà chua).  
Ở trạng thái không có màng tế bào bao bọc, tế bào trần dễ dàng hấp thu các  
AND ngoại lai mang các đặc điểm di truyền khác nhau: cải thiện đặc tính kháng bệnh,  
năng suất và chất lượng cây trồng. Hiện nay kỹ thuật tách và nuôi cấy tế bào trần  
đang được nghiên cứu và hoàn thiện .  
1.1.2.5. Nuôi cấy hạt phấn  
Nuôi cấy bao phấn là kỹ thuật nuôi cấy in vitro. Bao phấn chứa các bào tử hoặc  
hạt phấn chưa chín nuôi trong môi trường dinh dưỡng xác định nhằm mục đích tạo  
cây đơn bội. Sau đó dùng colchicin lưỡng bội hóa tạo thành cây lưỡng bội. Nuôi cấy  
bao phấn được ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả trong việc tạo ra các dòng, giống  
thuần ở các cây tự thụ phấn vì đã rút ngắn được thời gian tạo ra giống mới. Nuôi cấy  
bao phấn tạo giống mới được ứng dụng thành công ở một số loài cây như: lúa mì, lúa  
nước, thuốc lá, ngô,…  
1.1.2.6. Nuôi cấy protoplast  
Nagata và Takebe (1930) đã thành công trong việc làm cho các protoplast tách  
từ mô thuốc lá tái tạo vỏ cellulose, phân chia và tạo nên một huyền phù tế bào trong  
môi trường lỏng. Những năm gần đây kỹ thuật nuôi cấy tế bào trần đang mở ra nhiều  
triển vọng trong nghiên cứu di truyền soma, cải tạo, phục tráng và tạo giống cây mới  
ở thực vật bậc cao nói chung. Phương pháp này được ứng dụng thành công trên nhiều  
đối tượng khác nhau. Năm 1971, Takebe đã nhận được cây Thuốc lá nhị bội từ tế bào  
trần, sau đó Ohiama và Nitch nhận được cây thuốc lá đơn bội từ tế bào trần đơn bội.  
7
̀ ́ ̣  
Đô an tôt nghiêp  
́
Đến nay, kỹ thuật nuôi cấy và tái sinh protoplast đã hoàn thiện đối với cây hai lá mầm  
cũng như nhiều loại cây một lá mầm và trở thành một trong những công cụ quan trọng  
trong nghiên cứu di truyền nói chung và di truyền tế bào chất nói riêng cũng như  
trong công tác giống cây trồng .  
1.1.3. Các giai đoạn trong quy trình nhân giống in vitro  
Cho tới nay việc sử dụng phương pháp nhân giống in vitro đã được áp dụng  
cho nhiều loại cây trồng (trên 400 loài). Giáo sư Murashige (1974) đã chia quy trình  
nhân giống in vitro làm ba giai đoạn và một giai đoạn tiếp sau in vitro:  
1.1.3.1. Tạo vật liệu nuôi cấy khởi đầu in vitro  
Giai đoạn này là bước thuần hoá vật liệu nuôi cấy. Các mẫu đã được khử trùng  
và được nuôi cấy trong môi trường thích hợp để tạo ra các chồi mới. Giảm tỷ lệ mẫu  
nhiễm bệnh, tăng khả năng tái sinh có vai trò quan trọng ở giai đoạn này. Theo Yildiz  
(2012), mô lấy từ cây non có khả năng tái sinh cao hơn từ cây trưởng thành. Giai  
đoạn này thường kéo dài từ 4 – 6 tuần.  
1.1.3.2. Nhân nhanh chồi, cụm chồi in vitro  
Là giai đoạn then chốt của toàn bộ quá trình nhằm tạo ra hệ số nhân cao nhất.  
Ở giai đoạn này các chồi được kích thích phát sinh thành nhiều chồi, mầm nhằm  
cung cấp cho các lần cấy chuyển tiếp theo. Hệ số nhân phụ thuộc nhiều vào vai trò  
của các loại phytohoocmon (thường là cytokynin).  
1.1.3.3. Tạo cây hoàn chỉnh, huấn luyện cây con  
Tạo cây hoàn chỉnh: Các chồi in vitro đủ tiêu chuẩn được chuyển sang môi  
trường tạo rễ để tạo ra cây giống in vitro hoàn chỉnh với đầy đủ thân, lá, rễ. Trong  
giai đoạn này, nồng độ cytokynin được giảm xuống và tăng nồng đô auxin nhằm  
kích thích sự hình thành rễ.  
Huấn luyện cây con: Là giai đoạn chuấn bị cho cây con chuyển ra ngoài hệ  
thống vô trùng khi đã đạt kích thước nhất định.  
1.1.3.4. Chuyển cây ra trồng ngoài điều kiện tự nhiên  
Đây là giai đoạn chuyển cây in vitro từ trạng thái sống dị dưỡng sang sống  
hoàn toàn tự dưỡng và thích nghi với điều kiện tự nhiên (Hazarika, 2003). Sự biến  
8
 
̀ ́ ̣  
Đô an tôt nghiêp  
́
động của các yếu tố như: thời tiết, đất đai, sâu bệnh,… gây nhiều khó khăn trong  
việc đưa cây in vitro ra trồng ngoài tự nhiên.  
Như vậy, cả bốn giai đoạn trong quy trình nhân giống in vitro đều có vai trò  
quyết định đến khả năng ứng dụng thành công các quy trình nhân giống in vitro vào  
thực tiễn. Tuy nhiên, đối với cây hoa chuông do toàn thân được phủ một lớp lông tơ  
dày, thân lá chứa nhiều nước nên giai đoạn tạo vật liệu khởi đầu gặp nhiều khó khăn  
(số lượng mẫu nhiễm và chết rất cao). Vì vậy, để tăng hiệu quả của giai đoạn này  
cần lựa chọn được hóa chất khử trùng, thời gian khử trùng và cơ quan sinh dưỡng  
đưa vào nuôi cấy.  
1.1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nuôi cấy mô thực vật  
1.1.4.1. Sự lựa chọn mẫu cấy  
Theo Mantell và cộng sự (1985) mẫu cấy thích hợp nhất cho nuôi cấy mô phải  
có mô phân sinh hay những tế bào có khả năng biểu hiện tính toàn năng. Mô non như  
đỉnh chồi nách, chồi ngọn hay chồi bất định sẽ tái sinh tốt hơn mô già của cùng một  
cây (Nguyễn Quang Thạch, 2001). Thời vụ và giai đoạn sinh trưởng của cây mẹ có  
ảnh hưởng hoàn toàn khác nhau tới khả năng tái sinh, phát sinh hình thái của mô nuôi  
cấy (Mamaril và Lopez, 1997).  
1.1.4.2. Khử trùng mô thực vật  
Các mô cấy hầu hết là các bộ phận khác nhau của thực vật như hạt giống, lá,  
rễ, thân, củ,… tùy theo sự tiếp xúc của môi trường bên ngoài, các bộ phận này chứa  
ít hay nhiều vi khuẩn và nấm. Để chuyển mô thực vật từ môi trường tự nhiên vào  
môi trường nuôi cấy in vitro, các mô thực vật phải trải qua giai đoạn khử trùng để  
loại bỏ hết các nguồn tạp nhiễm (Bhojwani và Razdan, 1996)  
Khử trùng mẫu cấy là một việc làm khó vì mẫu sống không thể khử trùng bằng  
nhiệt độ cao mà phải giữ được bản chất sinh học của nó. Do đó mẫu cấy thực vật phải  
được khử trùng bằng dung dịch khử trùng. Các dung dịch khử trùng thường dùng là  
hypochlorite calcium, hypochlorite sodium, oxy già,… Các mẫu cấy sau khi chọn  
phải rửa phải ngâm rửa mẫu bằng xà phòng dưới dòng chảy rồi mới cho vào ngâm  
trong dung dịch khử trùng. Hiệu quả xử lý các chất phụ thuộc vào thời gian, nồng độ  
9
 
̀ ́ ̣  
Đô an tôt nghiêp  
́
và khả năng xâm nhập vào các khe của tế bào và khả năng đẩy hết bọt khí trên bề mặt  
các mô cấy. Để tăng tính linh động và khả năng hoạt động của các chất khử trùng  
trước tiên người ta thường ngâm tế bào mô thực vật trong cồn 70o trong 30 giây, sau  
đó mới xử lý dung dịch diệt khuẩn.  
Việc xử lý thành công nguồn gây nhiễm phần lớn phụ thuộc vào kỹ thuật xử  
lý trong nuôi cấy vô trùng. Các nguồn gây nhiễm phần lớn là bụi tóc, tay, quần áo vì  
vậy trong khi cấy phải rửa tay bằng xà phòng, lau cồn 70o tới khuỷa tay,…  
Bảng 1.1. Nồng độ và thời gian sử dụng của một số chất khử trùng  
Chất khử trùng  
Nồng độ (%) Thời gian xử lý (phút)  
Hiệu quả  
Hypochorite calcium  
Hypochorite sodium  
Hydro peroxide  
Nước bromie  
9 – 10  
0,5 - 5  
5 – 30  
5 – 50  
5 – 15  
2 – 10  
2 – 10  
30 – 60  
Rất tốt  
Rất tốt  
10 – 12  
1 – 2  
Tốt  
Rất tốt  
HgCl2  
0,1 – 1  
Trung bình  
Khá tốt  
Chất kháng sinh  
4 – 50 mg/l  
1.1.4.3. Carbon và nguồn năng lượng  
Mô và tế bào thực vật nuôi cấy in vitro sống chủ yếu theo phương thức dị  
dưỡng, vì vậy cần phải bổ sung nguồn carbon vào môi trường nuôi cấy để cung cấp  
năng lượng (Nguyễn Quang Thạch, 2001). Hai loại đường thường được sử dụng là  
sucrose và glucose nhưng hiện nay sucrose được sử dụng phổ biến hơn. Nồng độ  
sucrose thay đổi từ 2 – 3 % hoặc cao hơn tùy thuộc vào giống, tuổi mẫu cấy, giai đoạn  
sinh trưởng và yêu cầu thí nghiệm (Laneri; Franconi; Altavista, 1990).  
10  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 88 trang yennguyen 18300 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đồ án Xây dựng quy trình nhân giống in vitro cây sùng thảo (Stachys affinis)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_an_xay_dung_quy_trinh_nhan_giong_in_vitro_cay_sung_thao_s.pdf